Trách nhiệm xã hội của các
doanh nghiệp FDI với phát
triển bền vững
Môn học: Tài chính cho Phát triển
GVHD: T.S Nguyễn Thị Vân Anh
Mục lục
Phần 1. Cơ sở lý luận.........................................................................................................3
1.1. Doanh nghiệp FDI.................................................................................................3
1.2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI.........................................................3
1.3. Phát triển bền vững...............................................................................................4
1.4. Mối quan hệ giữa Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI và phát triển bền
vững............................................................................................................................... 4
Phần 2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI với Phát triển bền vững......................4
2.1. Thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI......................................4
2.1.1. CSR đối với người lao động.............................................................................5
2.1.2. CSR đối với cổ đông.....................................................................................11
2.1.3. CSR đối với người tiêu dùng........................................................................11
2.1.4. CSR đối với cộng đồng.................................................................................11
2.1.5. CSR đối với vấn đề môi trường...................................................................13
2.2. Đánh giá trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp FDI đã thực hiện được. .15
2.2.1. Bổ sung nguồn vốn đầu tư xã hội cho đất nước.........................................15
2.2.2. Đóng góp vào nguồn thu ngân sách và các cân đối vĩ mô..........................16
2.2.3. Thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.......................16
2.2.4. Thúc đẩy xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ đối ngoại và tăng khả năng
hội nhập kinh tế quốc tế.........................................................................................17
2.2.5. Tạo thêm công ăn việc làm...........................................................................18
2.2.6. Chuyển giao công nghệ................................................................................18
2.2.7. Tăng áp lực cạnh tranh................................................................................18
2.2.8. Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, đẩy mạnh xuất khẩu..................19
nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.
Có thể thấy, pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận hoạt động của các nhà đầu tư nước
ngoài trong nền kinh tế nước ta ở một phạm vi rộng hơn (tổ chức kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài) so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Phân loại: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài bao gồm:
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài và các đối tác trong nước.
1.2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI.
-
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là những cam kết tự nguyện của các công ty,
tổ chức hay các thực thể khác trong việc đưa các chuẩn mực và qui tắc vào quản lý
và tổ chức các hoạt động kinh doanh của mình trên thị trường. (Tố chức hợp tác và
phát triển kinh tể (OECD))
-
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một khái niệm trong đó các doanh nghiệp
tự nguyện đưa các vấn đề xã hội và môi trường thành một trong những mối quan
tâm của hoạt động kinh doanh cũng như mối quan hệ tác động qua lại của doanh
nghiệp với các đối tượng liên quan. (Liên minh Châu Âu EU)
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nói chung và của doanh nghiệp FDI được truyền bá
vào nước ta thông qua hoạt động của các công ty đa quốc gia đầu tư nước ngoài vào Việt
3
Nam. Các công ty này thường đưa ra các chương trình khuyến cáo ứng xử về văn hoá
kinh doanh đem áp dụng vào các địa bàn đầu tư. Ví dụ như “Chương trình tôi yêu Việt
nhưng vấn đề phát triển bền vững, đảm bảo tiêu chuẩn an toàn về môi trường cũng là một
yêu cầu cấp thiết hiện nay. vì thế, cùng với việc tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn, điều
quan trọng không kém là Chính phủ và chính quyền địa phương phải biết lựa chọn đối
tác, dự án phù hợp để có thể kiểm soát việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh
nghiệp FDI một cách dễ dàng nhằm hướng tới định hướng phát triển bền vững của đất
nước.
Phần 2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI với Phát triển
bền vững
2.1. Thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI
4
CSR của doanh nghiệp cần được hiểu đây là một hiện tượng xã hội, hình thành phát triển
cùng với sự hình thành và phát triển doanh nghiệp, chứ không phải là yếu tố đứng ngoài,
tách rời sự vận động của doanh nghiệp để rồi doanh nghiệp “cam kết” khi nhận thức được
hay doanh nghiệp có thực hiện hay không là tùy thuộc ý thích chủ quan. Càng không thể,
chỉ khi doanh nghiệp thỏa mãn “lợi ích kinh tế” của mình thì mới thực thi CSR. Trên thực
tế, đang tồn tại các doanh nghiệp xã hội không vì lợi ích kinh tế của mình, mà mục tiêu là
vì lợi ích xã hội. Vì vậy, có lẽ, chỉ khi coi CSR của doanh nghiệp như là một hiện tượng
xã hội, mới có thể thấy được rõ sự ra đời, bản chất, nội dung và quá trình vận động của
nó trong sự gắn kết không thể tách rời sự vận động của doanh nghiệp trong một xã hội
nhất định.
