TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN CƠ SỞ PHÁP LÝ-THỰC TRẠNG-GIẢI PHÁP - Pdf 28

Đề tài:
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
CƠ SỞ PHÁP LÝ-THỰC TRẠNG-GIẢI PHÁP
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu đề tài
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
1.2 Những vấn đề được xác lập và tuyên bố trong đề tài
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.4 Những câu hỏi đặt ra khi nghiên cứu
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.6 Phạm vi nghiên cứu
1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu
1.8 Kết cấu báo cáo nghiên cứu
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm hình sự
của người chưa thành niên.
2.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên.
2.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự.
2.1.2 Khái niệm người chưa thành niên?
2.1.3 Khái niệm trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên
2.2 Miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên
phạm tội
Chương 3: Thực trạng về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người chưa thành niên phạm tội
3.1 Một số quy định pháp luật về việc truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người chưa thành niên phạm tội
3.2 Thực trạng tình hình truy tố trách nhiệm hình sự đối với người
chưa thành niên phạm tội ở nước ta.
1
3.3 Một số nhận xét về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người chưa thành niên phạm tội ở nước ta
Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trách
nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội

3
Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm hình sự của người chưa
thành niên. Cơ sở pháp lý – thực trạng – giải pháp” là vấn đề mangh tính
thời sự và cấp thiết.
1.2 Những vấn đề được xác lập và tuyên bố trong đề tài
Nghiên cứu tập trung làm sang tỏ những vấn đề cơ bản sau đây:
- Những vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm hình sự của người chưa
thành niên
- Pháp luật hiện hành về việc truy cứu trách nhiệm hình sự của người
chưa thành niên
- Thực trạng về việc vi phạm hình sự của người chưa thành niên
- Thực trạng về việc truy cứu trách nhiệm hình sự của người chưa
thành niên phạm tội
- Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
- Một số giải pháp nhằm làm giảm vi phạm hình sự của người chưa
thành niên
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu có một số mục tiêu sau đây:
- Nắm được và hiểu rõ được một số vấn đề lý luận cơ bản về trách
nhiệm hình sự của người chưa thành niên
- Hiểu rõ một số quy định của pháp luật về việc truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người chưa thành niên
4
- Nắm được thực trạng về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người chưa thành niên phạm tội
- Giúp sinh viên có tài liệu để tìm hiểu về lý luận và thực tiễn về việc
truy cứu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên
- Đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về

1.7 Ý nghĩa của nghiên cứu
Nghiên cứu đã góp phần làm hoàn thiện một số vấn đề lý luận cơ bản
về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên, từ đó tạo cơ sở cho việc
nhận thức một cách đúng đắn nhất về trách nhiệm hình sự của người chưa
thành niên và việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự của người chưa thành
niên, góp phần nâng cao trách nhiệm của người chưa thành niên vi phạm
hình sự, áp dụng những vấn đề lý luận cơ bản này nhằm nâng cao tính khả
thi, hiệu quả của pháp luật, bồi dưỡng nâng cao nhận thức của các cán bộ
thuộc các cơ quan chức năng, đặc biệt là của những người chưa thành niên,
nâng cao năng lực quản lý của nhà nước.
Kết quả của nghiên cứu có thể được sử dụng trong các đề tài nghiên
cứu khoa học về các vấn đề liên quan tới trách nhiệm hình sự của người
chưa thành niên.
6
Kết quả của quá trình nghiên cứu có thể được dùng làm tài liệu trong
các buổi tuyên truyền, tư vấn nhằm nâng cao nhận thức cho người chưa
thành niên, qua đó góp phần làm giảm số lượng vụ án vi phạm hình sự do
lứa tuổi này gây ra.
Nghiên cứu giúp cơ quan chức năng có cái nhìn chính xác, sâu sắc về
động cơ dẫn tới hành vi vi pham hình sự của người chưa thành niên từ đó
đưa ra hướng giải quyết nhanh, hợp lý và hiệu quả.
1.8 Kết cấu báo cáo của nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục và phụ lục nghiên cứu còn có
cấu trúc 4 chương.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về trách nhiệm hình sự
của người chưa thành niên
2.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên
2.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự
2.1.1.1 Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự (TNHS) là một trong những vấn đề lý luận phức

