Biện pháp xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật - Pdf 39

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây tình hình người chưa thành niên (NCTN) không được quản lý,
bảo vệ tốt, sa ngã thành nạn nhân của vi phạm pháp luật (VPPL) hoặc trở thành người VPPL
đã trở nên phổ biến hơn. Từ năm 2006, cả nước đã có hơn 2,6 triệu trẻ em cần được bảo vệ
đặc biệt. Trong số đó, trẻ em bị lạm dụng, bị bóc lột và trẻ em lang thang cơ nhỡ; trẻ em vi
phạm pháp luật; bị lôi cuốn vào các hành vi phạm tội... Tình hình NCTN VPPL, tái VPPL gia
tăng cho thấy đạo đức, lối sống xuống cấp, lệch chuẩn của một bộ phận trẻ em đang trở thành
nỗi lo của gia đình và xã hội đã phản ánh đòi hỏi của thực tiễn phải được giải quyết kịp thời.
Bên cạnh đó, các biện pháp xử lý hành chính (BPXLHC) đối với NCTN VPPL tiếp
tục được ghi nhận tại Luật XLVPHC, nhưng vẫn còn những vấn đề bất cập cần nghiên cứu
hoàn thiện.
Theo Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em và pháp luật Việt Nam luôn xem
NCTN là những nhóm đối tượng yếu thế và dễ bị tổn thương cần được chăm sóc và đối xử
đặc biệt. Đây cũng là một trong các quyền con người, quyền công dân của NCTN được ghi
nhận tại Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến hạn chế và tước bỏ tự do
của NCTN. Thực tế đến thời điểm hiện nay chưa có công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ
thống và chuyên sâu các vấn đề về BPXLHC đối với NCTN VPPL; nhất là những công trình
nghiên cứu tiếp cận theo hướng hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới
nhằm tăng cơ hội chia sẻ kinh nghiệm và yêu cầu nội địa hóa những cam kết quốc tế về quyền
trẻ em trong lĩnh vực này. Do đó, việc nghiên cứu đề tài Biện pháp xử lý hành chính đối với
người chưa thành niên vi phạm pháp luật nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý và giải pháp bảo vệ
quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013 đối với NCTN bị áp dụng
BPXLHC là yêu cầu cần thiết và cấp thiết.
2 C



2

s


thu t nghiên c u

Lý thuyết nền tảng của luận án là nhận thức luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật hình sự, hành
chính của Nhà nước về xử lý, quản lý và giáo dục NCTN VPPL. Cụ thể, đề tài được xây dựng
dựa trên nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu quan sát thực nghiệm từ góc độ mở rộng cơ sở lý
luận về cấu thành VPPL của NCTN bị áp dụng BPXLHC; phân t ch đánh giá một số quan
điểm, quan niệm của các nhà khoa học trong và ngoài nước về lĩnh vực xử lý NCTN VPPL,
tìm ra những vấn đề tương đồng, khác biệt và giá trị kế thừa. Làm rõ tính chất, đặc điểm
VPPL của NCTN cũng như ản chất, đặc điểm của các BPXLHC và cơ sở pháp lý của việc áp
dụng. Theo đó, chỉ ra vai trò của BPXLHC và những VPPL thuộc đối tượng áp dụng của
chúng là những phạm trù pháp lý với đầy đủ mặt tích cực và tiêu cực mà chúng đã thể hiện ở
những quy phạm thực định cũng như ộc lộ trên thực tiễn đời sống. Mục tiêu chủ yếu của đề
tài là hướng đến hoàn thiện hệ thống lý luận pháp lý và mô hì
ù ợp cho
NCTN VPPL thuộc đố ợng áp dụng các BPXLHC nêu trên.
2

c gi thu t nghiên c u

+ Các chế định luật liên quan trong xử lý NCTN VPPL còn chồng chéo, trùng lắp
giữa BPXLHC và biện pháp tư pháp của Luật Hình sự;
+ VPPL của NCTN bị áp dụng BPXLHC hầu hết là những hành vi phạm tội hình sự,
một số ít là vi phạm hành chính nhiều lần nhưng không thể xử lý hình sự cũng không thể xử
phạt hành chính. Chúng là một phạm trù pháp lý có tính chất và đặc điểm riêng biệt đã xuất
hiện trên thực tế từ trước nay nhưng chưa được luật hóa.
+ BPXLHC là chế định luật “đặc biệt” có ản chất trừng phạt mang tính hình sự
nhằm xử l các đối tượng PPL “đặc biệt” nêu trên. Thực tế áp dụng những năm qua đã ộc
lộ nhiều bất cập và sẽ còn phát sinh thách thức mới trong thời gian tới.

