TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGÔ THỊ KIM QUYẾN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA CÁC CHỦNG VI
KHUẨN VÙNG RỄ ĐỐI VỚI NẤM PHYTOPHTHORA CAPSICI
GÂY BỆNH THỐI TRÁI TRÊN DƯA HẤU TRONG
ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ, 2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ BẢO VỆ THỰC VẬT
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA CÁC CHỦNG VI
KHUẨN VÙNG RỄ ĐỐI VỚI NẤM PHYTOPHTHORA CAPSICI
GÂY BỆNH THỐI TRÁI TRÊN DƯA HẤU TRONG
ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
Giảng viên hướng dẫn:
Ts. Nguyễn Thị Thu Nga
Cần Thơ, 2011
Sinh viên thực hiện:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐỐI KHÁNG CỦA CÁC CHỦNG VI
KHUẨN VÙNG RỄ ĐỐI VỚI NẤM PHYTOPHTHORA CAPSICI
GÂY BỆNH THỐI TRÁI TRÊN DƯA HẤU TRONG
ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
Do sinh viên Ngô Thị Kim Quyến thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn:………………………………….
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………...
Luận văn tốt nghiệp hội đồng đánh giá ở mức:……………………….
DUYỆT KHOA
Cần Thơ, ngày .… tháng .… năm 2011
Chủ tịch Hội Đồng
ii
LƯỢC SỬ CÁ NHÂN
Họ và Tên: NGÔ THỊ KIM QUYẾN
Ngày sinh: 28/02/1989
Nơi sinh: Long Mỹ - Cần Thơ
Giới tính: Nữ
Dân tộc: Kinh
Các bạn lớp Bảo Vệ Thực Vật K33 đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Trân trọng !
Ngô Thị Kim Quyến
iv
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bài trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây.
Tác giả luận văn
Ngô Thị Kim Quyến
v
MỤC LỤC
Trang
LƯỢC SỬ CÁ NHÂN……………………………………………………… iii
LỜI CẢM TẠ………………………………………………………………. iv
LỜI CAM ĐOAN…………………………………………………………... v
DANH SÁCH BẢNG………………………………………………………. viii
DANH SÁCH HÌNH……………………………………………………….. ix
TÓM LƯỢC………………………………………………………………... x
cao ………………………………………………………………….............. 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ - THẢO LUẬN………………………………….. 22
3.1 Đánh giá khả năng ức chế sự phát triển khuẩn ty nấm P. capsici gây
bệnh thối trái trên dưa hấu của các chủng vi khuẩn vùng rễ trong điều kiện
vi
phòng thí nghiệm……………………………………………………………
22
3.2 Khảo sát khả năng ức chế sự nẩy mầm và tiêu diệt bào tử nấm
Phytophthora capsici của dịch trích 5 chủng vi khuẩn đối kháng
cao …………………………………………………………………..............
3.2.1 Khả năng ức chế sự nẩy mầm đối với nấm Phytophthora capsici
bằng dịch trích của 5 chủng vi khuẩn đối
kháng………………………………………………………………………..
3.2.2 Khả năng tiêu diệt bào tử nấm Phytophthora capsici bằng dịch trích
của 5 chủng vi khuẩn đối
kháng………………………………………………………………………...
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN - ĐỀ NGHỊ……………………………………..
4.1 Kết luận………………………………………………………………….
4.2 Đề nghị ………………………………………………………………….
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………..
PHỤ BẢNG
vii
32
32
Hiệu suất đối kháng của các chủng vi khuẩn vùng rễ đối với
nấm Phytophthora capsici ở các thời điểm 4,5,6 ngày sau khi
cấy (%).
26
3.3
Tỷ lệ nẩy mầm của bào tử động nấm Phytophthora capsici
qua các thời điểm 4 và 8 giờ sau khi xử lý với dịch trích vi
khuẩn.
32
3.4
Mật số bào tử nấm Phytophthora capsici còn sống qua các
thời điểm 4 và 8 giờ sau khi xử lý với dịch trích vi khuẩn.
34
3.5
Bảng tổng hợp khả năng đối kháng của 5 chủng vi khuẩn
vùng rễ triển vọng đối với nấm Phytophthora capsici.
35
viii
Hiệu quả đối kháng của các chủng vi khuẩn vùng rễ đối với nấm
Phytophthora capsici trên môi trường King’ B ở 6 NSKC: (a) chủng
52; (b) chủng 187, 164; (c) chủng 64, 166; (d) chủng 151.