CSR được giới thiệu vào nước ta thông qua hoạt động của các công ty đa quốc gia tại
Việt Nam. Các công ty này thường xây dựng các bộ quy tắc và các chuẩn mực đạo đức và
đạo đức kinh doanh có tính chất phổ quát để có thể áp dụng ở nhiều khu vực thị trường
khác nhau.
Tại Việt Nam, trách nhiệm cộng đồng thường được kết hợp và nhận định là hoạt động
thiện nguyện, hướng đến những thành phần gặp khó khăn trong xã hội, nhưng tập trung
lại, các hoạt động mang ý nghĩa trách nhiệm của doanh nghiệp với cộng đồng giúp góp
Bên cạnh đó, việc đầu tư có trách nhiệm xã hội của các nhà đầu tư ngày càng thúc
đẩy doanh nghiệp phải thật sự quan tâm đến trách nhiệm xã hội.
a. Bình đẳng giới
Với tỷ lệ lao động nữ chiếm gần 50% và lao động nữ đang ngày càng đóng
vai trò quan trọng trong lực lượng lao động nói riêng và sự phát triển của
doanh nghiệp nói chung. Trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay, vị thế
và tầm quan trọng của người phụ nữ trong doanh nghiệp ngày càng được
nâng cao. Thực hiện quyền bình đẳng giới trong lao động là một mục tiêu
chiến lược lâu dài, là đòn bẩy để nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển
nguồn lực con người của doanh nghiệp.
Hiện nay, nước ta đã có khung pháp lý tương đối đồng bộ và toàn diện điều
chỉnh về bình đẳng giới, thể hiện qua các văn bản pháp luật đã được ban
hành như Bộ luật Lao động, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Nghị định số
55/2009/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới,
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020, được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt ngày 24 tháng 12 năm 2010 (Quyết định số
2351/QĐ-TTg). Đây là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện vấn đề bình đẳng
giới đối với người lao động.
Hiện nay, cùng với sự giám sát và hỗ trợ của tổ chức Công đoàn, nhiều
doanh nghiệp đã thực hiện những chính sách thiết thực về bình đẳng giới,
thông qua các chính sách về tuyển dụng, đào tạo, cơ hội thăng tiến, học tập
và phát triển nghề nghiệp…
Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam (viết tắt: Samsung Việt
Nam) là 1 trong 10 doanh nghiệp vừa được Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam tặng Bằng khen trong Bảng xếp hạng “Doanh nghiệp vì người lao
động” năm 2017 vì có chế độ đặc biệt cho nhân viên nữ mang thai. Cụ thể,
với nữ LĐ đang mang thai, một tuần Samsung áp dụng 2 suất ăn đặc
biệt/tuần cho NLĐ với chế độ ăn tốt hơn (thêm khẩu phần ăn, sữa, hoa
6
đồng lao động: TP. Hồ Chí Minh (112 người), Hà Nội (78 người), Thanh
Hóa (64 người),… Tuy nhiên, còn nhiều vụ bị che dấu, không khai báo nên
số liệu trên thấp hơn nhiều so với thực tế.
Điển hình là vụ tai nạn do sập giàn giáo xảy ra vào 19g50 ngày 25/3/2015
làm 13 người chết, 29 người bị thương tại hạng mục đúc thùng chìm, công
trường thi công sản xuất và lắp đặt thùng chìm trọng lực tại Dự án Formusa
của Cty TNHH Giang thép Hưng Nghiệp Formusa Hà Tĩnh, Khu kinh tế
Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh do Cty Samsung C&T Corporation là đơn vị thi
công.