điều tra, luận án sử dụng phương pháp định lượng mà chủ yếu là kiểm dịch lý thuyết, sử dụng
mô hình thực chứng luận1 kết hợp với các thủ pháp thống kê, phân tích và phỏng vấn sâu làm
sáng tỏ cơ sở khoa học của giả thuyết nghiên cứu, rút ra kết luận, chỉ ra những vấn đề còn tồn
tại. Cụ thể, sàng lọc nguồn từ tư liệu, báo cáo của các cơ quan quản l nhà nước, khảo sát
bằng 132 bảng hỏi đối với Chủ tịch UBND, Cán bộ Thương inh – xã hội, Chuyên viên Tư
pháp cấp xã và Cảnh sát khu vực về nhận thức và đánh giá đối với các BPXLHC (53 phiếu
của biện pháp Đ TGD và 79 phiếu của biện pháp GDTXPTT). Nghiên cứu văn ản, tài liệu
về quy trình lập hồ sơ và ản tự thuật của các em theo cách thức lựa chọn ngẫu nhiên 120 hồ
sơ NCTN PPL tại quận 2 Tp.HCM thuộc diện áp dụng BPXLHC ở thời điểm thực hiện Pháp
1

Phương pháp luận thực chứng: đại diện tiêu biểu là Comte, Durkheim;
- Auguste Comte (1798 - 1857) nhà triết học Pháp, sáng lập hệ nguyên tắc của xã hội học và các học thuyết của thực
chứng. Comte là một ảnh hưởng lớn đến các nhà tư tưởng xã hội như Karl Marx , John Stuart Mill và George Eliot ở
thế kỷ 19. (Nguồn: Comte, A . Một cái nhìn tổng quát về th c ch ng [Discours sur l'Esprit positif 1844] London,
1856, Internet Archive).
-Emile Durkhem(1858 - 1917) nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp, đặt nền móng xây dựng chủ nghĩa chức năng và
chủ nghĩa cơ cấu; đã góp công lớn trong sự hình thành bộ môn xã hội học và nhân chủng học. Theo Durkheim, việc
giải th ch đầy đủ một sự kiện xã hội được tiến hành theo trình tự: trước là đi tìm “nguyên nhân tác động gây ra hiện
tượng ấy”, sau khi tìm được nguyên nhân rồisẽ tìm “chức năng mà hiện tượng ấy thực hiện” trong xã hội (Nguồn:
Emile Durkhem, Các quy tắc của phư ng ph p xã hội học. Nxb.Trí thức 2012).
- Theo Phương pháp luận thực chứng, một nghiên cứu xã hội học thực nghiệm đ ch thực phải xuất phát từ việc xây
dựng giả thuyết và kiểm chứng giả thuyết đã xác định. Xã hội học thực nghiệm không nhất thiết là cứ phải điều tra,
khảo sát thực tế rồi trình bày bảng biểu, số liệu theo kiểu mô tả thực trạng và kết thúc bằng cách nêu các "kiến nghị,
giải pháp". Có thể nâng cao trình độ, chất lượng tri thức xã hội học thông qua cơ chế tổng - tích hợp các yếu tố lý
thuyết và yếu tố quan sát, qua việc khai thác mối quan hệ hữu cơ giữa lý thuyết với phương pháp.
ụ, theo
Durkheim, quy tắc cơ ản và quan trọng nhất của phương pháp xã hội học là "coi các sự kiện xã hội như là các sự
vật." (Nguồn: Lê Ngọc Hùng, “Xã hội học: Vấn đề nâng cấp và nguyên lý phát triển tri thức”, Tạp chí Xã hội học,
tháng 12/2005).

vấn đề về NCTN VPPL dựa trên các kỹ năng, tri thức phổ thông kết quả nghiên cứu thực
nghiệm của các ngành khoa học xã hội liên quan như tâm l học tội phạm, tâm lý học trẻ em,
giáo dục học và xã hội học.4

2

Trong thời gian từ năm 2006 – 2013, tác giả làm Trường phòng Tư pháp và thường trực Hội đồng tư vấn áp dụng
các BPXLHC tại quận 2, Tp.HCM. Số hồ sơ nêu trên là tài liệu nghiên cứu để xét duyệt và được ghi chép trong quá
trình công tác.
3
Eysenck (Eysenck Peronality Inventory – EPI).GS tâm lý học người Anh H.J.Eysenck (1947) đã phân t ch các tài
liệu nghiên cứu ở 700 người lính yếu thần kinh. Ông đã phát hiện có 2 nhân tố chính (trong 39 biến số được phân
tích) : tính thần kinh (dễ bị kích thích hay ổn định) và t nh hướng ngoại (hay hướng nội), ký hiệu N và I. Từ đó, ông
và các cộng sự đã vạch ra rằng: đó là 2 thông số cơ ản của cấu trúc nhân cách.
4
Đặng Thanh Nga, Đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên có hành vi phạm tội, luận án tiến sĩ năm 2007 tại
Viện Tâm lý học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam ;
- Kỷ yếu hội thảo khoa học “Tâm l học, giáo dục học trong thời kỳ đổi mới: Thành tựu và triển vọng”, Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IV Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam, tháng 12/2006, Hà Nội.


5

3. Mục đíc

ệm vụ của luận án

3.1. Mục đích nghiên c u
Làm rõ những vấn đề còn bất cập về cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các BPXLHC
đối với NCTN PPL. Qua đó, đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống tư

- Phạm vi không gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu, tổng quát một số tài liệu, công
trình nghiên cứu và các định chế pháp lý ở những quốc gia phát triển nhằm so sánh điểm
tương đồng và khác biệt với định chế pháp lý ở Việt Nam về xử l NCTN PPL, nhưng
không đi sâu nghiên cứu cơ sở nhận thức và thực tiễn xử lý NCTN VPPL ở các quốc gia đó.