30
3.2
Hiệu quả đối kháng của các chủng vi khuẩn vùng rễ đối với nấm
Phytophthora capsici trên môi trường King’ B ở 6 NSKC: (a) chủng
1; (b) chủng 199; (c) chủng 13; (d) chủng 12.
31
ix
Ngô Thị Kim Quyến. 2011. “Đánh giá khả năng đối kháng của các chủng vi
khuẩn vùng rễ đối với nấm Phytophthora capsici gây bệnh thối trái trên dưa
hấu trong điều kiện phòng thí nghiệm”. Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Bảo Vệ Thực
Vật, Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng,
Trường Đại học Cần Thơ. Cán bộ hướng dẫn Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Nga.
TÓM LƯỢC
Đề tài “Đánh giá khả năng đối kháng của các chủng vi khuẩn vùng rễ đối với
nấm Phytophthora capsici gây bệnh thối trái trên dưa hấu trong điều kiện
phòng thí nghiệm” được thực hiện trong phòng thí nghiệm bệnh cây tại bộ môn
Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần
Thơ từ tháng 8 đến tháng 12/2010.
So sánh khả năng đối kháng của 5 chủng vi khuẩn đối với nấm P. capsici qua
bán kính vòng vô khuẩn, hiệu suất đối kháng, khả năng ức chế bào tử nẩy mầm và
khả năng tiêu diệt bào tử nấm nhận thấy chủng 187 (Pseudomonas sp.) và 64
(Pseudomonas sp.) thể hiện khả năng đối kháng cao nhất và là chủng vi khuẩn triển
vọng trong nghiên cứu phòng trị sinh học bệnh thối trái trên dưa hấu do nấm P.
capsici.
xi
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dưa hấu là loại thực phẩm có thành phần dinh dưỡng phong phú và rất
được ưa chuộng trên thế giới. Ngoài công dụng là để làm món ăn tráng miệng, nước
giải khát thì dưa hấu còn được người Nga dùng để sản xuất bia, siro (Tạ Thu Cúc,
2005). Dưa hấu có tên khoa học là Citrullus lanatus [Thumb].Mats và Nakai, thuộc
họ bầu bí dưa Cucurbitaceae. Nguồn gốc của dưa hấu là ở Nam Phi (Seshadri,
1993). Người Ai Cập đã mô tả và sử dụng dưa hấu ít nhất là 4000 năm (Tạ Thu
Cúc, 2005). Từ thế kỉ thứ 10 thì dưa hấu đã có mặt ở Trung Quốc và Liên Bang Nga
và tại Châu Mỹ là vào thế kỉ 16 (Robinson và Decker - Walters, 1997). Ở nước ta,
dưa hấu được biết đến từ thời vua Hùng Vương thứ 18, cho đến nay dưa hấu được
xem là loại trái cây không thể thiếu vào ngày Tết cổ truyền của dân tộc (Phạm Hồng
Cúc, 2000). Do dưa hấu thích hợp với cả khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới (Robinson
và Decker - Walters, 1997) và rất được ưa chuộng nên diện tích trồng dưa hấu ngày
càng tăng lên và được trồng ở nhiều nơi. Theo FAO (2008), diện tích trồng dưa hấu
trên thế giới khoảng 3,7 triệu ha với sản lượng đạt được là 98,4 triệu tấn. Ở Việt
Nam, diện tích canh tác dưa hấu là 28.000 ha, với tổng sản lượng đạt 200.000 tấn.
Ở nước ta do điều kiện khí hậu thuận lợi nên dưa hấu được trồng quanh
năm có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ hàng ngày, tăng thu nhập cho người nông
dân. Tuy nhiên, việc sản xuất dưa hấu liên tục đã tạo điều kiện cho các mầm bệnh
tấn công gây hại đặc biệt là vào mùa mưa là điều kiện rất thuận lợi cho nhiều mầm
Thị Bích Ngân (2009), Phạm Thị Hoàng Lan (2009)…). Qua đó cho thấy vi khuẩn
vùng rễ là nhóm vi sinh vật rất có triển vọng trong phòng trị các tác nhân gây bệnh
có nguồn gốc từ đất.
