TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
ĐẶNG THỊ BÍCH NGỌC
RÈN KĨ NĂNG NHẬN BIẾT BIỆN PHÁP
TU TỪ NHÂN HÓA VÀ SO SÁNH
CHO HỌC SINH LỚP 3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.S LÊ BÁ MIÊN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN!
Bằng những kiến thức được thầy cô trong nhà trường trang bị trong
suốt thời gian học, với sự nỗ lực của bản thân cùng với sự hướng dẫn chỉ bảo
tận tình của các thầy cô giáo chúng tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô, đặc biệt là
thầy giáo Lê Bá Miên đã hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả riêng của bản
thân, không trùng với bất cứ một kết quả nào khác.
2.1. Chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt 3 ...................................... 14
2.2. Về việc dạy và học của giáo viên và học sinh ...................................... 16
Chương 2: Các kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh và nhân hoá ......... 18
1.Rèn kĩ năng đọc văn bản để nhận biết các biện pháp tu từ ...................... 18
1.1. Đọc thầm ............................................................................................... 19
1.2. Đọc thành tiếng ..................................................................................... 20
2.Kĩ năng dựa vào ngôn ngữ để nhận biết các biện pháp tu từ .................... 21
2.1. Kĩ năng dựa vào ngôn ngữ để nhận biết cấu trúc của các biện pháp tu
từ................................................................................................................... 21
2.1.1. Cấu trúc của biện pháp nghệ thuật so sánh ..................................... 22
2.1.2. Cấu trúc của biện pháp nghệ thuật nhân hoá .................................. 29
2.2. Kĩ năng dựa vào từ ngữ để nhận biết các biện pháp tu từ nhân hóa và so
sánh .............................................................................................................. 32
2.2.1. Dựa vào từ ngữ để nhận biết biện pháp nghệ thuật so sánh ........... 33
2.2.2.Dựa vào từ ngữ để nhận biết biện pháp tu từ nhân hoá ................... 34
3.Kĩ năng nhận biết hiệu quả sử dụng của các biện pháp tu từ nhân hoá và
so sánh .......................................................................................................... 39
3.1. Hiệu quả nhận thức ............................................................................... 48
3.2. Hiệu quả biểu cảm ............................................................................... 53
3.3. Hiệu quả thẩm mỹ ................................................................................. 58
PHẦN KẾT LUẬN ......................................................................................... 64
Tài liệu tham khảo ........................................................................................... 66
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Bảng thống kê chất lượng về kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ
so sánh ............................................................................................................. 29
Bảng 2: Bảng thống kê chất lượng kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ
biểu cảm. So sánh tu từ còn là phương thức bộc lộ tâm tư tình cảm một cách
kín đáo và tế nhị. Như vậy đối với tác phẩm văn học nói chung so sánh mang
chức năng nhận thức và biểu cảm.
Nhờ những hình ảnh bóng bảy, ước lệ, dùng cái này để đối chiếu cái
kia nhằm diễn tả những ngụ ý nghệ thuật mà so sánh tu từ được sử dụng phổ
biến trong thơ ca, đặc biệt là thơ viết cho thiếu nhi. So sánh tu từ giúp các em
hiểu và cảm nhận được những bài thơ, bài văn hay, từ đó góp phần mở mang
1
tri thức làm phong phú về tâm hồn, tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý
thức, yêu quý Tiếng Việt giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt cho học sinh.
Song song với biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá là một biện pháp tu từ có khả
năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức
miêu tả sinh động, diễn đạt mọi sắc thái biểu cảm của sự vật được liên tưởng
giống như con người.Nhờ những hình ảnh nhân hoá trong thơ ca, đặc biệt là
văn, thơ viết cho thiếu nhi. Biện pháp tu từ nhân hoá giúp các em cảm nhận
được những cái hay, cái đẹp của phép liên tưởng nhằm đi đến phát hiện ra nét
cá biệt giống nhau (nét tương đồng)về thuộc tính, hoạt động giữa con người
và các đối tượng không phải là người từ đó góp phần mở mang tri thức làm
phong phú về tâm hồn, tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quý
Tiếng Việt và gìn giữ sự trong sáng Tiếng Việt cho học sinh.
2. Lịch sử vấn đề:
So sánh và nhân hóa là hai biện pháp tu từ khá phổ biến, được dùng
nhiều trong lời ăn tiếng nói hàng ngày cũng như trong các tác phẩm văn
chương nghệ thuật. Chính vì vậy đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều luận
văn nghiên cứu vấn đề này.
