MỞ ĐẦU
“Hòn đá tảng” trong học thuyết kinh tế Mác chính là học thuyết về giá
trị thặng dư. Trong đó, lý luận về hàng hóa sức lao động lại là cơ sở cho học
thuyết giá trị thặng dư của ông. C.Mác thấy rằng trong chế độ tư bản chủ
nghĩa (TBCN), để đạt được giá trị thặng dư, nhà tư bản bắt buộc phải tìm ra
trên thị trường một loại hàng hóa đặc thù, đó chính là sức lao động của con
người. Tuy nhiên để có được sự phục vụ của sức lao động đó nhà tư bản phải
bỏ tiền ra để trả công cho người lao động. Điều đó đã đưa C.Mác đi sâu
nghiên cứu về tiền công trong CNTB. Nhờ việc phân tích một cách khoa học
vấn đề tiền công dưới CNTB đã giúp ông vạch trần bản chất bóc lột của giai
cấp tư sản đối với giai cấp vô sản. Cho đến ngày nay, những quan điểm của
C.Mác về vấn đề tiền công dưới CNTB vẫn giữ nguyên giá trị và có một ý
nghĩa lý luận - thực tiễn lớn lao trong xem xét, cải cách chế độ tiền lương ở
nước ta hiện nay. Bởi lẽ, tiền lương là mối quan tâm hàng đầu và là động lực
làm việc của người lao động trong bất cứ tổ chức nào. Do vậy, việc xây dựng
một hệ thống tiền lương khoa học, hợp lý, làm đòn bẩy kích thích năng suất
và hiệu quả lao động luôn là nhiệm vụ lớn đặt ra cho các cơ quan nhà nước. Ở
nước ta, chính sách tiền lương nói chung và chính sách tiền lương hành chính
nhà nước nói riêng hiện nay còn nhiều hạn chế và bất hợp lý, ảnh hưởng
không nhỏ tới hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng như sự phát triển
kinh tế - xã hội nói chung. Do đó, thực hiện một chế độ, chính sách tiền lương
hành chính nhà nước phù hợp, đảm bảo tối đa lợi ích, nâng cao mức sống cho
người hưởng lương là một vấn đề quan trọng hàng đầu trong từng chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Với lý do đó tác giả chọn vấn đề nghiên
cứu: “Lý luận tiền công của C.Mác dưới chủ nghĩa tư bản. Vận dụng vào
cải cách chính sách tiền lương khu vực hành chính nhà nước ở nước ta hiện
nay” cho bài thu hoạch của mình.
2
NỘI DUNG
rằng: tiền công của loại công nhân bậc thấp do hai nhân tố quyết định là lượng
cầu về lao động và giá cả thông thường hay trung bình của lương thực. Tiền
công chịu sự tác động của nhân khẩu và quy mô của tư bản quyết định tiền công.
Ông là người đã phân biệt tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế (giá cả bằng
tiền và giá cả thực tế của công lao động).
Tuy vậy, dù đã có nhiều cố gắng song A.Smith đã mắc sai lầm về lý luận
tiền công như: coi tiền công là giá cả của lao động, là phạm trù đặc trưng cho tất
cả các giai đoạn phát triển kinh tế.
Tiếp thu, kế thừa có phê phán các quan điểm của W.Petty và A.Smith,
D.Ricardo - nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh - đã có những đóng góp
lớn trong lý luận về tiền công. Ông đưa ra kết luận quan trọng về sự đối
kháng giữa tiền lương và lợi nhuận; ông nhận thấy quy luật của tư bản: năng
xuất lao động tăng lên, tiền lương giảm và lợi nhuận thì tăng. Ông đã phân
tích được tiền công thực tế và xác định nó như là một phạm trù kinh tế rằng:
Lượng hàng hóa người công nhân mua được bằng tiền công, chưa quyết định
được địa vị xã hội của người đó, sự quyết định tình cảnh của công nhân phụ
thuộc vào mối tương quan giữa tiền lương và lợi nhuận. Ông cho rằng: tiền
công cao sẽ làm cho nhân khẩu tăng nhanh, dẫn đến cung về lao động lớn hơn
cầu về lao động, theo đó tiền công sẽ giảm xuống, đời sống công nhân xấu đi.
