1 of 128.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
------------------
PHẠM THỊ ANH
PHÉP IM LẶNG TỪ GÓC ĐỘ DỤNG
HỌC TRONG TÁC PHẨM NAM CAO
VÀ NGUYỄN MINH CHÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ
HÀ NỘI – 2013
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 1
2 of 128.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
------------------
PHẠM THỊ ANH
PHÉP IM LẶNG TỪ GÓC ĐỘ DỤNG
HỌC TRONG TÁC PHẨM NAM CAO
VÀ NGUYỄN MINH CHÂU
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 3
4 of 128.
Phạm Thị Anh
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 4
5 of 128.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả đạt được trong khóa luận
này là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác, là sản
phẩm nghiên cứu, tìm hiểu của cá nhân tôi. Tôi cũng xin cam đoan mọi sự
giúp đỡ thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và toàn bộ nội dung của
khóa luận đã được trình bày hoặc là của cá nhân tôi, hoặc là được tổng hợp từ
nhiều nguồn tài liệu. Tất cả các tài liệu tham khảo đều có xuất xứ rõ ràng và
được trích dẫn hợp pháp.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình!
Hà Nội, ngày 03 tháng 05 năm 2013
Người cam đoan
Phạm Thị Anh
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 5
7 of 128.
Chương 2: PHÉP IM LẶNG TỪ GÓC ĐỘ NGỮ DỤNG TRONG TÁC
PHẨM NAM CAO VÀ NGUYỄN MINH CHÂU ....................................... 37
2.1. Giá trị ngữ dụng của phép im lặng trong tác phẩm Nam Cao và Nguyễn
Minh Châu ................................................................................................... 37
2.1.1. Im lặng thể hiện sự đồng tình ...................................................... 37
2.1.2. Im lặng thể hiện sự không đồng tình ........................................... 39
2.1.4. Im lặng thể hiện sự sợ hãi, cam chịu ........................................... 43
2.1.6. Im lặng thể hiện sự bối rối .......................................................... 46
2.1.7. Im lặng thể hiện sự ngạc nhiên.................................................... 48
2.1.8. Im lặng thể hiện sự đau đớn, buồn bã.......................................... 49
2.1.9. Im lặng thể hiện sự vui vẻ ........................................................... 51
2.1.10. Im lặng thể hiện sự khinh thường .............................................. 53
2.1.11. Im lặng thể hiện sự không tập trung vào cuộc thoại .................. 54
2.2. Sự khác biệt của phép im lặng từ góc độ dụng học trong tác phẩm
Nam Cao và Nguyễn Minh Châu .......................................................... 55
PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 7
8 of 128.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giao tiếp, nhiều khi chúng ta bắt gặp những tình huống “bỏ trống
động của nhân tố giao tiếp trong cuộc thoại, chúng ta thấy được “bề sâu” và
“góc khuất” của những khoảng lặng này, từ đó những nét riêng của nhà văn
hiện hình. Ở đây, từ việc khảo sát những cuộc thoại trong tác phẩm của hai
nhà văn điển hình cho hai thời kì văn học là trước cách mạng tháng Tám Nam Cao và sau cách mạng tháng Tám - Nguyễn Minh Châu, chúng tôi mong
muốn chỉ ra những giá trị của phép im lặng với tư cách là một yếu tố của ngữ
dụng. Những độc đáo và khác biệt trong phong cách nghệ thuật của hai tác giả
ở chỗ này cũng có thể thấy được phần nào.
Từ những lí do có tính thiết thực trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên
cứu “Phép im lặng từ góc độ dụng học trong tác phẩm Nam Cao và Nguyễn
Minh Châu”.
2. Lịch sử vấn đề
Im lặng là vấn đề đã được các nhà nghiên cứu xem xét trên nhiều lĩnh
vực khác nhau. Đây là hiện tượng thuộc về tâm lí - ngôn ngữ học. Đặc biệt im
lặng cũng được xem xét như một dấu hiệu của ngữ dụng, tức là im lặng “có tư
cách là một hành vi khi đối chiếu với những tình huống” (R.Mihalla). Trong
một chừng mực nào đó, chúng tôi nghĩ việc xem xét trên dạng “động” này mới
có thể thấy hết được những nội dung ngữ nghĩa của tình huống im lặng và sự
tác động của các nhân tố giao tiếp trong những tình huống im lặng này.
