Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Lý luận về tiền lơng đã đợc các nhà kinh tế nghiên cứu từ rất lâu bắt đầu
là W.Petty. Chính William Petty là ngời đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng
cho lý thuyết "quy luật sắt về tiền lơng". Lý thuyết mức lơng tối thiểu phản
ánh trình độ phát triển ban đầu của CNTB. Lúc này, sản xuất cha phát triển, để
buộc công nhân làm việc, giai cấp t sản phải dựa vào Nhà nớc để duy trì mức
lơng thấp. Tuy nhiên từ lý luận này ta thấy đợc là, công nhân chỉ nhận đợc từ
sản phẩm lao động của mình những t liệu sinh hoạt tối thiểu do họ tạo ra. Phần
còn lại đã bị nhà t bản chiếm đoạt. Đó là mầm mống phân tích sự bóc lột.
Lý luận về tiền lơng của Mác là sự tiếp tục phát triển lý luận về tiền l-
ơng của các nhà kinh tế cổ điển trớc đó. Lý luận tiền lơng của Mác đã vạch rõ
bản chất của tiền lơng dới CNTB đã bị che đậy tiền lơng là giá cả của lao
động, bác bỏ quan niệm của các nhà kinh tế t bản trớc đó (Ricardo). Những
luận điểm của Mác về tiền lơng vẫn còn giá trị đến ngày nay.
Mặc dù ở nớc ta chính sách tiền lơng đã đợc cải cách. Tuy nhiên, nhiều
vấn đề cốt lõi vẫn cha đợc giải quyết một cách thoả đáng. Cho đến nay, thu
nhập của ngời đợc hởng lơng tăng, mức sống, tiêu dùng tăng, về cơ bản không
do chính sách tiền lơng đem lại mà do tăng thu nhập ngoài lơng, nhờ kinh tế
tăng trởng (tiền lơng Nhà nớc trả chỉ chiếm một phần ba, thu nhập khác chiếm
tới hai phần ba).
Việc hiểu và vận dụng đúng những nguyên lý về tiền lơng của Mác
trong điều kiện nền kinh tế thị trờng ở nớc ta hiện nay có ý nghĩa rất lớn.Cải
cách chính sách tiền lơng sẽ ảnh hởng nh thế nào đến lợi ích của ngời lao
động, và nên tiến hành cải cách nh thế nào để đảm bảo đợc lợi ích ngời lao
động, đến lợi ích của toàn quốc gia ? Đây là vấn đề đã thu hút đ ợc sự quan
tâm của đông đảo ngời lao động và chuyên gia nghiên cứu. Xuất phát từ ý
nghĩa lý luận và thực tiễn nêu trên mà ngời viết lựa chọn đề tài này nhằm hiểu
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
rõ hơn về hệ thống chính sách tiền lơng ở Việt Nam, nhằm đa ra các kiến nghị
của lao động.
Sở dĩ biểu hiện bề ngoài của tiền lơng đã che dấu bản chất của nó là do
những nguyên nhân sau:
Một là, việc mua bán sức lao động là mua bán chịu. Hơn nữa, đặc điểm
của hàng hoá - sức lao động không bao giời tách khỏi ngời bán, nó chỉ nhận đ-
ợc giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho ngời mua, tức là lao động cho
nhà t bản, do đó nhìn bề ngoài chỉ thấy nhà t bản trả giá trị cho lao động.
Hai là, đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là phơng tiện
để có tiền sinh sống, do đó, bản thân công nhân cũng tởng rằng mình bán lao
động. Còn đối với nhà t bản việc bỏ tìên ra để có lao động, nên cũng nghĩ rằng
cái mà họ mua là lao động.
Ba là, do cách thức trả lơng. Số lợng của tiền lơng phụ thuộc vào thời
gian lao động hoặc sản phẩm sản xuất ra, điều đó khiến ngời ta lầm tởng rằng
tiền lơng là giá cả lao động.
Tiền lơng che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành
thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng d, thành lao động đợc
trả công và lao động không đợc trả công, do đó tiền lơng che đậy bản chất bóc
lột của chủ nghĩa t bản.
