Tìm hiểu, mô tả, đánh giá và đề xuất bảo tồn giá trị văn nghệ dân gian của người Sán Dìu tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang. - Pdf 48

MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do tìm hiểu đề tài giá trị văn nghệ của người Sán Dìu ở Tuyên Quang.
2.Cảm nhận khi học và nghiên cứu học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt
Nam.
PHẦN NỘI DUNG
1. Khái quát về địa bàn tỉnh Tuyên Quang và tộc người Sán Dìu.
1.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế , xã hội tỉnh Tuyên Quang.
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Tuyên Quang
1.1.2. Dân số , kinh tế , xã hội.
1.2. Khái quát về tộc người Sán Dìu .
1.2.1. Tên gọi và nguồn gốc tộc người .
1.2.2. Dân số ,địa bàn cư trú.
1.2.3. Ngôn ngữ , chữ viết, trang phục.
1.2.4.Phong tục tập quán, tín ngưỡng.
1.2.5.Đặc điểm kinh tế- văn hóa:
2.Truyền thuyết, truyện thơ, hát Soọng cô và ý nghĩ văn nghệ dân giancủa
người Sán Dìu .
2.1.Truyền thuyết và truyện thơ của người Sán Dìu.


2.2. Hát Soọng cô nét văn hóa nghệ thuật đặc trưng nhất của người Sán Dìu.
2.2.1. Những nét chung về hát Soọng cô của người Sán Dìu.
2.2.2. Đặc trưng về nội dung.
2.2.3. Đặc trưng về nghệ thuật.
2.3. Ý nghĩa văn nghệ dân gian của người Sán Dìu.
2.3.1. Giá trị lịch sử.
2.3.2. Giá trị văn hóa, nghệ thuật và ảnh hưởng tới cộng đồng.
3. Đánh giá và đề xuất biện pháp để quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị về
văn nghệ dân gian của người Sán Dìu ở Tuyên Quang.


3

VH-TT

Văn hóa-Thông tin

4

DSVH

Di sản văn hóa

5

DSVH-VT

Di sản văn hóa vật thể

6

DSVH-PVT

Di sản văn hóa phi vật thể

7

CBQL

Cán bộ quản lý

Trong bài tiểu luận này tôi se tập trung nghiên cứu về các giá trị văn nghệ dân gian
của người Sán Dìu ở tỉnh Tuyên Quang.
2.Cảm nhận khi học và nghiên cứu học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt
Nam.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam tôi đã đươc trang bi thêm rất nhiều kiến thức cũng như hiểu biết thêm về
phong tục, tập quán, nhưng nét văn hóa riêng biệt của từng đồng bào dân tộc ít
nười trên mảnh đất hình chữ S thân thương . Dải rác trên mảnh đất Việt Nam ngoài
dân tộc Kinh với nhưng nét văn hóa nổi trội còn 53 dân tộc khác với nhưng nhét
đăc trưng trong văn hóa tất cả tạo nên một đất nước Việt Nam đa dạng về văn hóa.
Môn học này thôi thúc đam mê tìm hiểu văn hóa của các dân tộc trong con người
tôi.

PHẦN NỘI DUNG
1. Khái quát về địa bàn tỉnh Tuyên Quang và tộc người Sán Dìu.
1.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế , xã hội tỉnh Tuyên Quang.


1.1.1. Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang là một tỉnh thuộc vùng trung du - miền núi phía Bắc, diện tích tự
nhiên là 5.867 km2 , bằng 1,8% diện tích cả nước. Địa hình của Tuyên Quang khá
phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao và sông suối, đặc biệt ở khu vực phía
Bắc tỉnh. Phía Nam tỉnh địa hình thấp dần, ít bị chia cắt, có nhiều đồi núi thấp và
thung lũng chạy dọc theo các con sông.
1.1.2. Dân số , kinh tế , xã hội.
Tổng dân số là :746.700 người.
Tuyên Quang là tỉnh miền núi, nền kinh tế nông-lâm nghiệp chiếm ưu thế, mô hình
kinh tế trang trại kết hợp nông lâm. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Tuyên Quang xếp ở vị trí thứ 56/63
tỉnh thành.

đậm đà truyền thống, như lễ hội Lồng tông, lễ hội Nhảy lửa...