Tiếp tục nghiên cứu về việc sử dụng vi khuẩn vùng rễ để phòng trị các
bệnh hại trên dưa hấu đề tài “Đánh giá khả năng đối kháng của các chủng vi
khuẩn vùng rễ đối với nấm Phytophthora capsici gây bệnh thối trái trên dưa
hấu trong điều kiện phòng thí nghiệm” được thực hiện với mục tiêu tìm hiểu khả
năng ức chế sự phát triển khuẩn ty nấm, khả năng ức chế sự nẩy mầm và tiêu diệt
bào tử nấm gây bệnh của các chủng vi khuẩn vùng rễ, từ đó chọn ra chủng vi khuẩn
triển vọng để phòng trị sinh học bệnh thối trái trên dưa hấu do nấm Phytophthora
capsici.
2
CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 BỆNH THỐI TRÁI TRÊN DƯA HẤU (PHYTOPHTHORA CAPSICI)
Bệnh thối trái trên dưa hấu cũng như trên các loại cây thuộc họ bầu bí dưa do
nấm Phytophthora capsici là một trong các bệnh đã gây thiệt hại nghiêm trọng
trong quá trình sản xuất ở nước ta đặc biệt là vào mùa mưa. Bên cạnh đó, mầm bệnh
có phổ kí chủ rất rộng ngoài các cây thuộc họ bầu bí dưa như dưa hấu, dưa leo, bí,
bí ngô,… nấm P. capsici còn tấn công trên tiêu, cà tím, cà chua và nhiều loại cây
trồng khác (Koike và ctv., 2007). Mặt khác, mầm bệnh còn có khả năng lưu tồn rất
lâu trong đất (Babadoost, 2001). Khi bệnh đã xuất hiện gặp điều kiện thuận lợi sẽ
phát triển mạnh và việc phòng trị thường gặp nhiều khó khăn do đó có thể dẫn đến
thiệt hại năng suất đến 100%.
1.1.1 Triệu chứng
Mầm bệnh tấn công trên tất cả các bộ phận của cây, gây các triệu chứng khác
nhau tùy loài kí chủ (Drenth và Sendall, 2001). Trên dưa hấu chúng gây thối dây,
Bệnh thối trái dưa hấu do nấm Phytophthora capsici Leonian gây ra. Nấm
bệnh có thể tấn công trên thân, lá và trái, gây thiệt hại năng suất nghiêm trọng đặc
biệt trong mùa mưa (Agrios, 2005).
Drenth và Guest (2004) cho biết có hơn 60 loài Phytophthora được mô tả và
tất cả các loài được chứng minh là đều gây hại cho cây trồng. Nhiều loài như P.
capsici, P. cryptogea, P. megasperma, và P. parasitica là nguyên nhân gây ra thối
thân, thối rễ, thối trái ở nhiều loại rau màu, cây cảnh, và vài loại cây rừng (Agrios,
2005).
Phân loại:
Nấm Phytophthora capsici thuộc giới Chromista, ngành Oomycota, lớp
Oomycetes, bộ Pythialses, họ Pythiaceae, chi Phytophthora (CPC, 2001).
Đặc điểm hình thái:
Nấm có hệ sợi khuẩn ty hình ống, trong suốt (Nguyễn Văn Bá, 2005). Sợi
nấm tương đối lớn, không có vách ngăn, có chiều rộng khoảng 5 - 7 µm. Nấm P.
capsici bao gồm 3 loại hình bào tử sinh sản vô tính là bọc bào tử (sporangia), bào tử
4
động (zoospore) và bào tử áo (chlamydospore). Bọc bào tử có vách dày, trong suốt,
có kích thước khoảng 30 - 60 - 100 x 25 - 35 µm, thường có hình cầu, hình trứng
hoặc hình quả chanh núm. Bọc bào tử khi gặp điều kiện nhiệt độ thấp và ẩm độ cao
sẽ trở thành một túi bào tử động và phóng thích ra các bào tử động có 2 roi, có thể
bơi lội trong nước. Dạng bào tử áo thường rất hiếm hoặc không xuất hiện. Bào tử áo
có vách dày, được hình thành từ hệ sợi nấm, có thể tồn tại trong môi trường bất lợi
và đây được xem là dạng cấu trúc ngủ nghỉ của nấm (Drenth và Sendall, 2001).
Ngoài ra, nấm P. capsici còn có dạng noãn bào tử (oospore) được hình thành trong
quá trình sinh sản hữu tính. Quá trình sinh sản hữu tính xảy ra khi có sự kết hợp
giữa cơ quan sinh dục đực (túi đực) và cơ quan sinh dục cái (túi noãn). Kích thước
của túi noãn khoảng 30 µm (lớn nhất là 39 µm), túi đực có kích thước 15 - 17 µm.