Từ lâu, việc nghiên cứu về sự im lặng trong hội thoại chưa thực sự có
một công trình quy mô. Nguyễn Đức Dân cho rằng “Sự im lặng là một cách
trả lời. Đó là một hành động ngôn ngữ với những chiến thuật giao tiếp xác
định”. Nguyễn Dương trong luận văn tốt nghiệp đại học, khoa Ngữ văn Đại
học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh lại khẳng định “Im lặng - một hành vi
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 9
10 of 128.
ngôn ngữ”. Lê Anh Xuân trong tạp chí Ngôn ngữ số 5, 2006 có đăng bài:
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phép im lặng từ góc độ dụng học,
giá trị, hiệu quả nghệ thuật của nó trong tác phẩm của Nam Cao và Nguyễn
Minh Châu.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ lựa chọn và xem xét trên ngữ liệu thống kê trong các tác
phẩm của Nam Cao (truyện ngắn, tiểu thuyết, kí) và của Nguyễn Minh Châu
(truyện ngắn).
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại để tập hợp các trường hợp im lặng
của nhân vật trong các cuộc thoại và đưa chúng vào những nhóm có hiệu quả
nghệ thuật giống nhau.
- Phương pháp phân tích để phân tích cuộc thoại có sự im lặng của
nhân vật, từ đó chỉ ra giá trị nghệ thuật của sự im lặng.
- Phương pháp so sánh để thấy sự khác nhau về giá trị của im lặng trong
tác phẩm của hai nhà văn, từ đó khẳng định phong cách nghệ thuật của họ.
- Phương pháp hệ thống, khái quát hóa để khái quát các vấn đề lí luận
của im lặng trong thoại từ góc độ dụng học.
Quá trình nghiên cứu được tiến hành như sau:
Bước 1: Nghiên cứu lí luận về im lặng từ góc độ dụng học.
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 11
12 of 128.
Bước 2: Tiến hành thống kê, phân loại, miêu tả ngữ liệu về phép im
mà tự hiểu, không cần diễn đạt bằng lời. Bởi có những lúc người nói “không
tiện nói”, không phải vì muốn giấu những suy nghĩ của mình mà muốn để cho
người nghe tự đoán lấy, hiểu lấy. Đó là một dụng ý tu từ trong diễn đạt.
Nguyễn Du đã tinh tế làm sao khi diễn tả tâm trạng của nàng Kiều lúc gặp
Kim Trọng “Tình trong như đã… mặt ngoài còn e…” (Truyện Kiều). Chỗ
ngừng này quả thực ai cũng có thể nhận cảm, vì thế nếu “tường minh” bằng
ngôn ngữ thì vụng về và đơn giản biết bao. Nhà thơ Tố Hữu cũng đã lặng ngắt
khi nghe tin Lượm mất:
Chợt nghe tin nhà…
Ra thế…
Lượm ơi!
(Lượm)
Quãng lặng đã ẩn chứa sự đột ngột và xúc cảm đau đớn của tác giả.
Nếu như không có quãng lặng này thì hiệu quả nghệ thuật của những câu thơ
này sẽ “giảm thiểu” biết mấy. Tất nhiên, xem xét những trường hợp im lặng
không vì thế mà chúng ta nhầm lẫn với kiểu im lặng “ngẫu nhiên”, tức là im
lặng là do lúng túng, cảm động mà không nói lên lời, kiểu như: “Anh… anh
chỉ là một thằng khốn nạn” (Nam Cao).
Im lặng từ góc độ dụng học lại có rất nhiều quan điểm khác nhau. Ở đề
tài này, chúng tôi lấy quan điểm của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở lí luận của đề tài.
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 14
15 of 128.
Một cuộc thoại bao giờ cũng diễn ra dưới dạng thức có sự cân bằng về
lượt lời. Điều đó có nghĩa là “tôi nói” rồi “anh nói” và “tôi nói” rồi “anh
nói”… Vị trí chuyển giao lượt lời của các nhân vật giao tiếp, tức chỗ mà
người nói ngừng, nhường lời cho người sau mình nói được gọi là vị trí chuyển
bị câm).
Trên những định hướng như thế, trong tác phẩm văn học, sự im lặng
của nhân vật sẽ được nhận diện qua các dấu hiệu sau:
- Nếu sự im lặng diễn ra giữa cuộc thoại thì sự im lặng được nhận diện
bằng dấu ba chấm “…”
Thí dụ:
- Anh có điều gì làm cho em không bằng lòng nào, hả em, con chim của
anh?
- …!
- Hay là anh đã không “ngoan”? Em nói đi, anh sẽ “ngoan” ngay mà!
- …!
(“Sắm vai”, Nguyễn Minh Châu)
- Nếu sự im lặng xảy ra ở cuối cuộc thoại tức là kết thúc cuộc thoại thì
nó được thể hiện bằng từ ngữ chỉ dẫn của tác giả.