1.2. Khái quát về tộc người Sán Dìu .
1.2.1. Tên gọi và nguồn gốc tộc người .
Người Sán Dìu ở Việt Nam trước đây vẫn tự gọi dân tộc mình là San Dáo Nhín,
có nghĩa là Sơn Dao Nhân (tức người Dao ở trên núi). Các dân tộc lân cận dựa trên


đặc điểm cư trú, phương thức canh tác hoặc y phục truyền thống của người Sán
Dìu mà gọi họ bằng các tên khác như: Trại đất (người Trại ở nhà đất) để phân biệt
với Trại cao (người Cao Lan ở nhà sàn), Trại ruộng (người Trại làm ruộng), Trại
cộc, Mán cộc, Mán quần cộc (trang phục quần cộc), Mán váy xẻ (phụ nữ mặc váy
xẻ), Slán Dao.
Căn cứ vào ngôn ngữ và một số phong tục tập quán, người Sán Dìu được xếp vào
hệ ngôn ngữ Hán - Tạng ở Việt Nam. Từ đây, tên Sán Dìu là tên gọi chính thức
trong các văn bản của Nhà nước.
Người Sán Dìu di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm nay.
1.2.2. Dân số ,địa bàn cư trú.
Dân số trên cả nước: 146.821 (Tổng cục Thống kê năm 2009)
Dân số người Sán Dìu trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang: Cộng đồng người Sán Dìu
có hơn 10.000 người, chiếm khoảng 1,4% dân số toàn tỉnh
Người Sán Dìu sống ở miền Trung du các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ,
Thái Nguyên và Tuyên Quang.
1.2.3. Ngôn ngữ , chữ viết, trang phục.
Người Sán Dìu nói thổ ngữ Hán Quảng Ðông (ngữ hệ Hán - Tạng). Người Sán Dìu
chưa có chữ viết, nhưng nhiều người biết chữ Hán.
Trang phục: Phụ nữ mặc áo dài, quần chàm đen, đội khăn đen, thắt dây lưng màu
trắng, đeo tạp dề trước bụng quấn xà cạp trắng . đeo vòng ở cổ, ở tay và đeo xà tích
bạc bên hông. Nam giới mặc quần áo màu chàm.
1.2.4. Phong tục tập quán, tín ngưỡng.

người Sán Dìu .
2.1.Truyền thuyết và truyện thơ của người Sán Dìu.
Người Sán Dìu từ xa xưa đến ngày nay vẫn dùng chữ Hán phiên âm theo tiếng dân
tộc của mình. Sau này người Sán Dìu dùng các ký tự La tinh để làm ra thứ ngôn
ngữ của riêng mình trong các cuốn sổ tay bài hát, bài thuốc cổ truyền. Trong đó có
các tác phẩm như : Cạo chấy loang kênh (Kinh sách dạy con), Phòn Cú Vòng (Vua
Bàn Cổ), Hoi then dip thi (Mở trời dựng đất), Hoẹn Gạy Mòn (Văn khuyên đời).
Cạo chấy loang kênh (Kinh sách dạy con) là thể thơ bảy chữ, một trăm chín mươi
hai câu. Tuy ngắn về câu chữ nhưng dài về ý tưởng, hàm chứa trong đó bao ý nghĩa
sâu xa,đúc rút những triết lý xác đáng, cách cư xử giữa cha mẹ và con cái, con cái
với cha mẹ, anh em họ hàng, người với người trong xã hội. Nó đánh thức cái chân,
thiện, mỹ về lễ nghĩa làm người, giúp con cái học và hành theo đường hiếu
nghĩa… có hiếu với cha mẹ là điều không bao giờ lỗi thời. Cuốn sách chú trọng
dạy cái gốc của đạo làm người.
Ngoài những cuốn truyện thơ ra thì người Sán Dìu còn có những câu truyện truyền
thuyết lý giải các hiện tượng tự nhiên cung như nguồn gốc , phong tục tập quán
cũng như các dòng họ của người Sán Dìu . Trong đó nổi bật lên là Truyền thuyết về
“ Vua

Cóc” ( Khảm suy vong). Truyền thuyết này được chép bằng truyện thơ dài

hơn 800 câu, mỗi câu 7 chữ, lưu truyền rộng rãi trong tộc người Sán Dìu. Cốt
chuyện nhiều lần nhắc tới địa danh Tân Châu, Linh Sơn, Hà Nam. Ngoài các địa
danh “ Mãn Khê Quốc” qua lời kể của các cụ già và gia phả của các dòng họ,
người Sán Dìu vốn là tộc người nhỏ bé, sinh sống ở miền Nam Trung Quốc. Vào


những năm cuối thời nhà Minh đầu nhà Thanh( thế kỷ XVII), vì không chịu được
sự đàn áp bóc lột tàn bạo của bọn phong kiến thống trị, người Sán Dìu một lần nữa
phải lưu tán, một bộ phận nhỏ đã vượt biên giới Việt - Trung để vào Việt Nam.