khác. Nó chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ PLHS giữa hai bên
với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định- một bên là
Nhà nước còn bên kia là người phạm tội. Cụ thể, Nhà nước (mà đại diện là
cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền) thì có quyền truy cứu người phạm
tội, nhưng phải có nghĩa vụ chỉ được xử lý dựa trên các căn cứ và trong các
giới hạn xê dịch do pháp luật quy định, còn người phạm tội thì có nghĩa vụ
phải chịu tước bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do nhất định, nhưng đồng thời
cũng có quyền yêu cầu sự tuân thủ từ phía Nhà nước (các cơ quan tư pháp
hình sự đã nêu) đối với các quyền và lợi ích của con người và công dân theo
đúng hành lang pháp lý mà pháp luật cho phép.
Từ các khái niệm và phân tích khái niệm TNHS ở trên ta có thể rút ra
một số đặc điểm của TNHS:
- TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi
phạm tội. Hậu quả này chỉ phát sinh khi có người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm hoặc không thực hiện
những nghĩa vụ mà pháp luật hình sự yêu cầu phải thực hiện.
- TNHS chỉ có thể được xác định bằng trình tự đặc biệt
theo quy định của pháp luật mà các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa
vụ phải thực hiện.
- TNHS được biểu hiện cụ thể ở việc người phạm tội phải
chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình
phạt, biện pháp tước bỏ hoặc hạn chế ở họ một số quyền hoặc lợi ích
hợp pháp.
8
- TNHS mà người phạm tội phải gánh chịu là trách nhiệm
đối với Nhà nước chứ không phải đối với người mà quyền và lợi ích
hợp pháp của họ bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại
- TNHS phải được phản ánh trong bản án hay quyết định
có hiệu lực pháp luật của tòa án
2.1.1.2 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

nước ta đã xác định trong BLHS tuổi 14 là tuổi bắt đầu có năng lực TNHS
và tuổi 16 là tuổi năng lực TNHS đầy đủ.
9
Điều 12 BLHS quy định:
“Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm . Người
từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất
nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”
Quy định trên đây là xuất phát từ đường lối của Nhà nước ta về xử lí
đối với người chưa thành niên phạm tội cũng như xuất phát từ cơ sở cho
rằng người trong độ tuổi năng lực TNHS chưa đầy đủ luôn luôn có thể nhận
thức được tính chất xã hội của một số hành vi nguy hiểm cho xã hội nhất
định.
Một vấn đề khác cũng liên quan đên vấn đề tuổi chịu trách nhiệm hình
sự đó là việc xác định tuổi của người phạm tội. Việc xác định chính xác tuổi
của họ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định tội phạm và TNHS của
họ. Trong nhiều trường hợp nó có ý nghĩa quyết định trong việc khẳng định
có phạm tội hay không phạm tội cũng như có phải chịu TNHS hay không
phải chịu TNHS.
Để xác định tuổi của người phạm tội ta căn cứ vào ngày tháng năm
sinh được ghi trên giấy khai sinh, tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều trường
hợp không có căn cứ gì để ngày tháng năm sinh, xác định độ tuổi của người
có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.
Để xác định được tuổi của người phạm tội trong mọi trường hợp và
đảm bảo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội, tại công văn số 81 ngày 10
tháng 6 năm 2002, tòa án nhân dân tối cao cụ thể hóa cách xác định tuổi
trong từng trường hợp cụ thể.
Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào
trong tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của bị can, bị
cáo.
Nếu xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được cụ

sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản
pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và
quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên
trong từng lĩnh vực cụ thể.
Khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em. Theo
Điều 1 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”.
Tóm lại, khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự
phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá
bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia. Theo
đó, người ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành
niên.
11
Như vậy, có thể khái niệm: Người chưa thành niên là người dưới 18
tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các
quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên.
Tham khảo thêm các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến người
chưa thành niên gồm: Công ước về Quyền trẻ em (United Nations
Convention on the Rights of the Child) được Đại hội đồng Liên hợp quốc
thông qua ngày 20-11-1989; Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc
về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên (United Nations Standard
Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice /Beijing Rules)
ngày 29-11-1985; Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp
ở người chưa thành niên (United Nations Guidelines for the Prevention of
Juvenile delinquency/ Riyadh Guidelines) ngày 14-12-1990. Theo quan
niệm quốc tế thì trẻ em (Child) là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên
(Juvenile) là người từ 15 đến 18 tuổi, thanh niên (Youth) là người từ 15 đến
24 tuổi, người trẻ tuổi (Young persons) bao gồm trẻ em, người chưa thành
niên và thanh niên.