ẩm, mưa nhiều là điều kiện để bệnh phát triển nhanh. Nhiệt độ thích hợp cho bệnh
phát triển là 7 - 37oC thích hợp nhất là 27 - 32oC (trích dẫn Trần Hà Anh, 2009). Ẩm
độ cao là điều kiện cần thiết cho sự hình thành bào tử, sự nẩy mầm của bọc bào tử
và động bào tử để mở đầu cho việc xâm nhiễm (Drenth và Guest, 2004). Lượng
mưa cao tại các vùng nhiệt đới thúc đẩy quá trình lan truyền của động bào tử
(Burgess và ctv., 2008). Bên cạnh đó, yếu tố về kỹ thuật canh tác cũng có ý nghĩa
rất quan trọng. Chẳng hạn, bón quá nhiều phân đạm sẽ làm cho cây phát triển mạnh
chứa nhiều nước bệnh dễ tấn công, hay khi tưới tràn sẽ tạo điều kiện cho động bào
tử lan sang diện rộng… Khi mầm bệnh gặp điều kiện thích hợp sẽ phát triển rất
nhanh, khoảng 3 - 4 ngày là biểu hiện triệu chứng (Gevens và ctv., 2008).
1.1.6 Biện pháp phòng trị
Biện pháp canh tác:
- Chọn đất canh tác sạch bệnh, nơi đất tốt thích hợp với sự sinh trưởng của
cây, luống trồng cao có hệ thống thoát thủy tốt.
- Loại bỏ các cây bệnh ra khỏi đất canh tác, thu dọn sạch xác bã thực vật.
- Chọn giống sạch bệnh, không chọn các hạt từ ruộng bị bệnh.
- Điều khiển không cho cây sinh trưởng quá mạnh.
- Bón thêm phân chuồng giúp cây trồng phát triển tốt và tăng vi sinh vật đối
kháng.
- Sử dụng màng phủ nông nghiệp.
- Tưới thấm không tưới tràn.
- Lập hệ thống luân canh thích hợp, nên luân canh cây họ bầu bí với cây trồng
khác 3 năm một lần (Gevens và ctv., 2008).
Biện pháp hóa học
Một số thuốc trừ nấm như metalaxyl, fosetyl-Al và terrazole propamocarbhydrochloride có tác dụng lên mầm bệnh (Akgul và Mirik, 2008). Theo Zitter
(2003), các loại thuốc như chlorothalonil, Maneb hoặc Mancozeb có thể tiêu diệt
mầm bệnh. Sodium tetrathiocarbonate ở nồng độ 122, 245, 490 μg/ml làm giảm sự
hình thành bọc bào tử của nấm P. parasitica, P. capsici và P. cactorum với hiệu quả
lần lượt là 23, 65 và 98% (Erwin và Ribeiro, 1996).
Metalaxyl, metalaxyl/chlorothalonil và metalaxyl/Mancozeb được ghi nhận
tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây (Antoun và Prévost, 2005).
Những vi khuẩn thuộc các loài như Arthrobacter, Azotobacter, Bacillus và
Pseudomonas là những vi khuẩn được tìm thấy khi quan sát rễ non của cây. Những
vi khuẩn này có khả năng ngăn chặn các vi sinh vật có hại. Nhiều báo cáo về vai trò
của vi khuẩn vùng rễ cho thấy các vi khuẩn vùng rễ có khả năng kiềm chế hay
chiếm chỗ của mầm bệnh (trích dẫn Cavaglieri và ctv., 2004).
Vi khuẩn nội sinh rễ
Vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng trưởng cây trồng (Plant growth promoting
rhizobacteria - PGPR) là các vi khuẩn sống tự do, nhưng một số loài có thể xâm
nhập vào mô cây và sống bên trong các bộ phận của cây trồng được gọi là vi khuẩn
7
nội sinh rễ (endophytic bacteria). PGPR kích thích sự tăng trưởng của cây trồng bên
cạnh đó chúng còn có khả năng ức chế nhiều vi sinh vật gây hại và được xem là tác
nhân phòng trị sinh học nhiều bệnh hại trên cây trồng (Siddiqui, 2006). Có khoảng
2 - 5% vi khuẩn vùng rễ khi được chủng vào đất có hệ vi sinh vật cạnh tranh biểu
hiện có lợi cho sự tăng trưởng có lợi cho cây trồng (Kloepper và Schoth., 1987;
trích dẫn Antoun và Prévost, 2005).