Theo lý luận của các nhà kinh tế học tiểu tư sản: tiền công phụ thuộc
vào tích lũy tư bản vào số lượng công nhân, cung – cầu về lao động. Thất
nghiệp là hiện tượng thường xuyên do sự gia tăng của tiền công và dân số.
Nguyên nhân trực tiếp của đời sống công nhân giảm sút là do giảm giá lao
động, do áp dụng máy móc tối tân. Như vậy về thực chất họ cũng không
hiểu bản chất tiền lương.
4
Như vậy, lý luận tiền công đã được nhiều nhà kinh tế học trước C.Mác
nghiên cứu, nhưng những quan điểm của họ không làm rõ được bản chất của
Như vậy, công nhân làm việc cho nhà tư bản một thời gian nào đó thì
nhận được số tiền trả công nhất định. Số lượng tiền công nhiều hay ít được
xác định theo thời gian lao động hoặc số, chất lượng sản phẩm sản xuất ra.
Hiện tượng đó làm cho người ta lầm tưởng rằng, tiền công là giá cả lao động.
Sự thật thì tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động. Vì lao
động không phải là hàng hoá và không thể là đối tượng mua bán. Bởi vì: sức
lao động là toàn bộ những tiềm năng, khả năng về thể lực và trí lực lao động
tồn tại dưới dạng tiềm tàng trong một con người bình thường. Còn lao động là
quá trình tiêu dùng sức lao động đó dưới hình thức cụ thể để tạo ra một giá trị
sử dụng nào đó. Cho nên:
Một là: nếu lao động là hàng hoá thì nó phải có trước, phải được vật hoá
trong một hình thức cụ thể nào đó. Tiền để cho lao động có thể “vật hoá”
được là phải có tư liệu sản xuất. Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất
thì họ sẽ bán hàng hoá do mình sản xuất, chứ không bán “lao động”. Người
công nhân không thể bán cái mình không có. Mặt khác, nhà tư bản mua hàng
hóa sức lao động bởi vì: nhà tư bản chỉ trả tiền công cho công nhân sau khi
công nhân đã hao phí sức lao động để sản xuất ra hàng hoá.
Hai là: việc thừa nhận lao động là hàng hoá dẫn tới một trong hai mâu
thuẫn về lý luận sau đây: Nếu lao động là hàng hoá và được trao đổi ngang
giá, thì nhà tư bản không thu được giá trị thặng dư- điều này phủ nhận sự tồn
tại thực tế của quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản. Còn nếu hàng
hoá được trao đổi không ngang giá để có giá trị thặng dư cho nhà tư bản, thì
sẽ phủ nhận quy luật giá trị.
1
C.Mác và PH. Ăng – Ghen, Toàn tập, tập 23, Nxb. CTQG., HN., 1993, tr. 754.
6
khác, đối với công nhân thì toàn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện để
có tiền sinh sống. Do đó, bản thân công nhân cũng tưởng rằng mình bán lao
động; còn đối với nhà tư bản việc bỏ tiền ra để có lao động, nên cũng nghĩ
rằng cái mà họ mua là lao động. Đồng thời, do cách thức trả công điều đó
khiến người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả lao động.
Rõ ràng tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia thời gian
ngày lao động thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư;
lao động được trả công và lao động không được trả công; theo đó đã che đậy
quan hệ bóc lột của tư bản và lao động.
1.2.2. C.Mác đã nghiên cứu làm rõ hình thức tính tiền công dưới CNTB
Tùy theo tính chất lao động của công việc mà nhà tư bản vận dụng hình
thức trả công nào cho phù hợp nhằm kính thích người lao động hăng say sản
xuất. C.Mác đã chỉ rõ tiền công trong CNTB thường có các hình thức cơ bản:
Tiền công tính theo thời gian, là hình thức tiền công mà số lượng của nó
ít hay nhiều tuỳ thuộc theo thời gian lao động của công nhân dài hay ngắn.
Phải phân biệt tổng tiền công ngày, tiền công tuần với giá cả sức lao
động. Muốn biết giá cả sức lao động thì lấy giá trị trung bình hàng ngày của
sức lao động chia cho số giờ trung bình của ngày lao động dùng làm đơn vị để
đo giá cả sức lao động.