7
Ông Nguyễn Tiến Tùng - Phó Chánh Thanh tra (Bộ Lao động- Thương binh
& Xã hội) - cho biết kết quả đợt 1 thanh tra tại 19 nhà thầu (5 doanh nghiệp
FDI) tại kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh) với gần 150 sai phạm về hợp đồng lao
động không đúng loại, nợ đóng BHXH, an toàn lao động, thời gian làm
thêm… 12 doanh nghiệp chưa thực hiện báo cáo định kỳ về tình hình sử
dụng lao động, báo cáo định kỳ về tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp 6 tháng đầu năm và hàng năm với cơ quan quản lý nhà nước về lao
động địa phương. Về thanh tra lao động và ký kết hợp đồng lao động, nhiều
doanh nghiệp giao kết hợp đồng không đúng loại. Cụ thể, doanh nghiệp
nhiều lần ký hợp đồng có thời hạn dưới 3 tháng đối với người lao động làm
việc thường xuyên trên 12 tháng. Trong nội dung của hợp đồng lao động,
nhiều doanh nghiệp chưa thể hiện đầy đủ quyền lợi của người lao đông như
mục công việc phải làm ghi “theo sự sắp xếp của trưởng bộ phận và lãnh
đạo công trình”. Doanh nghiệp chưa thể hiện khoản tiền BHXH, BHYT,
BHTN và tiền nghỉ phép hàng năm mà người sử dụng lao động phải trả cho
người lao động. Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, Thanh tra Bộ LĐTB&XH phát hiện 5 doanh nghiệp chưa đảm bảo số ngày nghỉ ít nhất 4
ngày/tháng cho người lao động, 3 doanh nghiệp huy động người lao động
làm thêm quá 30 giờ/tháng. Qua kiểm tra, 19 doanh nghiệp đã tham gia bảo
bền vững trong xu thế phát triển kinh tế hiện nay.
c. Đãi ngộ
Chế độ đãi ngộ được hiểu theo nghĩa chung nhất là các chế độ phúc lợi hữu
hình và vô hình, bao gồm lợi ích vật chất trực tiếp như lương, thưởng, trợ
cấp, lợi ích vật chất gián tiếp như xe, bảo hiểm, nghỉ phép hay như sự hài
lòng về mặt tâm lý của người lao động trước cơ hội đào tạo và phát triển
nghề nghiệp, môi trường làm việc tốt, thân thiện để phát huy năng lực cá
nhân…
Hiện nay, các doanh nghiệp lớn tại Việt Nam luôn chú trọng đến vấn đề đãi
ngộ để nâng cao tính cạnh tranh trong việc thu hút và giữ lại nguồn nhân
lực chất lượng cao cho công ty. Unilever, P&G, Intel,… là các doanh
nghiệp điển hình cho các chính sách đãi ngộ chất lượng dành cho người lao
động.
Bên cạnh những điển hình tốt, vẫn còn một bộ phận không nhỏ những
doanh nghiệp đang cố tình phớt lờ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của
mình, đặc biệt là vấn đề đãi ngộ cho người lao động. Một trong những biểu
hiện đầu tiên đó là đãi ngộ về lương bổng: chính sách lương bổng không
đảm bảo được cuộc sống của người lao động, trả lương không đúng thời
hạn,… Vấn đề thứ hai là vấn đề bữa ăn và nghỉ trưa cho người lao động.
Phần lớn, các doanh nghiệp không phục vụ bữa ăn cho người lao động mà
người lao động sẽ tự chủ về bữa ăn và việc nghỉ trưa. Đối với người lao
động ở các khu chế xuất, khu công nghiệp, các xưởng sản xuất, chủ doanh
nghiệp sẽ sử dụng loại hình cơm công nghiệp do các cơ sở cung cấp, khó có
thể đảm bảo chất dinh dưỡng để tái tạo năng lượng cho người lao động,
chưa kể nguy cơ ngộ độc luôn rình rập.
Bên cạnh đó, vấn đề chế độ đãi ngộ về đào tạo, nâng cao tay nghề, thăng
tiến và chăm lo đời sống tinh thần cho người lao động vẫn còn bị nhiều
doanh nghiệp bỏ ngõ.
9
đối với người lao động, Ewin.com
Những điều kiện cơ bản ở trên, dù đơn giản nhưng không phải doanh
nghiệp nào cũng có thể thực hiện hoàn chỉnh. Phần lớn người lao động yêu
thích công việc của mình do điều kiện lao động tốt và chế độ lương thưởng
hợp lý. Doanh nghiệp đáp ứng được các yêu cầu này cũng đồng nghĩa với
việc tạo ra được một đội ngũ nhận sự gắn bó, yêu thích công việc, tự hào về
hình ảnh công ty và quyết tâm làm việc vì lợi ích chung.