Lian và ctv (2008) cho rằng các nhóm vi khuẩn nội sinh rễ như Bacillus spp.,
Pseudomonas spp., Serratia spp., Clavibacter…. các vi khuẩn này có khả năng ức
chế một số mầm bệnh trong đất như Phytophthora và Fusarium.
1.2.2 Vai trò của vi sinh vật vùng rễ
Theo Phạm Văn Kim (2006), vi sinh vật ở hệ rễ thực vật giữ vai trò khá quan
trọng. Các vi sinh vật làm cho các khoáng chất hoặc các chất như phosphat dưới
dạng không tan sẽ chuyển sang dạng đơn giản dễ tan giúp cây hấp thu dễ dàng bằng
cách là các vi sinh vật đó tiết ra CO2, các acid hữu cơ và acid vô cơ trong quá trình
hoạt động của chúng.
Bên cạnh đó, PGPR còn có khả năng sinh tổng hợp phytohocmon như auxin,
góp phần làm cho dịch bệnh không xảy ra đặc biệt là đối với các mầm bệnh có
nguồn gốc từ đất (Phạm Văn Kim, 2000).
Quần thể vi sinh vật đối kháng phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh nơi
chúng sinh sống và chịu tác động bởi hoạt động của con người. Hệ sinh thái càng đa
dạng, hệ vi sinh vật càng đa dạng, canh tác đa cây trồng hoặc xen canh sẽ giúp phát
triển phong phú hệ vi sinh vật đất so với hệ thống canh tác độc canh. Việc bón phân
hữu cơ vào đất cũng giúp cải thiện sự phong phú của nhóm vi sinh vật đất (Agrios,
2005).
Theo Phạm Văn Kim (2000) có 2 cách tác động của vi sinh vật đối kháng lên
các nhóm vi sinh vật khác:
- Kháng sinh (antibiosis): là ức chế mầm bệnh bởi tiến trình sản xuất ra các
chất kháng sinh. Ví dụ: Streptomyces, nấm Penicilium spp., vi khuẩn Pseudomonas
fluorescens.
- Tiêu sinh (lysis): là sự giết chết, làm tan đi, phân hủy sinh chất của mầm
bệnh. Có 2 cách tiêu sinh:
+ Ngoại tiêu sinh (exolysis): do tác động của enzyme từ bên ngoài làm
tiêu hủy màng tế bào của mầm bệnh, làm cho mầm bệnh ấy chết. Enzyme này do
một sinh vật khác tiết ra. Ví dụ: Nấm Trichoderma sp. kí sinh lên sợi nấm
Rhizoctonia solani và giết chết nấm R. solani.
+ Nội tiêu sinh (endolysis): là sự làm tan tế bào chất của mầm bệnh do vi
sinh vật ký sinh và từ bên trong gây ra. Ví dụ: thực khuẩn thể kí sinh tế bào
(bacteriophage).
1.3.1 Sự đối kháng
Sự đối kháng là hiện tượng xảy ra khi có một loài bị hại do tác động của một
hay nhiều loài vi sinh vật khác. Tác động ở đây là do vi sinh vật đối kháng đã tiết ra
chất kháng sinh hoặc chất có tác dụng tương tự. Ở nồng độ thấp chất kháng sinh tác
động đến sự tăng trưởng hoặc các hoạt động biến dưỡng của vi sinh vật khác (Biện
Phương Đông, 2005).
9
chủng chúng lên cây con trên vườn ươm.
- Các dòng vi khuẩn Paenibacillus polimyxa, Bacillus pumilus, Bacillus sp.
có khả năng tiết ra enzyme thuộc nhóm phân giải glucan như cellulase, manase,
xylanase và các enzyme phân hủy protein của vách tế bào nấm Aphamyces
cochlioides gây bệnh thối rễ trên cây củ cải đường (Nielson và ctv., 1997; trích dẫn
Lại Văn Ê, 2003).
- Một số chi vi khuẩn được tìm thấy như Micrococus, Bacillus,
Streptomyces, Serratia, Acromonas, Enterobacter,… chúng có khả năng tiết ra
10
enzyme phân hủy chitin (Hamed và ctv., 1996). Gonzalez và ctv (1996) cho biết vi
khuẩn Serratia marescens R1 và A23 tiết ra enzyme chitinase làm giảm chiều dài
ống mầm của nấm Mycosphaerella fijiensis 74,2% và 71,1% so sánh với đối chứng
không chủng vi khuẩn. S. entomophila và Bacillus cereus A30 cũng làm giảm chiều
dài ống mầm nấm Mycosphaerella fijiensis (trích dẫn Nguyễn Thị Thu Nga, 2003).