hình thức sinh hoạt cộng đồng giữa hai bên: chủ và khách, nam và nữ, giữa làng nọ
với làng kia. Môi trường diễn xướng soọng cô tương đối phong phú, không bị giới
hạn bởi không gian, thời gian, hoàn cảnh. Người ta có thể hát một hoặc nhiều đêm,
có thể hát trong nhà, bên bờ suối, trên nương, trong đám cưới, khi ru con... và hát
chúc xuân trong các lễ hội. Môi trường diễn xướng hát soọng cô bao gồm:
Hát soọng cô ngoài trời, là những bài hát được thể hiện trong hội xuân, bên giếng
làng, thác nước, bờ suối, nương chè... khi nam nữ của hai hay nhiều làng gặp gỡ
nhau, hát đối đáp với nhau, thể hiện tình cảm qua lời hát.
Hát soọng cô trong nhà, là những bài hát giao duyên của các chàng trai, cô gái Sán
Dìu khi đến thăm nhà, thăm làng của nhau.
Hát soọng cô trong đám cưới, là những bài hát thể hiện sự vui mừng, phấn khởi
trong ngày cưới. Khúc hát tâm tình, giàu nhạc điệu được thay cho những câu đối
thoại phổ thông giữa hai họ.
Hát soọng cô trong lao động sản xuất, gồm những bài hát được thể hiện trong quá
trình lao động sản xuất, ở nương rẫy, đồng ruộng, đồi chè…


Có thể nói, soọng cô không đơn thuần là lời ca tiếng hát dân giã, thấm đượm hồn
người, mà còn là một nét văn hóa riêng với không gian, thời gian diễn xướng cùng
những tục lệ riêng của người Sán Dìu.
2.2.2. Đặc trưng về nội dung.
Nội dung của soọng cô rất phong phú, đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong
đời sống xã hội của dân tộc Sán Dìu như tình yêu đôi lứa, tình yêu thiên nhiên, quê
hương xứ sở, đề cao lao động, phê phán cái xấu... Tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà
soọng cô truyền tải những thông điệp văn hóa khác nhau. Căn cứ vào kết quả điền
dã tại địa phương, có thể chia nội dung của soọng cô thành ba dạng chính: hát giao
duyên, hát trong đám cưới và hát trong lao động sản xuất.
Hát giao duyên
Ở người Sán Dìu, tiếng hát giao duyên gần như là phương tiện chủ yếu để bày tỏ
tình cảm, trò chuyện, tìm hiểu, thể hiện tình yêu đôi lứa. Vậy nên, nội dung bao

Để chàng cùng liệu việc mình với ta
Ước gì chung mẹ chung cha
Chung nhà, chung cổng cùng vào một sân)


Đến lúc phải chia tay, họ lưu luyến hẹn ngày gặp lại bằng những câu hát tiễn gắn
với sông núi, xóm làng ...Câu hát giữa người ở, người về ngân dài hơn, lời hát lúc
ngập ngừng, khi da diết như muốn níu chân người lại. Người về như muốn nói,
muốn hát thêm mội chút, sợ những lời đã nói, đã hát chưa đủ làm bạn hiểu lòng
mình, người ở lại thì như muốn mượn câu hát để giữ chân bạn thêm chút nữa để tỏ
bày nỗi nhớ:
“Then cong bo
Hoi lống vọng choóc dịp xan thó
Choóc chấy lý xan lý noi kẹo
Lóng kim lý nỉ bác bôn xói”
(Trời sắp sáng
Mở lồng thả chim bay vào núi
Chim xa núi đêm ngày chim hót
Anh xa nàng anh nhớ không quên)
Nam, nữ có thể hát với nhau trong một đêm, cũng có thể kéo dài đến ba bốn đêm
nhưng lời ca của đêm hát sau không được trùng lặp với đêm trước. Điều này thể
hiện tài ứng tác thơ ca của người Sán Dìu, làm cho vốn soọng cô ngày càng phong
phú.
Những đêm hát giao duyên của các chàng trai cô gái Sán Dìu thường diễn ra ở
trong nhà, bên bờ suối, hoặc khu đất trống trước làng. Nếu hát trong nhà, đầu tiên
khách phải xin phép gia chủ để được hát giao duyên. Khi đã được chủ nhà đồng ý,
các đôi trai gái sẽ được thỏa sức trổ tài ca hát, từ lúc đó bắt đầu cho một đêm hát
giao duyên.