Điểm qua các tác giả có nghiên cứu về hai biện pháp tu từ nhân hoá và
so sánh có những tác giả sau:
3.2. Yêu cầu:
Để đạt được những mục đích trên, chúng tôi đặt ra các yêu cầu sau:
Đọc và nắm chắc lí thuyết về hai biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh.
Thống kê tư liệu để xem khả năng của học sinh Tiểu học nhận biết các
biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh. Trên cơ sở đó để rèn kĩ năng nhận biết
các biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh cho trẻ.
3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để giải quyết tốt mục đích cũng như những nhiệm vụ của đề tài
, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4. 1. Phƣơng pháp phân tích ngôn ngữ học
Phương pháp này được sử dụng để xem xét và phân tích cơ chế, cấu
tạo của hai biện pháp này.
4. 2. Phƣơng pháp khảo sát thực tế và thống kê số liệu
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khảo sát và thống kê bài làm
của học sinh. Từ đó tìm hiểu xem khả năng nhận biết và tổng hợp các tư liệu
khảo sát qua bài làm của học sinh, tìm ra những lỗi sai, thống kê, phân loại lỗi
sai trong việc sử dụng biện pháp so sánh và nhân hoá cho học sinh. Cụ thể các
bước tiến hành như sau:
Bước 1: Đọc tài liệu lí luận liên quan đến đề tài
Bước 2 : Tiến hành thống kê, thu thập tư liệu nghiên cứu.
Bước 3: Vận dụng lí luận để phân tích, xử lí các tư liệu thống kê.
Bước 4: Viết khoá luận.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Giúp học sinh có kĩ năng nhận diện các biện pháp tu từ, đồng thời rèn
luyện những kĩ năng nhận biết, phân biệt, biết các cách so sánh và nhân hoá tu
từ.Giúp học sinh tiếp cận kịp thời với sách giáo khoa đồng thời giúp giáo viên
Hai biện pháp tu từ này đã được rất nhiều các tác giả nghiên cứu .
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc [ 5 ] so sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, so
sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai
đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn
toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một
lối tri giác mới mẻ về đối tượng.
Mô hình cấu tạo so sánh hoàn chỉnh gồm bốn yếu tố:
Yếu tố 1: yếu tố được hoặc bị so sánh
Yếu tố 2: yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động.
Yếu tố 3: yếu tố thể hiện quan hệ so sánh
Yếu tố 4: yếu tố được đưa ra làm chuẩn để so sánh
Theo tác giả Cù Đình Tú [ 7 ] so sánh tu từ là cách công khai đối chiếu
hai đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm biểu hiện một cách
hình tượng phẩm chất bên trong của một đối tượng. So sánh tu từ bao giờ
cũng gồm hai vế: vế được so sánh (vế A) và vế so sánh (vế B). Mối quan hệ
giữa vế A và vế B được gắn với nhau theo công thức sau:
A như B (tựa, dường như)
B (hoặc A) bao nhiêu A (hoặc B) bấy nhiêu
A là B
6
Theo tác giả Nguyễn Thái Hoà [ 1 ]so sánh là hình thức diễn đạt tu từ
khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai đối tượng có
một tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những xúc cảm thẩm mĩ
trong nhận thức của người đọc, người nghe. So sánh gồm bốn yếu tố: cái so
sánh, cơ sở so sánh, từ so sánh và cái được so sánh.
Về biện pháp nhân hóa :
Theo GS Đinh Trọng Lạc [ 6 ] nhân hóa (còn gọi nhân cách hóa) là
So sánh tu từ (còn gọi là so sánh hình ảnh) là một biện pháp tu từ trong
đó người ta đối chiếu các sự vật với nhau miễn là giữa các sự vật có một nét
tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong
nhận thức người đọc, người nghe.
Ví dụ:
Bà như quả ngọt chín rồi
Càng thêm tuổi tác ,càng tươi lòng vàng.
(TV3, T1, Tr.7)
Ở ví dụ trên, “bà” được ví như quả ngọt đã chín, bà càng có tuổi thì
tình cảm của bà càng sâu sắc, càng ngọt ngào như quả chín cây. Với sự so
sánh này, người cháu đã thể hiện được tình cảm yêu thương, quý trọng của
mình đối với bà.