6

- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận án khảo sát chủ yếu quá trình và thực tiễn áp
dụng các BPXLHC đối với NCTN VPPL từ sau khi có Pháp lệnh XL PHC năm 2002 đến
năm 2012 và tình hình áp ụng biện pháp nàyở Tp.HCM và một số tỉnh, thành phố sau ngày
có hiệu lực theo Luật XLVPHC (từ 01/7/2014).
5. Nhữ

đó

ó mới của luận án

- Xây dựng cơ sở lý luận về bản chất, đặc điểm của NCTN VPPL thuộc đối tượng áp
dụng các BPXLHC và bản chất, đặc điểm của các biện pháp đó. Làm rõ các yếu tố đặc thù và
yêu cầu khách quan cần được h p điển hóa.
- Nghiên cứu thực trạng nhằm chỉ ra nguyên nhân bất cập và dự báo những thách thức
mới tiếp tục phát sinh trong cơ chế áp dụng các BPXLHC đối với NCTN VPPL.
- Làm rõ sự trùng lặp giữa các BPXLHC của Luật XLVPHC và các biện pháp tư
pháp của BLHS, đề xuất hợp nhất, cấu trúc lại thành Luật về các biện ph p tư ph p.
- Kiến nghị xây dựng tiêu chí pháp lý về cấu thành VPPL của NCTN.
- Đề xuất xây dựng mô hình Ủy ban quốc gia Thanh thi u niên.
- Đề xuất mô hình bổ trợ tư pháp với cơ chế “mở” về Thẩm phán h p đồng trong hệ
thống Tòa án Thanh thi u niên chuyên trách, có chức năng xử lý trách nhiệm hình sự, hành
chính và áp dụng biện pháp tư pháp đối với NCTN VPPL.

4. Vấn đề hoàn thiện pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đối với người
chưa thành niên vi phạm pháp luật.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐỀ TÀI
Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài được tổng quan theo thứ tự như sau: (1) Tình
hình nghiên cứu ở nước ngoài. (2) Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam. (3) Đánh giá tổng quan
tình hình nghiên cứu.
1.1. Tình hình nghiên cứu ở

ớc ngoài

Hầu hết các học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu lĩnh vực pháp luật đối với NCTN ở
các vấn đề liên quan đến “quyền trẻ em”, ghi nhận khái lược các công trình tiêu iểu, như sau:
- Sách chuyên khảo Juvenile Crime – Juvenile Justice của iện nghiên cứu khoa học
thuộc iện y học Hoa ỳ là ấn phẩm vận động vì công lý trẻ em: xét xử không công khai;
không ị tuyên là có tội mà là phạm tội ành cho NCTN. Công trình này cũng phản ánh
những thủ tục còn bất cập của Tòa án TN, đó là: (i) iệc xét xử bởi một thẩm phán mà
không có Ban Hội thẩm có thể ảnh hưởng đến kết quả xét xử (tương tự thủ tục một Thẩm
phán xét quyết định Đ TGD theo Luật XLVPHC Việt Nam). (ii) Vấn đề đại diện theo pháp
luật của NCTN. Nếu bị xử tại Tòa án ành cho người thành niên, NCTN có quyền được đại
diện bởi người bào chữa. Nhưng phần lớn các tiểu bang lại cho phép NCTN được “quyền tự
mình từ bỏ quyền có người bào chữa” mà không có tư vấn pháp l trước khi đưa ra quyết
định. Thực tế đó không phù hợp với quan điểm cho rằng NCTN là khác biệt, do vậy phải được
đối xử khác biệt với người thành niên. Các nghiên cứu cho thấy NCTN không có khả năng
như người thành niên để có thể từ bỏ quyền của mình một cách “có hiểu biết và thông minh”
(knowledgeable and intelligent). (iii) Bên cạnh chế tài hình sự, hệ thống tư pháp NCTN còn
áp dụng các biện pháp xử lý khác, bao gồm: quản chế, phục vụ cộng đồng hoặc vào trường
Cải huấn (alternative school). Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng thực chất đó là các chế tài trừng
phạt, không phải vì mức độ VPPL nghiêm trọng của NCTN mà mục đ ch nhằm ngăn chặn
NCTN tiếp tục tham gia vào các hành vi phạm tội như người lớn. Nhưng vấn đề ở chỗ, ù nơi

việc thường xuyên với nhóm NCTN có nguy cơ, đã đóng góp, chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức
ở quốc gia và khu vực của họ.

1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
(i) Nhóm nghiên c u về c s lý luận
- Giáo trình Luật hành chính Việt Nam và bài viết “Một số vấn đề đổi mới pháp
luật vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay” (2009) của tác giả Nguyễn Cửu Việt, nhận
định BPXLHC là biện pháp cưỡng chế hành ch nh đặc biệt.
Tác giả ũ Thư có công trình Ch tài hành chính - lý luận và th c tiễn (2000),
cho rằng BPXLHC là biện pháp cưỡng chế “có bản chất hình sự hoặc gần hình sự hơn là
hành chính”.
Tác giả Hoàng Thị Kim Quế với bài viết "Về các BPXLHC khác: thực trạng và
định hướng hoàn thiện” (2008), nêu lên vấn đề bất cập của BPXLHC là biện pháp cưỡng
chế không o cơ quan xét xử áp dụng. Nghiên cứu c B X H h c theo qu định của
ph p uật Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Hà (2011), về vai của BPXLHC trong việc
giáo ục, cải tạo cho người phạm pháp.
(ii) Nhóm nghiên c u c ch , thủ tục th c hiện

5

Giảng viên Trường Luật Thomas Jefferson.