Thí dụ:
Rồi chị bảo thằng cu Bé:
- Bé lại đây, bu cho ăn.
Thằng cu ngồi xổm bên mẹ, hấc mặt lên, há hốc mồm ra như con chim
non đợi mẹ mớm mồi. Một miếng vào mồm, nó đã vội nuốt thỏm đi, khen
“ngọt quá”.Nhưng chưa kịp ăn miếng nữa, nó đã ọe một cái, mũi đỏ lên,
nước mắt ứa ra giàn giụa.
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 16
17 of 128.
- Sao thế?
Nó chỉ hụ hị nhìn mẹ mà không nói, cũng không chịu há mồm ăn nữa.
(“Nghèo”, Nam Cao)
ngoài diễn ngôn. Ngữ cảnh là một tổng thể những hợp phần sau đây:
1.2.1.1. Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp
bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác
động vào nhau. Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ. Giữa các nhân
vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân.
- Quan hệ vai giao tiếp.
Một cuộc giao tiếp bao giờ cũng có sự phân vai: vai nói (viết) và vai
nghe (đọc). Vai nói là vai phát ra diễn ngôn (Sp1). Vai nghe là vai tiếp nhận
diễn ngôn (Sp2). Hai vai này luôn có sự luân chuyển trong giao tiếp. Cụ thể là
Sp1 sau khi nói xong chuyển thành Sp2 và ngược lại.
Thí dụ:
Lan (Sp1): Cậu có bút không, cho tớ mượn?
Trong diễn ngôn này, vai nói là “tớ” (Sp1), vai nghe là “cậu” (Sp2).
Tất nhiên, trong thực tế, không phải lúc nào cũng chỉ có hai vai đơn giản như
vậy. Có những cuộc giao tiếp xuất hiện đến bốn vai: chủ ngôn, thuyết ngôn,
tiếp ngôn và đích ngôn.
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 18
19 of 128.
Thí dụ:
Lan (Sp1): Mai về nói với Hùng rằng thầy bảo ngày mai là hạn cuối
nộp tiền học phí.
Diễn ngôn này có quan hệ với bốn người: Lan, Mai, Hùng, thầy giáo.
Trong những người đó, Lan là người nói trực tiếp, Mai là người nghe trực
tiếp, người nói thực sự là thầy giáo, người tiếp nhận lời là Hùng. Trong những
trường hợp này, lời “ngày mai là hạn cuối Hùng phải nộp tiền học phí” không
nói đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp được gọi là hiện thực ngoài
diễn ngôn. Tuy gồm cả những yếu tố vật chất và tinh thần nhưng hiện thực
ngoài diễn ngôn phải được nhân vật giao tiếp ý thức. Khi đã trở thành hiểu
biết của những người giao tiếp thì hiện thực ngoài diễn ngôn trở thành tiền giả
định bách khoa hay tiền giả định giao tiếp của diễn ngôn. Tiền giả định bách
khoa tuy không tham gia vào cuộc giao tiếp nhưng nó là cơ sở để một cuộc
giao tiếp diễn ra một cách bình thường.
Hiện thực ngoài diễn ngôn bao gồm 4 bộ phận:
- Hiện thực - đề tài của diễn ngôn. Thế giới khả hữu và hệ quy chiếu.
Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp thường dùng diễn ngôn của mình
để “nói” về một cái gì đó. Cái được nói tới chính là hiện thực - đề tài của diễn
ngôn. Hiện thực - đề tài của diễn ngôn có thể là những cái đang tồn tại trong
hiện thực ngoài ngôn ngữ và ngoài diễn ngôn, cũng có thể là thế giới nội tâm
của con người (cảm xúc, tư tưởng, ý định, nguyện vọng…) hoặc cũng có thể
là bản thân ngôn ngữ.
Ngoài việc nhận biết hiện thực - đề tài của diễn ngôn thì việc xác định
rõ ràng thế giới khả hữu và hệ quy chiếu cũng không kém phần quan trọng.
Bởi nó chính là cơ sở để thuyết giải ý nghĩa của diễn ngôn cũng như “đo độ
đúng sai” trong giá trị của diễn ngôn. Thế giới khả hữu, hiểu theo cách hiểu
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 20
21 of 128.
của Green thì “không phải là một nơi chốn mà là một cách thức có thể tồn tại
hay đã từng tồn tại của thế giới. Có vô số thế giới khả hữu”. Như thế có thể
thấy điều quan trọng ở đây là không nên chỉ dùng thế giới thực tại để quy
chiếu diễn ngôn mà cần biết rằng có vô số thế giới khả hữu và chính thế giới
khả hữu ứng với đề tài của diễn ngôn mới quyết định nghĩa của diễn ngôn nói
tháng hai,…là những thoại trường biến thể. Nếu như ở mỗi thoại trường biến
thể người ta nói năng mỗi khác thì tập hợp những nét chung trong cách nói
năng ở các thoại trường biến thể sẽ cho ta cách thức nói năng chung đặc trưng
cho một thoại trường hằng thể bao trùm lên các thoại trường biến thể đó.