Lợi ích đạt được ở đây rõ ràng ngoài năng suất nâng lên rõ rệt còn có một
văn hóa gắn kết tại doanh nghiệp. Văn hóa mạnh có tác động tích cực
không chỉ tới riêng bản thân doanh nghiệp mà lan tỏa rất tốt trong cộng
đồng kinh doanh. Đây là điều mọi doanh nghiệp đều mong muốn xây dựng
được. Không những thế, chi phí và sức lực cộng với hao tổn tinh thần do
phải liên tục tìm kiếm và đào tạo nhân sự mới (trong trường hợp nhân sự cũ
thôi việc do chính sách nhân sự của công ty thiếu hợp lý) hoàn toàn bị loại
bỏ. Chính sách đãi ngộ tốt, văn hóa tốt và môi trường làm việc hình thành
hiệu ứng cộng hưởng hấp dẫn nhân lực giỏi tìm đến với công ty. Chuỗi
thành công tiếp nối thành công.
Theo khảo sát thường niên của Anphabe và Nielsen, Nestle Vietnam xếp
hạng 2 trong danh sách 100 nơi làm việc tốt nhất Việt Nam 2017 dựa trên
các tiêu chí: cơ hội phát triển, văn hóa, khả năng lãnh đạo, chất lượng công
việc, danh tiếng công ty,… với nhận xét “công ty cung cấp các cơ hội học
tập tuyệt vời và không ngừng, có những giá trị phù hợp với từng cá nhân,
cam kết tầm nhìn dài hạn và bền vững”.
10
Và công ty PepsiCo Foods Vietnam xếp hạng 9 với đánh giá “Đây là nơi
bạn được trao quyền và có trách nhiệm hoàn toàn với công việc của mình.
Trách nhiệm đối với cộng đồng được thể hiện thông qua một số hoạt động như:
đóng góp phát triển cơ sở hạ tầng địa phương; tham gia các hoạt động từ thiện; xóa
đói giảm nghèo; đầu tư vào giáo dục, tài trợ chương trình thể thao, văn hóa của địa
phương, xã hội; trợ giúp đồng bào thiên tai; giúp đỡ trẻ em chất độc màu da cam;
11
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; thăm hỏi gia đình thương binh liệt sỹ, bà mẹ Việt
Nam anh hùng....
Luôn ý thức về trách nhiệm với thế hệ trẻ, với nền giáo dục Việt Nam, Canon được
biết đến với những dự án lớn đầu tư cho ngành giáo dục Việt Nam. Dự án "Chuỗi
trường học hữu nghị của Canon" triển khai từ năm 2007 tới năm 2010 với trị giá 7
tỷ đồng. Trong khoảng thời gian đó, gần 20 trường học hữu nghị đã được Canon
bàn giao cho các thầy cô giáo và các em học sinh tại các huyện miền núi, vùng sâu
vùng xa của các tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình, Tuyên Quang, Yên Bái, Hà Giang,
Lạng Sơn, Lai Châu… Năm 2009, Canon tiếp tục triển khai một dự án mới nhằm
hỗ trợ các trường học của trẻ em nghèo mang tên "Canon – Vì thế hệ tương lai".