9

Tác giả Nguyễn Ngọc Bích có công trình Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành
chính với người chưa thành niên (2003), cho rằng phải tăng cường tính nghiêm khắc cần
thiết đối với NCTN.
Viện Khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp có công trình“
s lý luận và th c

của NCTN và các chương trình phục hồi công l cho NCTN PPL. Tăng cường trách
nhiệm gia đình, nhà trường, xã hội.
b) Nghiên cứu khoa học trong nước liên quan đề tài, đã tiếp cận các vấn đề về
hoàn thiện cơ sở pháp l và cơ chế áp ụng BPXLHC. Tạo điều kiện kế thừa cho luận án
về một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật đối với NCTN. Tuy
nhiên, còn một số vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu đầy đủ hơn về cơ sở l luận
và thực tiễn từ giác độ của luận án này. Cụ thể: (i) Chưa có công trình nào đề cập một cách
trực tiếp đến nội ung ch nh của luận án: Biện ph p xử hành chính đối với người chưa
thành niên vi phạm ph p uật. (ii) Các công trình nghiên cứu liên quan đến các BPXLHC
chủ yếu về hình thức các iện pháp, nhưng chưa quan tâm cơ chế thay thế. Phạm vi liên
quan hệ thống tư pháp NCTN rất rộng, nên các vấn đề được đề cập còn ở giai đoạn “xới”
lên những yêu cầu, chưa đủ lượng thông tin và tính nghiên cứu hệ thống. Do đó, trên cơ sở


10

lý thuyết nền tảng đã nêu ở Phần mở đầu (mục 2.1.2, tr.4), khung thi t k nghiên c u đề
tài bao gồm:
Th nhất, nghiên cứu bản chất, đặc điểm VPPL của NCTN thuộc đối tượng áp
dụng BPXLHC, với tư cách là một phạm trù pháp lý – là vấn đề chưa được nghiên cứu
hoặc bình luận nào đề cập; Th hai, làm rõ bản chất, đặc điểm của các BPXLHC đối với
NCTN VPPL – là góc độ tuy có được chú ý ở một số nghiên cứu nhưng mới ở tầm mức
nêu vấn đề; Th ba, nghiên cứu mối tương quan giữa chế định BPXLHC và NCTN VPPL
thuộc đối tượng áp dụng của chúng cùng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, giáo
dục, liên quan đến sự tăng trưởng VPPL ở NCTN – là nội dung hoàn toàn mới của đề tài.
Th tư, nghiên cứu tình hình thực trạng trước và sau khi có Luật XL PHC, trên sơ sởkết
quả khảo sát, bản hỏi, phỏng vấn... Qua đó, đánh giá khả năng tiếp tục duy trì, loại bỏ hay
sửa đổi, thay thế định chế khác nhằm phù hợp yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc
tế trong điều kiện mới. Vấn đề này có đề cập trong quá trình dự thảo Luật XLVPHC và
cũng đã được luật sửa đổi. Tuy nhiên, việc sửa đổi các BPXLHC còn chưa toàn iện và

về người thành niên của Hiến pháp năm 2013 (Điều 27) và quy định về NCTN của Bộ luật
Dân sự (Điều 20), Luật XLVPHC và các luật hiện nay cần ghi nhận rõ: Người chưa thành
niên/vị thành niên à người dưới 18 tuổi.
2.1.1.2. Khái niệm vi phạm pháp luật
Hoạt động thực tiễn của con người thường xảy ra ở một trong hai tình huống cụ
thể: hành động và không hành động h p pháp hoặc hành động và không hành động bất
h p pháp. Hành động và không hành động bất hợp pháp là làm trái với yêu cầu của pháp
luật, là dấu hiệu tiên quyết để xác định một hành vi là VPPL và là cơ sở phát sinh trách
nhiệm pháp lý; có những dấu hiệu bắt buộc: hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có
năng c trách nhiệm pháp lý th c hiện, xâm hại các quan hệ xã hội đư c pháp luật b o
vệ.
2.1.2. Khái niệm, đặc điểm vi phạm pháp luật của người chưa thành niên bị áp
dụng biện pháp xử lý hành chính
2.1.2.1. Khái niệm vi phạm pháp luật của người chưa thành niên bị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính
a) Về chủ thể: NCTN là chủ thể VPPL trong một số quan hệ pháp luật cụ thể. Luật
XLVPHC, một NCTN ình thường và phải từ đủ 12 tuổi trở lên mới có thể trở thành chủ
thể PPL hành ch nh; BLHS quy định độ tuổi tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự là
từ đủ 14 tuổi trở lên, như vậy, NCTN là một loại chủ thể V
có điều kiện (cũng là đặc
điểm VPPL của NCTN).
b) Về khách quan: VPPL của NCTN cũng đủ các yếu tố như PPL của người
thành niên, nhưng về tính chất không đa ạng, phức tạp hoặc là có hệ thống. VPPL của
NCTN đa số là hành vi thông thường, dễ biết và có tính hạn chế. Hầu hết VPPL thuộc 4
nhóm: xâm hại về sức khỏe, tính mạng; tài sản; trật tự công cộng và ma túy; không thực
hiện được mọi hành vi trái luật như người thành niên, ví dụ: giả mạo người có chức vụ.
VPPL của NCTN thể hiện về mặt khách quan là tính hạn chế của hành vi.
c) Về khách thể: bị xâm hại do VPPL của NCTN là một số khách thể nhất định.
d) Về chủ quan: có sự khác biệt về mối quan hệ giữa các dấu hiệu chủ quan không
phải luôn đồng nhất, gắn bó chặt chẽ. Ví dụ, NCTN trộm cắp nhưng không vì động cơ