Quy luật chung về tiền công tính theo thời gian là phụ thuộc vào số
lượng lao động (độ dài ngày lao động) và vào giá cả lao động, còn bản thân
giá cả lao động lại biến đổi theo giá trị sức lao động. Nếu số lượng lao động
hàng ngày, hàng tuần không đổi, thì tiền công ngày hay tuần là do giá cả lao
động quyết định. Ngược lại, nếu giá cả lao động không đổi, thì tiền công lại
do số lượng lao động hàng ngày, hàng tuần quyết định. Do đó, không những
tiền công hạ xuống có hại cho công nhân mà giá cả lao động giảm xuống cũng
8
có hại như thế. Nếu số lượng lao động hàng ngày, hàng tuần không đổi, thì
9
lớn để cho công nhân có được một số lượng tiền công đủ sống; rồi tiền công
thấp sẽ kích thích kéo dài thêm ngày lao động.
Tiền công tính theo sản phẩm, là hình thức tiền công mà số lượng của
nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm đã làm ra hoặc số lượng công việc đã
hoàn thành trong một thời gian nhất định.
C.Mác cho rằng: “Tiền công tính theo sản phẩm chẳng qua chỉ là hình
thức chuyển hóa của tiền công tính theo thời gian” 3. Mỗi sản phẩm được trả
công theo một đơn giá nhất định gọi là đơn giá tiền công. Đơn giá tiền công là
giá trả công cho mỗi đơn vị sản phẩm đã sản xuất ra theo giá biểu nhất định.
Khi quy định đơn giá, người ta lấy tiền công trung bình của công nhân trong
ngày chia cho số lượng sản phẩm mà công nhân sản xuất ra trong 1 ngày bình
thường. Do đó, về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho một thời
gian cần thiết nhất định để sản xuất một sản phẩm. Vì thế, tiền công tính theo
sản phẩm chỉ là hình thức chuyển hoá của tiền công tính theo thời gian.
Hình thức tiền công theo sản phẩm càng che giấu và xuyên tạc bản chất
của tiền công hơn so với hình thức tiền công tính theo thời gian. Việc thực
hiện hình thức tiền công tính theo sản phẩm một mặt làm cho nhà tư bản dễ
dàng kiểm soát công nhân; mặt khác, đẻ ra sự cạnh tranh giữa công nhân kích
thích công nhân phải lao động tích cực nâng cao cường độ lao động, tạo ra
nhiều sản phẩm để nhận được tiền công cao hơn. Vì vậy, chế độ tiền công
dưới chủ nghĩa tư bản thường dẫn đến tình trạng lao động khẩn trương quá
mức, làm kiệt sức người lao động. Tiền công tính theo sản phẩm giúp cho nhà
tư bản dễ kiểm soát lao động, chất lượng lao động được kiểm tra bằng chính
bản thân sản phẩm; đồng thời qua đó còn giúp cho nhà tư bản có một thước
đo chính xác cường độ lao động của công nhân, giúp cho nhà tư bản dễ nâng
cao cường độ lao động và kéo dài ngày lao động.
3
Sđd., tr. 777.
Sđd., tr. 785.
11
Mối quan hệ giữa hai loại tiền công: Tiền công danh nghĩa và tiền công
thực tế quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không chồng khít lên nhau. Tiền công
danh nghĩa là giá cả của hàng hoá sức lao động, nó có thể tăng lên hay hay giảm
xuống tuỳ theo quan hệ cung cầu về hàng hoá sức lao động trên thị trường.