Như vậy, so sánh tu từ khác với so sánh logic ở tính hình tượng, tính
biểu cảm và tính dị loại của sự vật. Nếu như giá trị của so sánh logic là xác
lập được sự tương đương giữa hai đối tượng thì giá trị của so sánh tu từ là ở
sự liên tưởng, sự phát hiện và gợi cảm xúc thẩm mỹ ở người đọc, người nghe.
Hình thức đầy đủ nhất của so sánh gồm 4 yếu tố:
- Yếu tố (1) là cái so sánh, đây là yếu tố được hoặc bị so sánh tuỳ theo việc so
sánh là tích cực hay tiêu cực.
- Yếu tố (2) là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay trạng thái
của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò nêu rõ phương
diện so sánh.
8
- Yếu tố (3) là mức độ so sánh thường được diễn ra ở mức độ ngang bằng như
nhau. Ngoài từ “như” còn có các từ “tựa”, “tựa như”, “giống”, “giống như”,
“là”, “như là”, “như thể”…
- Yếu tố (4) là cái được so sánh tức là cái đưa ra để làm chuẩn so sánh.
rộng và nước có màu xanh thẳm” thì sẽ không tác động nhiều đến người nghe
bằng cách nói ví von của Vũ Tú Nam “Mặt biển sáng trong như tấm thảm
khổng lồ bằng ngọc thạch” (TV3, tr.8). Bởi vì, ở cách nói thứ hai không chỉ
đơn thuần là thông tin, sự kiện mà nó còn thể hiện thái độ của người nói đối
với sự kiện đó. Đúng là cũng nói về biển nhưng qua xúc cảm của nhà văn,
biển trở nên đẹp và có hồn hơn bởi vì nhà văn đã sử dụng phép so sánh trong
khi miêu tả.
Với chức năng biểu cảm, so sánh là “cách nói” dễ đi vào lòng người, dễ
chiếm được lòng người, làm cho người ta dễ nhớ, dễ thuộc và nhớ lâu. So
sánh tu từ chính là một phương thức tạo hình, gợi cảm, là đôi cánh giúp cho
chúng ta bay vào thế giới của cái đẹp, của trí tưởng tượng vô cùng phong phú.
Tóm lại, so sánh tu từ có ý nghĩa rất quan trọng. Nó là một phương pháp làm
tăng hiệu quả trong việc sử dụng ngôn ngữ. Tất nhiên, mức độ hiệu quả tuỳ
thuộc vào khả năng cụ thể, vào vốn ngôn ngữ và sự rèn kĩ năng thường xuyên
ở mỗi người.
Khoá luận của chúng tôi dựa vào cơ sở lí thuyết của tác giả Đinh Trọng Lạc.
1.2. Phép tu từ nhân hoá
a. Khái niệm:
Nhân hóa là biến sự vật thành con người bằng cách gán cho nó những
hoạt động, tính cách, suy nghĩ…giống như con người, làm cho nó trở nên sinh
động, hấp dẫn, gần gũi, sống động và có hồn hơn.
Ví dụ :
- Con gà trống biết tán tỉnh láo khoét, biết mời gà mái đến để đãi giun.
- Bác xe biết ngửi thấy mùi đất mới.
10
b. Các hình thức nhân hóa
- Nhân hóa để tả hình dáng
linh hoạt được.
Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh luyện tập một cách có
hệ thống , trong đó chú ý uốn nắn các động tác sai lệch và ứng dụng tri thức
vào thực tiễn nhằm giải thích các hiện tượng, nhất là góp phần giải quyết
những vận động do thực tiễn đặt ra một cách sâu sắc. Trong khi luyện tập và
ứng dụng tư duy, giáo viên cần giúp cho học sinh nắm được tri thức khoa học
cũng như tri thức về các tháo tác để có thể rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo có cơ sở
khoa học. Ở bậc Tiểu học, các phương thức nhằm hoàn thiện tri thức ( củng
cố, ôn tập thường xuyên, luyện tập…) có tác động qua lại với nhau và có ý
nghĩa rất quan trọng để đạt được tính bền vững và sự hoàn thiện tri thức đã
học.
- Ôn tập thường xuyên là quá trình liên tục nhắc lại những tri thức đã học,
được thực hiện ngay trong mỗi giờ học, giữ vai trò chủ chốt trong việc học
sinh lĩnh hội vững chắc tri thức.