ệm, đặc đ ểm b ệ
ạm


2.2.1. Khái niệm các biện pháp xử
phạm pháp luật

xử

c í

đố



ờ c

a

hành chính đối với người chưa thành niên vi

Các BPXLHC6 xuất hiện từ khi có Nghị quyết số 49/NQ-TVQH ngày 20/6/1961
của Ủy an Thường vụ Quốc hội về việc tập trung cải tạo những phần tử có hành động
nguy hại cho xã hội nhưng “xét thấy không cần đưa ra Tòa án xử lý. Nghị quyết quy định
hai đối tượng gồm: phần tử phản cách mạng ngoan cố và loại lưu manh chuyên nghiệp,
trộm cắp, lừa đảo, tiêu thụ tài sản o người khác phạm tội mà có, chủ chứa gái điếm, phá
rối trị an, côn đồ, ngang ngược… Vì vậy, còn những nhận thức chưa thống nhất về các
BPXLHC. Theo quan điểm của luận án, nghiên cứu BPXLHC đối với NCTN VPPL ngoài
những quy phạm thực định, còn phải dựa trên cơ sở pháp l đặc thù, là: (a) NCTN luôn là

ảnh hưởng đến thành t ch thi đua ở địa bàn mình trách nhiệm. Nhà tổ chức thực hiện xem
BPXLHC là cơ chế thực thi nhiệm vụ “cải tạo” những kẻ hư hỏng, chống đối pháp luật…
Chúng tôi đã xem 42 hồ sơ NCTN PPL từ hơn 15 tuổi đến ưới 18 tuổi được xét duyệt
đưa đi trường Giáo ưỡng trong năm 2012, ghi nhận có 37 trường hợp (tỷ lệ 88%) VPPL
hình sự nhiều lần, hầu hết đã ị áp dụng biện pháp GDTXPTT. Tại bản tự thuật, các em
đều biết lần này sẽ bị đi cải tạo 2 năm, nên mong muốn được “thả” sớm. 58 hồ sơ NCTN
khác VPPL về trật tự công cộng nhiều lần thuộc đối tượng giáo dục tại địa phương ( iện
pháp GDTXPTT) đều xin không phải đi cải tạo ở trường.
Tóm lại, có thể nói, BPXLHC đối với NCTN VPPL là biện pháp quản lý giáo dục
đặc biệt có tính bắt buộc của nhà nước đối với NCTN VPPL về an ninh, trật t , an toàn
xã hội, nhưng không bị xử lý hình s do chưa đủ tuổi hoặc theo những qu định khác của
pháp luật.
Đặc điểm biện pháp xử
phạm pháp luật

hành chính đối với người chưa thành niên vi

2.2.2.1. Đặc điểm về phạm vi và đối tượng áp dụng
a) Phạm vi áp dụng
BPXLHC là một chế định pháp l độc lập và là bộ phận cấu thành Luật XLVPHC
(Điều 89 và 91). Đặc điểm phạm vi áp dụng của chúng thể hiện: đối với NCTN có hành vi
7

“ hôi phục” theo nghĩa là: khôi phục trật tự pháp luật. S.N.Bratus: Trách nhiệm pháp lý và pháp ch , NXB. Pháp lý,
Mátxcơva, tiếng Nga, 1976, tr.138-141. Nguồn: ũ Thư, Ch tài hành chính – lý luận và th c tiễn, (tr.23). Tlđ .


14

VPPL về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nhưng theo luật định không phải là tội phạm và

2.2.2.5. Đặc điểm trùng lắp các biện pháp tư pháp của Bộ luật Hình sự
Hình thức và nội ung cũng như các yếu tố pháp l cơ ản giữa BPXLHC và biện
pháp tư pháp của BLHS hiện hành tương tự nhau (H.4). Cụ thể: (i) tên gọi hai biện pháp
trùng nhau và đối tượng xử lý là NCTN VPPL hình sự. Chỉ khác biệt ở độ tuổi tối thiểu và