- Ngữ huống giao tiếp.
Quan hệ liên cá nhân, các tiền giả định bách khoa, thoại trường của một
cuộc giao tiếp không phải nhất thành bất biến đối với một cuộc giao tiếp.
Những yếu tố của các nhân tố đó thay đổi liên tục trong suốt quá trình của
cuộc giao tiếp. Cho t1, t2, t3, tn,…là những thời điểm kế tiếp nhau của một
cuộc giao tiếp thì các yếu tố trên ở những thời điểm t1 khác, t2, t3, tn,… khác.
Chúng ta nói tác động tổng hợp của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh ở từng thời
điểm của cuộc giao tiếp là các ngữ huống của cuộc giao tiếp. Thông qua ngữ
huống mà ngữ cảnh chi phối đến diễn ngôn.
1.2.2. Ngôn ngữ.
1.2.2.1. Kênh giao tiếp.
Ngôn ngữ tự nhiên là ngôn ngữ có đường kênh cơ bản là kênh thính
giác. Về sau, cùng với sự phát triển của xã hội, ngôn ngữ có đường kênh thị
giác. Từ đó diễn ngôn có hai dạng thức: diễn ngôn nói và diễn ngôn viết.
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 22
23 of 128.
Ngôn ngữ thị giác với chữ viết là thứ phát so với ngôn ngữ nguyên phát
là ngôn ngữ nói. Vì là thứ phát nên ngôn ngữ viết phải đồng nhất về cơ bản với
ngôn ngữ nói. Tuy nhiên, vì đã ra đời và sử dụng hai thể chất cảm tính khác
nhau cho nên mỗi thứ ngôn ngữ nói và viết vẫn có tính độc lập tương đối.
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 23
25 of 128.
Loại thể là biến thể sử dụng của các diễn ngôn. Các loại thể tạo nên các
câu thúc - constraint đối với việc tạo ra và thuyết giải diễn ngôn. Chính loại
thể đã khởi động tâm lí tiếp nhận và quy tắc thuyết giải diễn ngôn theo loại
thể khi gặp những diễn ngôn được viết theo một loại thể nào đó.
1.2.3. Diễn ngôn
1.2.3.1. Câu, phát ngôn, diễn ngôn
Phân biệt ba khái niệm câu, phát ngôn, diễn ngôn trước khi nói về diễn
ngôn là cần thiết.
Câu là đơn vị cú pháp quen thuộc, được xem là lớn nhất của ngữ pháp
tiền dụng học. Có thể nói ngữ pháp tiền dụng học là ngữ pháp học về câu.
Theo chúng tôi câu có hai mặt: trừu tượng và cụ thể. Câu trừu tượng là những
mô thức kết học do các đơn vị trừu tượng kết hợp với nhau theo những quy
tắc chủ yếu là tuyến tính. Về mặt cụ thể, các câu cụ thể sẽ được làm đầy bởi
những đơn vị từ vựng cụ thể. Ngữ pháp tiền dụng học thường chỉ nghĩ đến
chức năng biểu hiện sự tình của câu. Điều này đúng. Nhưng không nên và
không được quên rằng có nhiều khi câu là những phương tiện để thực hiện
những hành động bằng lời.
Một câu được làm đầy bằng những đơn vị từ vựng cụ thể có thể được
dùng ở những ngữ cảnh khác nhau, nhằm nhiều mục đích khác nhau. Lúc này
câu là phát ngôn. Một câu “tôi ăn cơm” không phải duy nhất có chức năng
biểu hiện sự tình mà có thể là lời từ chối, biểu thị thái độ giận giữ,…
Diễn ngôn là một dải ngôn từ liên tục gồm một hay nhiều phát ngôn
hợp lại và có tính mạch lạc, đồng quy về một hành vi ngôn ngữ chủ đạo nào
đó được tạo ra trong hoạt động giao tiếp. Diễn ngôn có những đặc điểm sau:
kho tai lieu -123doc-doc-luan an - luan an tien si -luan van thac si - luan van kinh te - khoa luan - tai lieu -Footer Page 25