Trong một thời gian nào đó số lượng tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên nhưng giá cả tư liệu sinh hoạt và dịch vụ tăng lên hay giảm xuống thì tiền công thực
tế cũng giảm xuống hay tăng lên. Tiền công thực tế lại phụ thuộc và số lượng
tiền công danh nghĩa và phụ thuộc vào giá trị các tư liệu sinh hoạt, cũng như
điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi địa phương… C.Mác đã chỉ ra rằng: trước
hết phải tính đến những điều kiện cụ thể và lịch sử quyết định giá trị sức lao
động trong một nước (khối lượng nhu cầu bình thường cho đời sống công nhân,
giá cả tư liệu sinh hoạt, chi phí đào tạo, vai trò phụ nữ, trẻ em, năng suất và
cường độ lao động…)
Do vậy, phải quy tiền công trung bình trong một ngành công nghiệp của
các nước khác nhau theo một ngày lao động dài như nhau, sau đó lại quy định
ra tiền công sản phẩm. Vì chỉ có tiền công sản phẩm mới làm thước đo năng
suất và cường độ lao động được. Ngoài ra lại phải xét đến vấn đề tiền công
theo quan điểm của quy luật giá trị trên phạm vi quốc tế. Ở đây, mức cường
độ trung bình trong nước không được tính theo phạm vi quốc gia thì vẫn còn
được tính trên phạm vi quốc tế nếu mức cường độ đó còn cao hơn cường độ ở
nước khác. Điều quan trọng hơn là lao động ở nước có năng suất cao hơn
cũng được xem là tạo ra nhiều giá trị hơn, giống như trường hợp lao động có
trình độ cao hơn. Theo đó, có thể tiền công danh nghĩa của nước có trình độ
phát triển cao có tiền công danh nghĩa cao hơn tiền công danh nghĩa ở các
nước có trình độ phát triển thấp hơn. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng: tiền
công thực tế (số lượng và chất lượng tư liệu sinh hoạt mà tiền công thực tế đó
khoảng 200 ngàn tỉ đồng tiền lương. Để xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng
13
yêu cầu của công cuộc đổi mới, thì "công cụ" tiền lương vẫn được coi là giải
pháp quan trọng và luôn là thách thức lớn đối với các cơ quan chức năng.
Trong hệ thống tiền lương khu vực hành chính Nhà nước hiện nay, mức
lương thấp nhất được xác định là hệ số bậc 1 của nhân viên phục vụ, tạp vụ
(bằng tiền lương tối thiểu chung), tuy nhiên đây không phải là mức tiền lương
thấp nhất của công chức. Mức tiền lương thấp nhất của công chức là tiền
lương của chức danh nhân viên kế toán sơ cấp (ngạch C3, hệ số lương 1,35 so
với tiền lương tối thiểu).
Qua lần cải cách năm 2004, số lượng bảng lương khu vực hành chính Nhà
nước đã được rút bớt từ 21 xuống 7 bảng lương, số lượng các bậc trong các bảng
lương không nhiều. Quan hệ tiền lương được xác định theo quan hệ: tối thiểu trung bình - tối đa theo các chức danh: nhân viên tạp vụ - chuyên viên tốt
nghiệp đại học hết tập sự - chủ tịch nước, tương ứng là 1 - 2,34 - 13,0. Đồng
thời, trong xây dựng bảng lương cho các ngạch công chức, đã sử dụng phương
pháp phân tích, chuyên gia để xác định mức độ phức tạp lao động của các chức
danh. Các mức tiền lương là thang giá trị, làm căn cứ trả lương cho công chức và
tính toán các khoản chịu thuế, đóng bảo hiểm xã hội.
Cán bộ, công chức bổ nhiệm trong các cơ quan hành chính, bầu cử, tư
pháp, Đảng, đoàn thể được xếp theo bảng lương chuyên môn nghiệp vụ, phần
tiền lương chức vụ không nằm trong cơ cấu bảng lương mà được quy định
bằng phụ cấp chức vụ tương ứng (hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo tính so với
tiền lương tối thiểu) cho đến khi thôi ở vị trí lãnh đạo.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước luôn coi cải cách chính
sách tiền lương là ưu tiên hàng đầu trong bất cứ giai đoạn phát triển nào của
đất nước. Đảng và Nhà nước luôn khẳng định: Tiền lương phải cơ bản đảm
bảo đủ sống cho người lao động và phù hợp với sự phát triển kinh tế; tiền
lương công chức phải “tương xứng với nhiệm vụ, công vụ được giao”; điều
15
tế khu vực và thế giới; thì chính sách tiền lương và hệ thống lương hành chính
nhà nước ở nước ta hiện nay vẫn đang còn bộc lộ những bất cập, làm ảnh
hưởng tới nhiều vấn đề kinh tế – xã hội.
- Hiện nay mức lương tối thiểu là cơ sở để tính toán tiền lương của cán
bộ, công chức khu vực hành chính nhà nước, tuy nhiên, lương tối thiểu chưa
đáp ứng được mức sống tối thiểu của đại bộ phận cán bộ, công nhân viên
chức nhà nước, đặc biệt là chức danh lao động phục phụ, tạp vụ. Tăng lương
tối thiểu nhưng không kịp với tình hình trượt giá và mức sống thực tế hiện
nay của hầu hết đội ngũ cán bộ, công chức, lao động hợp đồng trong cơ quan
hành chính nhà nước, lương không đủ để bảo đảm tái sản xuất sức lao động.