15

thời hạn: BPXLHC quy định NCTN từ đủ 12 tuổi đến ưới 18 tuổi. Thời hạn GDTXPTT
từ 03 tháng đến 06 tháng và thời hạn Đ TGD từ 06 tháng đến 02 năm. Biện pháp tư pháp
quy định NCTN từ đủ 14 tuổi đến ưới 18 tuổi và quy định áp dụng đối với cả hai biện
pháp: GDTXPTT và Đ TGD đều cùng một loại thời hạn từ 01 năm đến 02 năm. (ii) Cơ
quan tổ chức thi hành và nơi thi hành như nhau. Như vậy, hai hệ thống hoàn toàn giống
nhau, cùng có biện pháp GDTXPTT (Điều 89, 90 Luật XL PHC và điểm a, khoản 1 Điều
70 BLHS); biện pháp Đ TGD (Điều 91, 92 Luật XL PHC và điểm , Điều 70 BLHS).
Tóm lại, o đặc thù có tính lịch sử và do yêu cầu phát triển trong tình hình mới,
BPXLHC đối với NCTN PPL đã ộc lộ nhiều bất cập khó có thể khắc phục, như nêu
trên –giữa cơ sở pháp lý và hình thức tổ chức thực hiện chúng. Như vậy, đã đến lúc trong
hệ thống lý luận về tội phạm, vi phạm truyền thống phải thừa nhận một số phạm trù pháp
lý mới, đó là: “Biện pháp xử l hành ch nh” và “ i phạm pháp luật mà không phải là tội
phạm”. hi đã thừa nhận “luật nội ung” thì cần hợp thức hóa cả “luật hình thức”, có
nghĩa là cần chuyển hóa các chế định BPXLHC thành luật độc lập và có trình tự, thủ tục
thực hiện phù hợp với tầm của một đạo luật có vị trí ngang hàng với BLHS và Luật về xử
phạt hành ch nh (khi đã tách các BPXHC ra khỏi Luật XLVPHC hiện nay thì cần đổi tên
luật này cho phù hợp).
2.3. Những yếu tố ả
c í đối vớ
ờ c a



cộng đồng xung quanh. Nếu không có được môi trường thân thiện ngay từ thời điểm họ bị
phát hiện và bị ngăn chặn việc làm PPL, thì sau hành vi “lệch chuẩn” đó, tâm l đã xa
lánh cộng đồng, lại được giáo dục bằng cách tiếp tục cách ly cộng đồng, về lô-gích là làm
tăng lên t nh đối lập. Tâm thức hòa nhập trở lại xã hội đời thường sẽ khó khăn hơn.
2.3.3. Y u tố xã hội
(i) Gia đình là môi trường tiếp xúc đầu tiên có vai trò hình thành tính cách và thái
độ “đối nhân, xử thế” của trẻ em.
(ii) Hầu hết các ý kiến đánh giá về thực trạng bất cập hiện nay ở trường học, đó là:
việc giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho học sinh trong trường học, cộng đồng chưa
được quan tâm đúng mức.
(iii) Gia đình và Nhà trường đều là thành tố nằm trong lòng xã hội, do vậy khó có
thể xây dựng được gia đình thân thiện, nhà trường thân thiện khi phải tồn tại trong lòng
một xã hội không thân thiện.
CHƯƠNG 3
CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH
CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT
3.1. C ở pháp lý của các biện pháp xử
thành niên vi phạm pháp luật
3.1
s pháp lý về áp dụng các biện pháp xử
chưa thành niên vi phạm pháp luật theo luật hiện hành

c í

đối vớ

ờ c

a


quyết định áp dụng biện pháp (khoản 2 Điều 105), Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp thực
hiện chức năng kiểm sát hồ sơ.
c) Thủ tục: hủ tịch UBN cấp xã (Trưởng Công an xã giúp thực hiện xác minh,
lập hồ sơ, đề xuất) → Trư ng phòng Tư ph p cấp hu ện (kiểm tra pháp l ) → Trư ng
ông an cấp hu ện (xét, quyết định việc đề xuất áp ụng iện pháp và chuyển hồ sơ đến
Tòa án cấp huyện) → Thẩm ph n Tòa n cấp hu ện (thụ l , tổ chức họp, xét quyết định
áp ụng hoặc không áp ụng) → Kiểm s t viêncấp hu ện thực hiện việc kiểm sát (Điều
99, 100 Luật XL PHC).
Nhìn chung, các quy định về BPXLHC đối với NCTN PPL trên đây đều có
chung vấn đề ất cập là sử ụng tiêu ch phạm tội hình sự của người thành niên làm
“thước đo” cho tiêu ch NCTN ị áp ụng BPXLHC. Đây là ất cập cả về cơ sở l luận và
thực tiễn khách quan.
3.1.1.3. Biện pháp ngăn chặn và việc bảo đảm thực hiện biện pháp xử lý hành
chính đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật (Điều 122); Áp giải người vi phạm
(Điều 124); Giao cho gia đình, tổ chức quản l người bị đề nghị áp dụng BPXLHC trong
thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp (Điều 131);Truy tìm đối tượng đã có quyết định
đưa vào trường giáo ưỡng (Điều 132).
3.1.2
c qu định h c iên quan đ n việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Về quản l nhà nước, Chính phủ giao thẩm quyền cho Bộ Công an thành lập và
thống nhất quản l các trường giáo ưỡng; phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao
động - Thương inh và Xã hội, Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam và các cơ