bạn bè. Từ đây, nhà trai và nhà gái có mỗi quan hệ bền chặt, gắn bó, là điểm tựa
vững chắc cho đôi vợ chồng trẻ. Lễ vật do nhà trai chuẩn bị gồm: trứng luộc, sợi
chỉ xanh, đỏ, đồng xu, rượu. Khi nhà trai dâng lễ vật trao cho nhà gái, đại diện nhà
gái sẽ hát để hỏi về mùi vị rượu, thời gian làm rượu… Quả trứng luộc được bóc vỏ,
lấy lòng đỏ hòa với rượu mời mọi người. Trong khi uống rượu, hai họ lại tiếp tục
hát đố. Sau khi xong lễ khai hoa tửu, nhà trai xin phép nhà gái được đón dâu.
Người con gái trước khi về nhà chồng thường được mẹ căn dặn đạo làm dâu.
Soọng cô trong đám cưới thường do các cặp nam giới đối đáp nhau, nhà trai cử hai
anh hát, nhà gái cũng cử hai anh. Hát suốt ngày suốt đêm cho đến khi tan tiệc cưới.
Hát trong lao động sản xuất
Nhìn chung, soọng cô có trong lao động sản xuất chiếm số lượng không nhiều, chủ
yếu đề cao lao động, phản ánh kinh nghiệm sản xuất của đồng bào, cũng có bài ca
phản ánh sự gắn bó giữa nhịp điệu lao động và cảm xúc con người trong lao động
như các bài hò của người Kinh. Hình thức diễn xướng chủ yếu là hát đơn, hát đối
đáp trong lúc nghỉ ngơi, trao đổi kinh nghiệm sản xuất.
2.2.3.Đặc trưng nghệ thuật
Về thể thơ
Soọng cô thường được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, mỗi bài hát có 4 câu tạo
thành một đoạn nhạc và được lặp lại nhiều lần với kết cấu gần giống nhau nhưng
được dệt bằng lời thơ khác. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng tiếng Hán được sử
dụng nhiều khi hát, khi dịch ý, các nghệ nhân dịch theo thể thơ lục bát.


“Sọng cô ben ọi cô lói tọi
Phá then ben ọi sủi líu soi
Thén chông mạo sủi mong dịu sủi
Bi chông mạo sủi mong sủi lói”
(Xướng ca cần đối lời ca
Ruộng thừa nước đủ, bừa là phẳng phiu
Ruộng khô cần nước mưa nhiều

2.3.1. Giá trị lịch sử.
Tất cả các loại hình dân gian của người Sán Dìu nói chung và đặc biệt hát soọng cô
nói riêng đều mang những giá trị lịch sử vô cùng to lớn đối với không chỉ đồng bào
dân tộc Sán Dìu mà còn cả với đất nước. nhưng giá trị văn hóa của các dân tộc tạo
nên một nước Việt Nam với nền văn hóa đa dạng.
Đối với giá trị lịch sử của hát soọng cô. Hát Soọng cô ra đời sớm, gắn bó với sự
hình thành và phát triển của cộng đồng người Sán Dìu, dường như mọi thứ được tái
hiện trong điệu hát từ lối sống, nếp nghĩ, lao động sản xuất… phản ánh chân thực
cuộc sống, thế giới tâm hồn của người dân.
Soọng cô không chỉ là sản phẩm nghệ thuật dân gian mà còn là tâm thức dân gian,
phản ánh các hiện tượng lịch sử, xã hội ở những cung độ khác nhau. Các hiện


tượng lịch sử, xã hội trong soọng cô thường không rõ về mốc thời gian, địa điểm
nhưng lại rất dễ nhớ, gần gũi bởi nó được diễn đạt bằng lời ca, tâm hồn, cảm xúc
và hình ảnh đời sống sinh động, chân thực của người Sán Dìu. Bởi vậy, soọng cô
có giá trị tích cực trong giáo dục con người về cội nguồn dân tộc, gìn giữ, phát huy
từ ngữ trong các làn điệu dân ca hàm chứa sâu sắc mối quan hệ trong gia đình, họ
hàng, anh em, tình yêu đôi lứa, trong lao động sản xuất… để truyền lại cho thế hệ
sau.
2.3.2. Giá trị văn hóa, nghệ thuật và ảnh hưởng tới cộng đồng.
Tất cả các truyện thơ , truyền thuyết được chép bằng thể loại thơ ca của người Sán
Dìu đều mang lại những giá trị nghệ thuật đặc sắc và mang tính giáo dục cao cho
các thế hệ tiếp theo.
Soọng cô là di sản văn hóa phi vật thể, món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời
sống của người dân Sán Dìu. Mọi vật như trang phục, nhà ở, kinh nghiệm sản xuất,
môi trường sống, tâm tư tình cảm... đều được tái hiện sinh động trong làn điệu
soọng cô. Người Sán Dìu hát soọng cô bằng tâm hồn, cảm xúc, biểu hiện những
quan niệm đẹp đẽ, trong sáng, chất phác về mối quan hệ giữa người với người
thông qua thái độ tôn trọng nghĩa tình và lòng thủy chung son sắt.