ngạc nhiên cho những người xung quanh mà còn cho chính cả những đứa trẻ
ở vào lứa tuổi này. “Tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu” là câu tục ngữ hoàn
toàn đúng mà người xưa đã dùng để nói về tuổi vị thành niên.
Thứ hai, vị thành niên cũng là giai đoạn thay đổi nhanh chóng nhất
về tâm lý, tình cảm, nhận thức, mà trong nhiều trường hợp, chính sự thay đổi
còn có thể gây “sốc” cho bản thân lứa tuổi này. Các nhà tâm lý học đều đã
viết và nói nhiều về sự đa dạng và phức tạp trong tình cảm, tâm lý trầm tư, u
uất, sự khép mình vào thế giới nội tâm của nhiều bạn gái trẻ, hoặc thái độ
ngang bướng thậm chí phá phách, muốn khẳng định mình ở các bạn trai, khi
ở vào tuổi vị thành niên. Do vậy, có thể nói rằng, tuổi vị thành nien cũng là
giai đoạn có nhiều biến động nhất trong sự hình thành các giá trị đạo đức, lối
sống và nhân cách của mỗi người. Để rồi, sau khi vuợt qua lứa tuổi này, con
người có thể bước vào đời như những công dân tương lai với tất cả những gì
được tạo dựng từ đó, những tốt và xấu, trắng và đen, những đúng đắn và sai
lệch đan xen nhau, đấu tranh với nhau trong suốt quãng đường còn lại của
đời người.
Thứ ba, từ sự thay đổi về thể chất và nhận thức, vị thành niên cũng là
nhóm nhân khẩu xã hội có những biến đổi mạnh mẽ nhất trong hành vi. Nó
khiến cho bao giờ cũng vậy, rất nhiều hành vi của nhóm tuổi này luôn là khó
hiểu và khó lường trước được đối với những thế hệ khác, đặc biệt là những
người lớn tuổi. Ở vào tuổi vị thành niên, người ta dễ dàng hành động mà
không cần có sự cân nhắc, tính toán chín chắn. Trẻ vị thành niên có thể là
những người vị tha, độ lượng có thể hy sinh thân mình để làm những điều
tốt đẹp, nhưng cũng có thể ngay sau đó lại bị lôi kéo vào những hành vi xấu
mà không nhận biết được. Người ta cũng rất dễ bị lây nhiễm những tệ nạn xã
hội như cờ bạc, rượu chè, trộm cắp, đánh nhau khi ở vào tuổi vị thành niên
để rôi khi trưởng thành đã không thể dễ dàng từ bỏ những tệ nạn này.
Ở nước ta, thực tế những năm thực hiện công cuộc đổi mới cho thấy,
sự nâng cao bước đầu về đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là về mức sống đã
khiến cho vị thành niên ở nước ta có những sự phát triển mạnh về thể chất.