Mục đích của dự án là cải thiện cơ sở vật chất và môi trường học tập cho các em
học sinh tại những vùng sâu, vùng xa và các khu vực còn gặp nhiều khó khăn như
xây dựng hệ thống vệ sinh nước sạch, làm mới sân trường, cải tạo khuôn viên, giúp
các em trang trí lại phòng học, trồng cây xanh làm đẹp cảnh quan môi trường…
Ngoài ra, Canon còn tài trợ sách vở và các trang thiết bị học tập khác cho các em
học sinh và nhà trường để các em học sinh, nhất là các em có hoàn cảnh khó khăn
có điều kiện vươn lên. Dự án khởi động lần đầu tiên tại hai trường tiểu học Tình
Cương và Chương Xá, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ và sẽ qua các tỉnh khác trên toàn
quốc như Thái Nguyên, Bắc Giang, Bến Tre, Đồng Nai trong suốt năm 2009… Tại
mỗi trường, đội ngũ nhân viên Canon sẽ trực tiếp tham gia vào việc cải tạo môi
trường học tập cho các em như trang trí lại phòng học, trồng cây xanh làm đẹp
cảnh quan môi trường… Với những đóng góp vào sự phát triển của nền giáo dục
Việt Nam, Canon vinh dự liên tục nhận bằng khen "Vì sự nghiệp giáo dục Việt
Tổng thời gian của dự án là 8 năm, trong đó 4 năm đầu tiên (từ 2013 – 2016), dự án
sẽ tiến hành trồng rừng phủ xanh 490 ha rừng phòng hộ tại 2 xã Nông Thượng,
Xuất Hóa của thị xã Bắc Kạn, chi tiết của từng năm như sau: 238 ha (2013), 64 ha
(2014), 104 ha (2015), 84 ha (2016). Những năm tiếp theo, dự án sẽ bước vào giai
đoạn chăm sóc, tỉa thưa và bảo vệ cây trồng và việc khai thác sẽ bắt đầu từ năm
2020. Tham gia vào dự án, với tư cách là nhà tài trợ duy nhất, trong tổng số 17 tỷ
đồng chi phí dự án, Công ty Honda Việt Nam sẽ hỗ trợ 4,9 tỷ đồng trong vòng 8
năm (từ 2013 – 2020) tập trung vào các hoạt động: 100% chi phí xây dựng dự án,
đào tạo kỹ thuật trồng rừng mới cho cán bộ khuyến nông, khuyến lâm và người dân
địa phương, 100% chi phí mua giống cây trồng chất lượng cao, hỗ trợ trực tiếp cho
người dân 15% tổng chi phí nhân công chăm sóc và 10% tổng chi phí phân bón cho
toàn bộ dự án.
Bên cạnh đó, Theo TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh, Phó Viện trưởng - Viện CIEM: Qua
các cuộc điều tra thực tế, từ năm 2011 - 2015, chúng tôi nhận thấy ngày càng có
nhiều doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm mở rộng đầu tư vào Việt Nam. Các doanh
nghiệp này có công nghệ thấp, tiêu thụ nhiều năng lượng, khả năng phát thải cao.
Các ngành, lĩnh vực tập trung nhiều nhất là: dệt may, hóa chất, điện tử, giấy, gang thép.... Trong khi đó, lĩnh vực cấp nước, xử lý nước thải tính từ năm 1988 tới đầu
năm 2013 mới chỉ có 28 dự án trong tổng số gần 16.000 dự án FDI, bằng 0,2% và
chiếm 0,36% tổng vốn đăng ký (710 triệu USD). Đến năm 2013, chỉ có 5% doanh
nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam có công nghệ cao, 80% có công nghệ trung bình,
còn lại 14% là sử dụng công nghệ thấp. Điều này hoàn toàn trái ngược kỳ vọng
cũng như tuyên bố đưa các công nghệ, ứng dụng tiên tiến vào sản xuất tại Việt
Nam. Báo cáo của Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2011, cho thấy:
Kết quả điều tra 150 doanh nghiệp FDI, có 45% doanh nghiệp chưa áp dụng quy
trình sản xuất ít phát thải, 18% doanh nghiệp áp dụng các biện pháp giảm phát thải
cũng thấp. Kết quả cũng cho thấy, nhiều doanh nghiệp (69%) cho rằng họ sẽ không
thực hiện quy trình giảm phát thải nếu như đó không phải là yêu cầu bắt buộc,
tương tự như thế 57,7% cho biết lý do là chi phí cao... Trên thực tế, nhiều khu công
nghiệp đi vào hoạt động nhưng chưa triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải
cục bộ hoặc có nhưng không vận hành, hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống
1991 - 1995 nếu không có FDI kinh tế Việt Nam chỉ tăng trưởng 5%/năm thôi, nhờ
có FDI mà tăng trưởng lên đến 8,5%/năm.
-
Theo thống kê, FDI chiếm khoảng hơn 50% tổng giá trị sản xuất công nghiệp.