này một cách có chủ trương đề an. Nhất là về hát soọng cô đã trở thành đặc trưng
văn hóa phi vật thể của cộng đồng người Sán Dìu ở Tuyên Quang. Ngày 8-6-2015,


Bộ VHTTDL ra Quyết định số 1877/QĐ-BVHTTDL về việc công bố Danh mục di
sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đã công nhận hát soọng cô là DSVH-PVT cần
được bảo tồn.
3.1.2. Nhược điểm.
Tuy đã được nhà đảng và nhà nước công nhận nhưng giá trị văn nghệ dân gian và
đưa vào chính sách bảo tồn nhưng hiện nay nhưng bản truyện thơ , truyền thuyết
của người Sán Dìu cũng không còn nhiều. Với sự phát triển của nền kinh tế và xã
hội thì các giá trị văn nghệ dân gian không chỉ của người Sán Dìu mà của nhiều tộc
người khác cũng đang bị mai một dần dần. Hiện tại soọng cô của người Sán Dìu đã
phần nào bị mai một, lối hát chỉ còn lại trong những câu chuyện của người già.
Còn nam nữ thanh niên dường như không còn biết hát soọng cô. Trong những đêm
hội, đám cưới, hát soọng cô được thay thế dần bằng những bài hát mới.
3.2. Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn nghệ dân gian truyền thông của
người Sán Dìu.
3.2.1. Nâng cao công tác tổ chức và quan lý.
Tiếp tục tăng cường nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng,
chính quyền và các cơ quan liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ khoa học về
văn hoá, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá đặc sắc của tỉnh; tổ chức thực hiện
có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá, quy hoạch, dự án phát
triển văn hoá.
Coi trọng và làm tốt công tác bảo tồn di sản văn hoá của các dân tộc; Thống kê,
lập hồ sơ các di sản văn hóa; khuyến khích tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân
nghiên cứu, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể; áp dụng
các biện pháp cần thiết của chính quyền các cấp để bảo vệ các giá trị văn hóa



biết tự hào và trân trọng những giá trị tinh thần, đạo đức, phong tục tốt đẹp của
mình, phát huy các giá trị văn hóa tích cực truyền thống trong cuộc sống mới. Xây
dựng và thực hiện quy ước văn hóa trên cơ sở kết hợp những yếu tố truyền thống
tốt đẹp. Tổ chức hình thức hoạt động văn hóa lành mạnh để thu hút nhân dân tham
gia.
Khơi dậy sức sáng tạo chủ động của nhân dân trong các hình thức sinh hoạt cộng
đồng nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động văn hóa trong thời kỳ mới. Giữ gìn truyền
thống văn hoá trong gia đình, trong làng, bản, tạo điều kiện cho quần chúng tiếp
nhận thông tin về mọi mặt đời sống kinh tế xã hội và thực hiện quyền làm chủ của
mình.


KẾT LUẬN
Văn nghệ dân gian của hầu hết các tộc người ở Việt Nam nói chung và tộc người
Sán Dìu nói riêng đầu đang ngày càng bị mai một theo sự phát triển, nhu cầu về
kinh tế xã hội. Việc bảm tồn phát triển những giá trị văn hóa văn nghệ dân gian của
các dân tộc là việc vô cùng cần thiết hiện nay. Đối với các bạn sinh viên chuyên
ngành quản lý văn hóa những cán bộ quản lý văn hóa trong tương lại cần phải được
trang bị đầy đủ kiến thức cung như cơ sở lý luận để phục vụ cho việc tìm hiểu
nghiên cứu cũng như đề xuất ý kiến bảo tồn các giá trị văn hóa tại nơi mình công
tác và làm việc sau nay. Muốn có được những kiến thức cơ sở lý luận vững chắc thì
ngay từ bây giờ khi còn là sinh viên còn ngồi trên giảng đường đại học chúng ta
cần có những phương pháp học tập và nghiên cứu một các cụ thể và đúng đắn.


TÀi LIỆU THAM KHẢO

1.

Link của sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Tuyên Quang :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status