trọ, bị buộc phải trở thành gái mãi dâm. Thực tế những năm gần đây cũng đã
cho thấy, trong sự di chuyển dân cư và lao động mạnh mẽ dưói tác động của
cơ chế thị trường, số lao động vị thành niên đã chiếm một tỷ lệ khá cao.
Trong điều kiện xa gia đình, xa người thân quen, không được chăm sóc,
quản lý, giáo dục đầy đủ, phải tự lập quá sớm lại thiếu kinh nghiệm sống,
chưa đủ kiến thức và bản lĩnh để ứng xử , các em rất dễ bị bóc lột, lừa gạt,
lôi kéo, ép buộc, rơi vào cạm bẫy của các tệ nạn xã hội hoặc vi phạm pháp
luật
2.1.3 Khái niệm trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên
14
Qua phân tích khái niệm trách nhiệm hình sự, khái niệm người chưa
thành niên ta có thể rút ra khái niệm trách nhiệm hình sự của người chưa
thành niên như sau:
Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên là trách nhiệm mà
người chưa thành niên phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về
hành vi phạm tội của mình
2.2 Miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành
niên
2.2.1 Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự
Cũng là một trong những chế định quan trọng trong Luật hình sự Việt
Nam, miễn TNHS thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước
ta đối với người phạm tội, đồng thời qua đó nhằm động viên, khuyến khích
người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo
nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và giúp họ trở thành người có ích cho
xã hội
Ta có thể định nghĩa khái niệm miễn trách nhiệm hình sự như sau:
Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của Luật hình sự
Việt Nam, do cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn
tố tụng hình sự tương ứng áp dụng và được thể hiện bằng nội dung không
buộc một người phải gánh chịu hậu quả pháp lí bất lợi của việc thực hiện tội

- Người không tố giác tội phạm nhưng có hành động can
ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của người phạm tội (khoản
3 Điều 314 BLHS)
Chương 3: Thực trạng về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người chưa thành niên phạm tội
3.1 Một số quy định của pháp luật về việc truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
3.1.1 Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội
Xuất phát từ đặc điểm tâm lý và yêu cầu của công cuộc đấu tranh
phòng chống tôi phạm của người chưa thành niên, BLHS quy định những
nguyên tắc đặc thù về việc xử lý người chưa thành niên phạm tội bao gồm
nội dung như sau:
Thứ nhất là mục đích của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội.
Khoản 1 Điều 69 BLHS khẳng định:
Việc xử lí người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục,
giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có
ích cho xã hội. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm
tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác
định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
Như vậy mục đích của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội đã
được xác định một cách trực tiếp trong BLHS, ta có thể thấy rằng việc xử lý
người chưa thành niên phạm tội là để giáo dục, giúp họ sửa chữa lỗi lầm, trở
16
thành công dân có ích cho xã hội chứ không đề cập trực tiếp đến mục đích
trừng trị. Do đó ta cần hiểu rằng, đối với người chưa thành niên , nếu như
hành vi mà họ thực hiện bị BLHS coi là tội phạm nhưng việc có đưa ra truy
tố xét xử hay không là việc mà các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải
xem xét, cân nhắc và ngay trong giai đoạn này mục tiêu giáo dục, giúp đỡ
người chưa thành niên cũng phải được đặt lên hàng đầu.

17
Việc truy cứu TNHS người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình
phạt đối với họ chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất
của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân than và yêu cầu của việc
phòng ngừa tội phạm. Nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối
với người chưa thành niên phạm tội thì tòa án áp dụng một trong các biện
pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này
(Các biện pháp tư pháp quy định tại Điều 70 bBLHS bao gồm: giáo
dục tại phường, xã, thị trấn hoặc đưa vào trại giáo dưỡng)
Nguyên tắc thứ ba của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội thể
hiện tính nhân đạo sâu sắc. Không phải mọi trường hợp người chưa thành
niên phạm tôi đều bị truy cứu TNHS. Việc đưa ra truy cứu TNHS chỉ đặt ra
khi nó thực sự cần thiết và xuất phát từ yêu cầu phòng ngừa tội phạm. Ngay
cả khi người chưa thành niên phạm tội bị truy cứu TNHS thì họ vẫn có khả
năng không bị áp dụng hình phạt. Thay vào đó là các biện pháp tư pháp nếu
các biện pháp này đủ tác dụng cải tạo họ thành công dân có ích. Như vậy có
thể nói rằng việc truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đối với người thành
niên phạm tội là biện pháp cuối cùng.
Nguyên tắc thứ tư đối với người chưa thành niên phạm tội là nguyên
tắc giảm nhẹ TNHS. Tính chất giảm nhẹ được thể hiện ở những quy định về
loại và mức phạt tù có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.
Khoản 5 Điều 69 BLHS quy định:
Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành
niên phạm tội. Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
cần hạn chế áp dụng hình phạt tù. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho
người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp
dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng. Không áp dụng hình
phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ 14 đến dưới 16
tuổi. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm
tội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status