Chỉ số giá tiêu dùng năm 2007 tăng 12,63%, 2008: 22,97%, 2009: 8,22%,
2010: 11,75%), làm cho tiền lương thực tế của công chức giảm nhanh. Một số
mặt hàng tăng với tốc độ rất nhanh, như tăng giá vàng, thực phẩm, xăng dầu,
điện... trong khi giá cả các mặt hàng này có liên quan đến nhu cầu hàng hoá
để đảm bảo nâng cao mức sống của cán bộ, công chức.
- Cơ chế "bình quân chủ nghĩa", "đến hẹn lại lên" trong cách trả lương
và tăng lương cho công chức cũng là một điểm yếu trong chính sách tiền
lương hiện nay. Nhiều người có tuổi nhưng thiếu năng lực vẫn nghiễm nhiên
được hưởng mức lương cao gấp hai, gấp ba những công chức trẻ có năng lực
thật sự. Không có sự khác nhau rõ ràng trong cơ chế trả lương cho những
công chức làm việc với chất lượng và hiệu quả khác nhau. Dù làm nhiều hay
ít, hiệu quả hay không, miễn là không bị kỷ luật, công chức vẫn sẽ được trả
lương theo ngạch, bậc hay bằng cấp và thâm niên. Thực tế đầy mâu thuẫn này
vô hình chung làm triệt tiêu động lực phát triển của công chức.
- Trong cải cách tiền lương năm 2004, việc tiền tệ hoá tiền nhà vào lương
có tác dụng nâng cao vai trò tiền lương trong nền kinh tế. Tuy nhiên, do mức
lương thấp và cơ cấu tiền nhà trong tiền lương rất thấp nên không ý nghĩa nhiều
17
lương của viên chức khu vực sự nghiệp có thu có thể gấp từ 2 đến trên 4 lần
so với tiền lương quy định trong các bảng lương của Nhà nước.
Tóm lại, ở nước ta hiện nay, chính sách tiền lương hành chính nhà nước
mặc dù đã có đổi mới và tiến bộ không ngừng cùng với sự phát triển và hoàn
thiện thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thì bên cạnh đó
còn tồn tại nhiều bất cập. Những bất cập đó có tác động rất lớn đến quá trình
phát triển kinh tế - xã hội. Việc tăng lương tối thiểu nhiều lần trong thời gian
qua là một nỗ lực lớn của Nhà nước trong cải cách chính sách tiền lương đối
với công chức, nhưng không mang lại những thay đổi đáng kể về lương thực
tế nếu gắn với tốc độ gia tăng giá tiêu dùng. Thực tế, chính sách tiền lương
hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay chưa phản ánh đúng bản chất nền
kinh tế thị trường, chưa phản ánh đúng giá trị hàng hóa sức lao động. Do đó,
việc nâng lương tối thiểu chưa có tác dụng nhiều để cải thiện hơn đời sống
của công chức và cũng không làm thay đổi được hiệu quả, chất lượng của
công việc theo chiều hướng tích cực hơn. Lương chưa thực sự tạo ra động lực
kích thích người lao động làm việc với năng xuất chất lượng hiệu quả cao và lại
càng không thể gắn kết trách nhiệm của người lao động với công việc.
2.2. Một số vấn đề cần được quan tâm trong cải cách chính sách
tiền lương hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay
Trong bối cảnh hiện nay, việc giải quyết chính sách tiền lương là rất
phức tạp, khó khăn đòi hỏi chúng ta phải tính đến nhiều mặt, nhiều phương án
trên cơ sở khoa học và có bước đi thích hợp với điều kiện kinh tế của đất
nước trong từng giai đoạn cụ thể. Để hiện thực hoá những chủ trương nêu trên
của Đảng và Nhà nước và để tiền lương thực sự trở thành động lực khiến
công chức làm việc có hiệu quả, cần có sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy trả
lương cho công chức, người hưởng lương từ nhân sách nhà nước. Để họ
không phải kiếm thêm thu nhập ngoài lương như hiện nay, chúng ta cần thay
hơn thế là tái sản xuất mở rộng sức lao động trên các phương diện: thể lực, trí
lực, văn hóa tinh thần và chi phí đào tạo cho cả người lao động lẫn con cái họ.