Những công trình lớn nhất từ dầu khí, công nghệ chế tạo, sắt thép, dầu đều là của
15
FDI. Ở những nơi thu hút nhiều FDI như Bắc Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Thái
Nguyên… thì khu vực FDI chiếm tới 70-80% tổng giá trị sản xuất công nghiệp.
2.2.2. Đóng góp vào nguồn thu ngân sách và các cân đối vĩ mô
FDI đã góp phần quan trọng vào việc tăng thặng dư của tài khoản vốn, góp phần
cải thiện cán cân thanh toán nói chung. Trong giai đoạn 2000 – 2007, các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp ước đạt 112 tỷ USD, chiếm 7.7% trong
tổng thu ngân sách nhà nước và đang có xu hướng tăng có những năm tiếp theo.
Trong vòng 10 năm từ 2005-2015, đóng góp cho ngân sách của các doanh nghiệp
FDI tăng gấp đôi từ mức 7,4% năm 2005 lên 14,1% năm 2015.
2.2.3. Thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại
Nếu như trước đây Bắc Ninh chủ yếu sản xuất nông nghiệp, thì từ khi có Samsung
và một số doanh nghiệp FDI khác, đã có sự dịch chuyển từ nông nghiệp sang công
nghiệp, dịch vụ. Bắc Ninh hiện chỉ còn hơn 8% là nông nghiệp và đang trong quá
trình chuyển mình từ tỉnh lên thành phố.
Thúc đẩy phát triển nhiều ngành công nghiệp và sản phẩm mới, tạo ra trên 50% giá
trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực
của nền kinh tế, như: dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, ximăng…, làm
tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế quốc dân nhờ có cơ cấu kinh tế tiến bộ hơn.
Góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản
17
trước và chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Trong giai đoạn 2011-2015,
cũng không ngừng tăng lên, năm 2015 đạt gần 80 tỷ USD và 67,4% tổng kim
ngạch xuất khẩu cả nước. Nhờ xuất khẩu từ khu vực FDI, cán cân thương mại
không những được cải thiện, mà còn tạo ra xuất siêu trong vài năm gần đây.
2.2.5. Tạo thêm công ăn việc làm
Các doanh nghiệp FDI cũng đã tạo ra công ăn việc làm cho 3,7 triệu lao động trực
tiếp và nhiều triệu lao động gián tiếp, qua đó góp phần hình thành đội ngũ lao động
có kỹ năng bao gồm công nhân lành nghề, kỹ sư công nghiệp, chuyên gia dịch vụ,
cán bộ quản trị doanh; nâng cao năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam; thúc
đẩy quá trình chuyển từ lao động thu nhập thấp sang lao động có trình độ hiện đại
và thu nhập cao
Đào tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng tốt, tay nghề cao. Rất nhiều lao động
của Việt Nam đã từng làm việc tại các doanh nghiệp FDI, sau một thời gian tích lũy
kinh nghiệm đã đứng ra thành lập doanh nghiệp riêng riêng và trở thành đối tác lớn
của doanh nghiệp FDI.
2.2.6. Chuyển giao công nghệ
Các doanh nghiệp FDI đã tạo ra được nhiều sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã
đẹp, kiểu dáng hợp thời trang, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường trong nước
và gia tăng nhanh chóng kim ngạch xuất khẩu như máy tính, smartphone, điện tử
gia dụng, cơ khí chế tạo.
Dầu khí và truyền thông là hai ngành kinh tế nhờ chuyển giao công nghệ và gắn
với FDI nên đã phát triển với tốc độ nhanh, hiện đại, tiến kịp trình độ thế giới. Cụ
thể, các hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí đều có quy định về chuyển giao
công nghệ, đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật, nên Tập đoàn Dầu khí Việt
Nam (PVN) không những làm chủ được nhiều công nghệ hiện đại và phức tạp
trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ở thềm lục địa của nước ta, mà còn có
năng lực về công nghệ và nhân lực tham gia một số liên doanh ở nước ngoài.
doanh nghiệp FDI
Một doanh nghiệp sẽ chỉ phát triển bền vững được nếu sân chơi của doanh nghiệp đó
được phát triển bền vững và cộng đồng xã hội được hưởng lợi từ đó. Hiểu được tầm quan
trọng cũng như áp lực xã hội, hầu hết các công ty FDI đã chủ động đưa trách nhiệm xã
hội vào chương trình hoạt động của mình một cách nghiêm túc.