Vi khuẩn nhóm Pseudomonas spp. và Bacillus spp. phân lập từ vùng rễ dưa hấu
được ghi nhận có khả năng ức chế sự phát triển của khuẩn ty D. bryoniae và F. o.
f.sp. niveum và còn có khả năng tiết ra enzyme chitinase (Trương Thị Bích Ngân,
2009).
Ngoài ra, vi khuẩn Pseudomonas fluorescens có khả năng tổng hợp
siderophore để cạnh tranh sắt hữu dụng với mầm bệnh. Siderophore do vi khuẩn tiết
ra chủ yếu là pyoverdine hay pseudobactin. Hợp chất pyoverdine định vị ở rễ cây
trồng như là biện pháp sinh học ức chế bệnh trong đất (Loper và Buyer, 1991).
1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VI KHUẨN VÙNG RỄ TRONG
PHÒNG TRỊ SINH HỌC BỆNH HẠI CÂY TRỒNG
Trong số các vi khuẩn vùng rễ được nghiên cứu ứng dụng để phòng trừ sinh
học bệnh hại cây trồng thì nhóm vi khuẩn thuộc chi Pseudomonas và Bacillus là 2
nhóm vi khuẩn được chú ý nghiên cứu và có nhiều ứng dụng (Siddiqui, 2006).
B. cereus, B. pumilus, B. mycoides và B. sphaericus được biết là có khả năng kích
kháng hay đối kháng giúp giảm bệnh do nhiều loại tác nhân và trên nhiều loại cây
trồng khác nhau (Kloepper và ctv., 2004).
Theo Nguyễn Thị Thu Nga (2007), thì 2 chủng vi khuẩn Pseudomonas
fluorescens 231-1 và Bacillus 8 có khả năng phòng trị bệnh đốm lá chảy nhựa thân
trên dưa hấu (do nấm Didymella bryoniae) trong điều kiện nhà lưới. Kết quả nghiên
cứu của Biện Phương Đông (2005), 2 chủng vi khuẩn Burkholderia cepacia TG17
và Bacillus sp. TG19 đều có hiệu quả ức chế nấm Rhizoctonia solani và giúp kiểm
soát bệnh héo cây con R. solani trên cây cải xanh và cải ngọt.
Khi nghiên cứu sử dụng vi sinh vật đối kháng trong phòng trị sinh học nấm
Fusarium oxysporum và Rhizoctonia solani Kuhn gây bệnh chết cây con trên cây
hoa vải, kết quả thí nghiệm cho thấy vi khuẩn Pseudomonas sp. chủng AG - 249 và
AG - 245 khi xử lý riêng rẽ hay phối hợp đều cho tỷ lệ sống rất cao. Vi khuẩn
Pseudomonas sp. chủng AG - 249 và AG - 245 hạn chế sự phát triển của khuẩn ty
nấm F. oxysporum và R. solani trong môi trường PDA và NA rất tốt (Lại Văn Ê,
2003).
Ngoài ra còn có một số sản phẩm sinh học có nguồn gốc từ 2 chi vi khuẩn
Pseudomonas và Bacillus được sử dụng để phòng trị bệnh cây trồng.
- Sản phẩm BioYield với thành phần gồm 2 chủng Bacillus: B.
amyloliquefaciens GB19 và B. subtilis GB122 được khuyến cáo dùng để kích kháng
trên bắp cải, cải bông, dưa leo, dưa hấu, ớt, cà chua, chống lại nhiều tác nhân gây
bệnh và kích thích tăng trưởng của cây. BioYield còn có hiệu quả trong phòng trị
bệnh héo xanh trên giống cà chua nhiễm do nấm Ralstonia solanacearum gây ra
(Kloepper và ctv., 2004). Sản phẩm Kodiak chứa B. subtilis dòng GB03 do Mỹ sản
xuất phòng trị bệnh thối rễ do Rhizoctonia và Fusarium gây ra trên cây bông vải và
đậu phộng (Mahaffee và Mackman, 1993; trích dẫn Phạm Văn Dư và Nguyễn Thị
Phong Lan, 2004).
- Từ vi khuẩn Pseudomonas sản xuất ra chế phẩm sinh học mang tên
thương mại là Cedemon của Thụy Điển. Chế phẩm này được sử dụng rộng rãi ở