18

quan hữu quan tổ chức, quản l các trường giáo ưỡng phù hợp với lứa tuổi từ đủ 12 tuổi
đến ưới 15 tuổi và từ đủ 15 tuổi đến ưới 18 tuổi.
3.2. Thực trạng vi phạm pháp luật của


a

3.3. Thực trạng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính cụ thể đối với
ạm pháp luật

ời

3.3.1. Th c trạng p dụng biện ph p Gi o dục tại xã, phường, thị trấn
Khảo sát ở TP.HCM8 thường xuyên có khoảng gần 7000 NCTN được xem là
những trẻ có “nguy cơ” cần được quản lý, theo dõi, giáo dục tại địa phương. Đồng thời,
bình quân ở mỗi phường, xã thường có từ 18 đến 20 NCTN thuộc đối tượng đang thi hành
biện pháp GDTXPTT (Phụ lục 1,2,3).
Luật XLVPHC hiện nay không có sửa đổi nhiều ở biện pháp này, ngoài việc hợp
thức hóa thẩm quyền của Công an cấp xã trong việc chủ trì lập hồ sơ và đề xuất áp dụng
8

Báo cáo của UBND thành phố Hồ Chí Minh về “Chương trình ảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015”. Tlđ .


19

biện pháp. Những bất cập cơ ản trong tổ chức thực hiện biện pháp chưa có giải pháp khắc
phục, như: việc giao cho một đơn vị hoặc tổ chức xã hội quản lý, giáo dục thì “ o tâm l
xã hội còn nặng nề, ngại va chạm với đối tượng là tệ nạn xã hội, sợ bị trả thù, bị đe oạ...
nên việc giao đối tượng quản lý hiệu quả là vấn đề không dễ thực hiện”.9 Hoặc việc tổ
chức xã hội, đoàn thể được phân công quản lý có trách nhiệm đề xuất Chủ tịch UBND cấp
xã tạo cơ hội việc làm cho NCTN cũng không khả thi trong điều kiện kinh tế khó khăn
chung và nguồn việc làm ở cấp cơ sở cũng rất thiếu hiện nay.
3.3.2. Th c trạng áp dụng biện ph p đưa vào trường gi o dưỡng

gửi tổ chức xã hội quản l để chờ kết quả giám định, nhưng thực tế hiện có ao nhiêu cơ
sở xã hội sẵn sàng cho việc tiếp nhận những trường hợp này.
9

Bộ Tư pháp, (2011), “Báo cáo nghiên cứu thực tiễn, thi hành pháp luật XL PHC”.


20

Th hai, các Tòa án cấp huyện đang quá tải án các loại, tiếp tục “gánh” thêm một
lượng “án” BPXLHC khá lớn liệu có đảm bảo giải quyết kịp thời không. Trường hợp quá
hạn do phải chờ Tòa án xét, quyết định thì NCTN được “an tr ” ở đâu…
Th ba, một số vấn đề còn bất cập về hình thức và nội ung quy phạm khi tổ chức
thực hiện Pháp lệnh số 09.
Th tư, Luật XL PHC được sửa đổi, ổ sung một số vấn đề mới, nhưng an hành
trước khi có Hiến pháp năm 2013, về nguyên tắc vẫn là Luật thi hành Hiến pháp năm
1992. Do đó, cần được sửa đổi để cụ thể hóa và phù hợp với Hiến pháp năm 2013, trước
hết là vấn đề ảo đảm một cơ chế tư pháp thực sự và đồng ộ cho việc xử l NCTN PPL.
CHƯƠNG 4
Vấ đề hoàn thiện pháp luật về biện pháp xử
c a
ạm pháp luật

c í

đối vớ

ời

4.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về các biện pháp xử


4.2. P
dụ


ệ q ả
ạm

o





ềc c bệ

4.2.1. Hoàn thiện pháp luật về biện pháp xử
thành niên vi phạm pháp luật

c c ế ổ c ức, c
xử
c í

ở ậ c ấ bảo
đố ớ


hành chính đối với người chưa

Trước h t, xử lý NCTN VPPL chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai



22

Nghiên cứu bổ sung vào Luật về các biện pháp tư pháp hình thức Buộc ao động
công ích đối với NCTN VPPL. Quyết định buộc lao động công ích giao cho Ban chấp
hành Đoàn thanh niên Cty công ích cấp huyện tổ chức cho NCTN lao động tại các công
trình công ch như: chăm sóc cây xanh, công viên... Bộ Luật lao động và Điều ước quốc tế
về lao động trẻ em thừa nhận độ tuổi lao động tối thiểu đối với trẻ em là từ đủ 15 tuổi trở
lên. Với hình thức lao động giản đơn, hợp l luôn có nghĩa giáo ục và rèn luyện sức
khỏe nhất định. Song, về cơ chế cũng cần phải được tổ chức thận trọng, tránh lạm dụng.
Như vậy, các Biệ
đối với NCTN VPPL sẽ bao gồm ba hình thức
với thời hạn và thứ tự, như sau: Biện pháp Giáo dục tại địa phư ng (tên điều chỉnh của
biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn), thời hạn từ 03 tháng đến 6 tháng. Biện pháp
đưa vào trường Gi o dưỡng, thời hạn từ 01 năm đến 02 năm. Biện pháp Buộc ao động
công ích, thời hạn từ 15 ngày đến 01 tháng.
4.3.2. Các gi i pháp hoàn thiện về áp dụng pháp luật
4.3.2.1. Thành lập hệ thống Tòa án Thanh thiếu niên
Hiện Tòa án nhân ân tối cao đã tiến hành nghiên cứu đề án thành lập Tòa án gia
đình và người chưa thành niên (TAGĐ&NCTN) và tổ chức th điểm tại Tp.HCM. Tuy
nhiên, mô hình này còn những bất cập về phạm vi thẩm quyền quá rộng; liên quan nhiều
lĩnh vực dẫn đến việc sửa đổi thủ tục tố tụng các ngành luật khác; lực lượng chuyên môn
chưa đảm bảo.
Tác giả đề xuất mô hình và lộ trình xây dựng, hoàn thiện về tổ chức - nhân sự, cơ
sở vật chất cho hệ thống tư pháp của NCTN theo hướng khả thi, như sau:
(i) Xây dựng một cơ chế bổ trợ tư pháp trong hoạt động tổ chức thực hiện các
quyết định áp dụng biện pháp xử lý của cơ quan có thẩm quyền đối với NCTN VPPL.
(ii) Về lâu dài, tổ chức hệ thống Tòa án Thanh thiếu niên không phụ thuộc hành
chính với Tòa án nhân dân cùng cấp hiện nay, nhưng thuộc quản lý của Tòa án nhân dân