Bên cạnh đấy vẫn không ít doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội còn thấp để lại những tồn
tại cụ thể được đánh giá sau:
2.3.1. Những vấn đề thuộc về thể chế
Hiện nay, ở Việt Nam vấn đề cần phải làm sáng tỏ ở đây là trách nhiệm của các cơ
quan nhà nước đến đâu? Đâu là trách nhiệm của doanh nghiệp? Và, các tổ chức xã
hội dân sự có vai trò gì trong vấn đề này?
Về phía Nhà nước, có thể nói, hệ thống luật pháp đã được đổi mới và xây dựng lại
một cách sâu rộng, từ Hiến pháp đến hệ thống luật, nghị định. Đối với lĩnh vực bảo
vệ môi trường và biến đổi khí hậu, nhận thức được tầm quan trọng của biến đổi khí
hậu, Chính phủ Việt Nam đã thông qua Công ước về khí hậu (năm 1994) và sau đó
19
là Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước về khí hậu (năm 2002). Vấn đề bảo vệ môi
trường ở Việt Nam được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, hiệu lực của pháp luật thấp và, đặc biệt, trách nhiệm của các cơ quan
nhà nước trong thực thi pháp luật rất mờ nhạt. Đã xuất hiện nhiều vụ việc gây bức
xúc trong dư luận, như vụ Công ty Vedan làm ô nhiễm sông Thị Vải nhưng không
được xử lý nghiêm minh do sự đùn đẩy trách nhiệm của các bộ chức năng. Gần đây
nhất gây nên song dư luận doanh nghiệp FDI Formosa Hà Tĩnh đổ trực tiếp chất
thải ra biển qua thời gian rất dài khi sự việc gây ra hậu quả nặng nề thì mới phát
hiện.
Doanh nghiệp làm tốt trách nhiệm xã hội cũng được nhìn nhận như doanh nghiệp
-
Trách nhiệm với thị trường và người tiêu dùng: Điều đó thể hiện ở các hành vi
gian lận trong kinh doanh, báo cáo tài chính; sản xuất, kinh doanh hàng kém chất
lượng. Điển hình là các vụ xả nước thải không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng cho các dòng sông và cộng đồng dân cư của các Công ty Miwon,
công ty Hyundai Vinashin (Khánh Hòa), các vụ sản xuất thực phẩm chứa chất có
hại cho sức khỏe con người, như nước tương có chứa chất 3-MCPD gây ung thư,
bánh phở chứa phormol, thực phẩm chứa hàn the, sữa có chứa melamine - một
chất độc hại gây ra sạn thận ở trẻ em, có thể dẫn tới tử vong.
Trách nhiệm cho người lao động: Không bảo đảm an toàn lao động, nhiều doanh
nghiệp vi phạm các quy định pháp luật về lương bổng, chế độ bảo hiểm, vấn đề an
toàn lao động cho người lao động cũng không còn là hiện tượng hiếm thấy, đã và
đang gây bức xúc cho xã hội.
Trách nhiệm về môi trường: Cố ý gây ô nhiễm môi trường, hoặc lấy lý do vì kinh
tế, lợi nhuận mà phá hủy môi trường. Xả thải trực tiếp ảnh hưởng người dân và
môi trường là việc một số doanh nghiệp FDI đã làm. Sử dụng nguồn tài nguyên
quá mức cùng với đấy là sử dụng động vật hoang dã quý hiếm để sản xuất mua
bán.
Đó là chưa thể kể hết còn biết bao trường hợp khác nữa “đã bị lộ” thì sự đã rồi, và
chắc rằng còn nhiều trường hợp “chưa bị lộ” đã và đang vẫn xảy ra trên đất nước
này… Người dân TP. Hồ Chí Minh đến nay vẫn đang bức xúc, lo ngại về tình
trạng ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp của thành phố, như các khu công
21
nghiệp Lê Minh Xuân, Tân Tạo… và còn nhiều địa phương khác nữa trong cả
nước cũng đang lâm vào tình trạng như vậy. Đến nay, chưa có cơ quan chức năng
nào có thể thống kê đầy đủ con số các doanh nghiệp thiếu trách nhiệm xã hội,
thiếu văn hoá kinh doanh, đạo đức kinh doanh như vậy.