Thực hiện tăng cả tiền lương danh nghĩa lẫn tiền lương thực tế, trong đó tăng
tiền lương thực tế là hướng trọng tâm.
Hai là: Cải cách tiền lương phải gắn liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế
và tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Trong đó, một số chỉ tiêu quan
trọng cần tính đến trong thiết kế là tốc độ phát triển kinh tế, GDP/người, khả
năng tài chính của quốc gia, giá cả sức lao động trên thị trường lao động, chỉ
số giá sinh hoạt...
Ba là: Lương phải thể hiện sự đánh giá chính xác của xã hội đối với tài
năng, trí tuệ, năng lực, kết quả lao động và cống hiến của mỗi người. Tiền
lương phải thực hiện được vai trò kích thích tính năng động, sáng tạo, tính kỷ
luật, nâng cao hiệu quả và tăng năng xuất lao động đối với mỗi người, là giải
pháp tối ưu cho phòng, chống tham nhũng.
Bốn là: Cải cách chính sách tiền lương phải tiến tới bảo đảm cho cán
bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương từ ngân sách nhà nước sống
được bằng tiền lương ở mức trung bình khá trong xã hội. Trên cơ sở đó, hình
thành các cơ chế tiền lương ngày càng phù hợp với thể chế kinh tế thị trường
định hướng XHCN và tạo động lực nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức nhà nước.
Năm là: Cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu
đãi người có công phải khắc phục được những bất hợp lý về quan hệ tiền
lương trong từng khu vực và giữa các khu vực: hành chính, sự nghiệp công
lập, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang. Cải cách chính sách tiền lương, bảo
20
hiểm xã hội và ưu đãi người có công phải gắn với việc bảo đảm tốt hơn đời
sống của người nghèo, đồng bào dân tộc, các đối tượng chính sách xã hội.
* Một số yêu cầu cần thực hiện cải cách chính sách tiền lương hành
chính sách tiền lương sẽ có tác động lớn đến hàng chục triệu người lao động
hưởng lương, vì vậy nếu xây dựng chính sách tiền lương đúng sẽ làm cho con
người, xã hội phát triển tốt, hay nói cách khác, chính sách tiền lương khoa học
sẽ là động lực để từng người, từng vị trí và từng tổ chức trong xã hội có điều
kiện phát triển đạt hiệu quả cao nhất.
22
KẾT LUẬN
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tiền lương không chỉ là
vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề xã hội chính trị sâu sắc. Chính sách tiền
lương cũng là một công cụ đòn bẩy để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Có chính sách tiền lương hợp lý, sẽ góp phần to lớn giải quyết các vấn đề an
sinh xã hội nhất là giải quyết việc làm, tăng thu nhập, ổn định và từng bước
nâng cao đời sống nhân dân, góp phần ổn định chính trị xã hội.
Trong thời gian tới đòi hỏi chính sách tiền lương xây dựng phải trên
cơ sở các quy luật khách quan của cơ chế thị trường. Cơ chế, chính sách
tiền lương phải bảo đảm tính linh hoạt, mềm dẻo tránh áp đặt chủ quan, có
sự phù hợp tương đối giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế.
Chính sách tiền lương phải trên cơ sở giá trị hàng hóa sức lao động, trả
lương phải căn cứ vào thời gian và chất lượng hiệu quả công việc. Đổi
mới chính sách tiền lương phải theo hướng bảo đảm bù đắp và không
ngừng tái sản xuất ra sức lao động với chất lượng ngày càng cao hơn.
Cải cách tiền lương hành chính nhà nước luôn là vấn đề phức tạp và
nhạy cảm trong bất cứ giai đoạn nào. Để thực hiện thành công, cải cách chính
sách tiền lương cần phải tiến hành đồng bộ với các nội dung cải cách khác
trong hệ thống hành chính nhà nước. Cải cách chính sách tiền lương không
đơn thuần là giải quyết vấn đề lương tối thiểu, mà cần phải đạt tới sự công
bằng và hợp lý trong việc trả lương cho công chức thông qua việc trả lương
căn cứ vào cơ chế thị trường, dựa trên vị trí công việc đảm nhận và theo kết