hóa kết hợp xã hội hóa”.
Ủy ban quốc gia về thanh thiếu niên là cơ quan chủ quản tổ chức theo hệ thống
dọc, song không theo đơn vị hành chính mà phân chia theo Miền, Vùng và Khu v c, nhằm
đảm bảo vị tr độc lập tương đối với hệ thống cơ quan quản l nhà nước địa phương.
(ii) Xây dựng lực lượng hỗ trợ tư pháp thanh thiêu niên:
Xây dựng l c ư ng hỗ tr tư ph p thanh thi u niên chuyên trách ưới sự quản lý,
điều hành của Ủy ban quốc gia về thanh thiếu niên; là lực lượng thân thiện và không vũ
trang.
(iii) Xây dựng bộ phận Trợ giúp pháp lý chuyên trách thanh thiêu niên đang thi
hành các biện pháp tư pháp
Các trường giáo ưỡng, cơ sở chữa bệnh cần phối hợp với Trung tâm Trợ giúp
pháp l Nhà nước, Đoàn luật sư, Hội Luật gia xây dựng tình nguyện viên chuyên trách trợ
giúp pháp l , tư vấn pháp l cho NCTN đang thi hành các iện pháp tư pháp và không
phân biệt về đối tượng theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý.
4.3.2.3. Đào tạo, bồi ưỡng công chức, viên chức thực hiện các biện pháp tư pháp
đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Hoàn chỉnh ch nh sách, cơ chế khuyến kh ch và ưu tiên thỏa đáng đối với đội ngũ
công chức, viên chức làm công tác tư pháp NCTN. Xây ựng đội ngũ cộng tác viên tình
nguyện hoặc theo hợp đồng thường xuyên những chuyên gia tư vấn trong các lĩnh vực y
tế, tâm lý, thể thao, khoa học công nghệ, các loại nghề thủ công mỹ thuật phù hợp với các
độ tuổi NCTN.


24

4.3.2.4. Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội
trong việc giáo dục, phòng ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Gia đình – Trường học – Xã hội là ba thành tố rất quan trọngcó trách nhiệm góp
phần ngăn ngừa có hiệu quả tình hình NCTN VPPL, cải thiện điều kiện sống. Để giải
quyết yêu cầu đó, giải pháp cơ ản, phù hợp trong điều kiện hiện nay là tăng cường sự


25

NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ
____________________
1. “Hoàn thiện hệ thống tư pháp cho người chưa thành niên ở một số nước và những
nội dung có thể tham khảo”, Tạp chí Nghiên c u lập pháp số 11, tháng 6/2016;
2. “Hoàn thiện chính sách hình sự nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của
người chưa thành niên phạm tội theo Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Nghiên c u lập pháp
số 14, tháng 7/2015;
3. “Nhu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả các biện pháp xử lý hành chính
đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật”, Tạp chí Thanh tra số 10/2014;
4. “Hiến pháp năm 2013 với việc bảo vệ quyền trẻ em”, Tạp chí Nghiên c u lập pháp
số 15, tháng 8/2014; Sách - Viện Nghiên cứu lập pháp, Hi n ph p nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam - nền t ng chính trị, pháp lý cho công cuộc đổi mới toàn diện đất
nước trong thời kỳ mới, NXB. Lao động xã hội, HàNội - 2014; Tạp chí Vietnam law –
Thông tấn xã Việt Nam (bản tiếng Anh phát hành ra nước ngoài) số 242, tháng 10/2014;
5. “Cần thống nhất độ tuổi người chưa thành niên trong các văn ản pháp luật”, Tạp
chí Nghiên c u lập pháp số 18, tháng 9/2013;
6. “Cần hiến định quyền của người chưa thành niên tại Hiến pháp”, Tạp chí Nghiên
c u lập pháp số đặc biệt tháng 3/2013;
7. “Khái niệm người chưa thành niên và người chưa thành niên vi phạm pháp luật”,
Tạp chí Qu n

Nhà nước số 200 tháng 9/2012;

8. “Đặc điểm và một số nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật”, Tạp chí Nghiên c u
lập pháp số 14, tháng 7/2012.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status