chịu…
b. Doanh nghiệp chưa chọn đúng cách tiếp cận khi thực thi CSR
22
Nhiều doanh nghiệp hiện nay bị thiếu hụt nguồn tài chính và kỹ thuật để
thực hiện các chuẩn mực CSR, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà
phần lớn doanh nghiệp Việt Nam hiện đều là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2.3.2. Các nguyên nhân về phía nhà nước
Thu hút đầu tư nước ngoài nhưng không phải trả giá bằng môi trường là điều mà
các quốc gia trên thế giới đều quan tâm và Việt Nam cũng vậy. Tuy nhiên, trong 30
năm thực hiện thu hút nguồn vốn FDI, có nhiều giai đoạn chúng ta chưa kiểm soát
tốt vấn đề này. Do đó, nhiều vụ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã xảy ra, để lại
nhiều hệ lụy cho kinh tế, xã hội về lâu dài. Vẫn còn đó nhiều nỗi lo về ô nhiễm môi
trường từ khu vực FDI. Nguyên nhân là do:
a. Cuộc đua thu hút FDI bằng mọi giá
Từ năm 2006, Việt Nam bắt đầu thực hiện chủ trương phân cấp toàn diện cho
địa phương cấp phép và quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài. Sự “dễ dãi” để
cạnh tranh hút vốn FDI với nhiều ưu đãi, thậm chí vượt khung, cũng như sự
thiếu năng lực trong thẩm định cấp phép với dự án FDI, thiếu cơ chế kiểm soát
về môi trường đã khiến nhiều dự án FDI bộc lộ những bất cập, trong đó đáng
tiếc nhất là ô nhiễm môi trường. Đơn cử như dự án Formosa tại Hà Tĩnh, dù
thẩm quyền của UBND tỉnh đối với việc cấp giấy phép đầu tư cho nhà đầu tư
nước ngoài có thời hạn tối đa là 50 năm (quá thời hạn này, địa phương phải báo
cáo Chính phủ để Thủ tướng Chính phủ xem xét, cấp phép), nhưng địa phương
này đã cấp giấy phép đầu tư đi liền với giao đất 70 năm cho Formosa.
b. Trình độ quản lý đầu tư hạn chế, kiểm soát không chặt chẽ về môi
trường
nhằm cạnh tranh với các nước khác trong quá trình thu hút vốn. Ngoài ra các
nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng những hạn chế của Việt Nam về các quy chuẩn
kỹ thuật để tuồn những công nghệ lạc hậu, thâm dụng tài nguyên, thâm dụng
năng lượng vào nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
Quy chuẩn ngành thép là ví dụ điển hình. Theo quy chuẩn chung về nước thải
công nghiệp yêu cầu phải đảm bảo 33 chỉ tiêu kỹ thuật trước khi thải ra môi
trường, nhưng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải ngành sản xuất thép
chỉ quy định 12 chỉ tiêu, đáng lưu ý là chỉ tiêu Xyanua (một trong những độc tố
gây ra hiện tượng cá chết ở 4 tỉnh miền Trung do Công ty Formosa gây ra vào
tháng 4/2016) lại được phép xả thải gấp 5 lần mức cho phép của quy chuẩn
chung. Chưa kể, do môi trường tiếp nhận là biển, dự án Formosa được phép thải
với hàm lượng Xyanua là 0,585mg/lít, gấp gần 6 lần mức cho phép của quy
chuẩn chung.
e. Giám sát về môi trường cũng thể việc hiện sự lỏng lẻo
Không chỉ nới lỏng tiêu chuẩn, giám sát về môi trường cũng thể việc hiện sự
lỏng lẻo. Các dự án cần có tần số quan trắc môi trường ít nhất 4 lần/năm, nhưng
hầu hết đều do doanh nghiệp chủ động thuê các đơn vị tư vấn thực hiện. Hoạt
động thanh tra, kiểm tra lại đều theo chương trình đã được báo trước. Việc xử lý
vi phạm cũng vô cùng khó khăn, nếu có phạt tiền doanh nghiệp theo quy định
không đáng kể so với chi phí xử lý chất thải.
24