1. Các chức năng cơ bản của tiền lơng:
a. Chức năng thuớc đo giá trị:
Nh trên đã nêu, tiền lơng là sự thể hiện bằng tiền của giá trị sức lao
động, đợc biểu hiện ra bên ngoài nh là giá cả của sức lao động. Vì vậy tiền l-
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ơng chính là thuớc đo giá trị sức lao động, đợc biểu hiện nh giá trị lao động cụ
thể của việc làm đợc trả công. Nói cách khác, giá trị của việc làm đợc phản
ánh thông qua tiền lơng. Nếu việc làm có giá trị càng cao thì mức lơng càng
lớn.
b. Duy trì và phát triển sức lao động:
Theo Mác tiền lơng là biểu hiện giá trị sức lao động, đó là giá trị của
mức tiền lơng quyết định tổng cầu về hàng hoá và dịch vụ cần thiết phải sản
xuất cũng nh giá cả của nó. Do vậy, tiền lơng phải dựa trên cơ sở tăng năng
suất lao động. Việc tăng nang suất lao động luôn luôn dẫn đến sự tái phân bố
lao động. Theo qui luật thị trờng, lao động sẽ tái phân bố vào các khu vực có
năng suất cao hơn để nhận đợc các mức lơng cao hơn.
e. Chức năng xã hội của tiền lơng
Cùng với việc kích thích không ngừng nâng cao năng suất lao động,
tiền lơng còn là yếu tố kích thích việc hoàn thiện các mối quan hệ lao động.
Thực tế cho thấy, việc duy trì các mức tiền lơng cao và tăng không ngừng chỉ
đợc thực hiện trên cơ sở hài hoà các mối quan hệ lao động trong các doanh
nghiệp. Việc gắn tiền lơng với hiệu quả của ngời lao động và đơn vị kinh tế sẽ
thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lần nhau, nâng cao hiệu quả cạnh
tranh của công ty. Bên cạnh đó, tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện của con
ngời và thúc đẩy xã hội phát triển theo hớng dân chủ và văn minh.
2. Các hình thức cơ bản của tiền lơng
Tiền lơng có hai hình thức cơ bản là: tiền lơng tính theo thời gian và
tiền lơng tính theo sản phẩm.
a. Tiền lơng tính theo thời gian
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tiền lơng tính theo thời gian là hình thức tiền lơng mà số lợng của nó
phụ thuộc vào thời gian lao động của công nhân (giời, ngày, tuần, tháng).
Cần phân biệt lơng giờ, lơng ngày, lơng tháng. Giá cả của một giờ lao
động là thớc đo chính xác mức tiền lơng tính theo thời gian. Tiền lơng ngày và
lơng tuần cha nói rõ đợc mức tiền công đó thấp hay cao, vì còn tuỳ thuộc theo
ngày lao động dài hay ngắn. Do đó, muốn đánh giá đúng mức tiền lơng không
chỉ căn cứ vào lợng tiền, mà còn căn cứ vào độ dài của ngày lao động và cờng
độ lao động.
Thực hiện chế độ tiền lơng theo thời gian, nhà t bản có thể không thay
đổi lơng ngày, lơng tuần, mà vẫn hạ thấp đợc giá cả lao dộng do kéo dài ngày
giai đoạn đầu phát triển của chủ nghĩa t bản, còn ở giai đoạn sau thì tiền lơng
tính theo sản phẩm đợc áp dụng rộng rãi hơn. Hiện nay, hình thức tiền lơng
tính theo thời gian ngày càng đợc mở rộng.
3. Tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế. Xu hớng vận động của
tiền lơng dới chủ nghĩa t bản.
a. Tiền lơng danh nghĩa và tiền lơng thực tế
Tiền lơng danh nghĩa là tổng số tiền mà ngời công nhân nhận đợc do
bán sức lao động của mình cho nhà t bản. Nó là giá cả sức lao động. Nó tăng
giảm theo sự biến động trong quan hệ cung cầu về hàng hoá sức lao động
trên thị trờng. Đối với ngời công nhân, điều quan trọng không chỉ ở tổng số
tiền nhận đợc dới hình thức tiền lơng mà còn ở chỗ có thể mua đợc gì bằng
tiền lơng đó, điều đó phụ thuộc vào giá cả vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ.
Tiền lơng thực tế là số lợng hàng hoá và dịch vụ mà công nhân có thể
thu đợc bằng tiền lơng danh nghĩa. Rõ ràng, nếu điều kiện khác không thay
đổi, tiền lơng thực tế phụ thuộc theo tỷ lệ thuận vào đại lợng tiền lơng danh
7