- Ôn tập khái quát có ý nghĩa đối với tính bền vững tri thức và phát triển trí
tuệ cho học sinh. Kết quả này nhằm giúp cho học sinh nhìn thấy tư tưởng chủ
đạo, tầm bao quát rộng của tài liệu và tính chất sống động của nó.
Các tri thức khi vận dụng sẽ được chuyển hóc thành kĩ năng, kĩ xảo.
Kĩ năng là tri thức về hành động. Trong kĩ năng cần phân biệt rõ hai mặt: kĩ
năng được xem như sự sẵn sang về năng lực áp dụng tri thức vào thực tiễn, và
kĩ năng được xem như hệ thống thủ thuật ( vận động hay trí tuệ ) đảm bảo
năng lực đó. Như vậy, kĩ năng là hệ thống thủ thuật bảo đảm cho người ta sẵn
sang và có năng lực hoàn thành công việc một cách có ý thức và độc lập, với
chất lượng cần thiết và trong thời gian tương ứng trong những điều kiện mới.
Những kĩ năng mà học sinh tiểu học nắm trong quá trình học tập là rất đa
dạng kĩ năng quan sát và rút ra kết luận đúng đắn từ quan sát,kĩ năng trình bày
12
nhanh và có hiệu quả các biện pháp tu từ cũng như các dạng bài tập khác. Ở
bậc tiểu học, học sinh cần được củng cố, ôn tập thường xuyên và luyện tập
thực hành các dạng bài tập nhiều lần, lặp đi lặp lại để những tri thức ấy trở
thành kĩ năng, kĩ xảo cần có.
Ở đề tài này, chúng tôi hướng tới các kĩ năng nhận biết các biện pháp
tu từ trong đó có kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng dựa vào ngôn ngữ để
phân tích nhận ra cấu trúc của hai biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh, kĩ
năng nhận biết hiệu quả sử dụng của hai biện pháp tu từ này.
Những hiểu biết về kĩ năng kĩ xảo mà chúng tôi vừa trình bày sẽ là cơ sở để
chúng tôi rèn kĩ năng nhận biết các biện pháp tu từ nhân hoá và so sánh cho
học sinh lớp 3.
2. Cơ sở thực tiễn:
2.1. Chƣơng trình và sách giáo khoa Tiếng Việt 3
Về sách giáo khoa, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 hiện nay đã chú trọng
phương pháp thực hành nhưng những bài tập cấu tạo vẫn còn ít, đơn điệu,
kiến thức dạy học sinh còn mang tính trừu tượng nên học sinh còn gặp nhiều
khó khăn trong quá trình lĩnh hội các kiến thức mới.
Về chương trình dạy học lớp 3, có tới 32 văn bản chứa các hình ảnh so sánh
như:
- Hai bàn tay em
- Cô giáo tí hon
- Người mẹ
- Mẹ vắng nhà ngày bão
- Ông ngoại
- Mùa thu của em
- Ngày khia trường
- Nhớ lại buổi đầu tiên đi học
14
15
- Cuộc họp của chữ viết
- Nhớ lại buổi đầu đi học
- Lừa và ngựa
- Bận
- Tiếng ru
- Nhà bố ở
- Anh Đom Đóm
- Ngày hội rừng xanh
- Đi hội chùa Hương
- Cóc kiện Trời
- Mưa
- Bài hát trồng cây
- Người đi săn và con vượn
- Mè hoa lượn sóng
- Cuộc chạy đua trong rừng
2.2. Về việc dạy và học của giáo viên và học sinh
Về phía giáo viên:
Người giáo viên còn gặp không ít khó khăn như cơ sở vật chất, phương
tiện dạy học và tài liệu tham khảo còn ít. Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn
chú trọng quan tâm đến việc lồng ghép trong quá trình dạy học giữa các phân
môn của môn
Tiếng Việt với nhau, để khơi dậy sự hứng thú học tập và sự tò mò của
phân môn này với phân môn khác trong môn Tiếng Việt.
Hiện nay giáo viên được tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn rất nhiều.
Đặc biệt trong sinh hoạt chuyên môn giáo viên đủ mạnh dạn đề ra những câu
hỏi, những phương pháp để dạy tốt hơn. Nhiều tiết dạy thể hiện năng lực tốt,
phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh. Song bên cạnh đó vẫn có
Giáo sư Trần Đình Sử có viết “Đọc là hoạt động cơ bản của con người
để chiếm lĩnh văn hóa”. Bản thân việc đọc đã có nhiều mức độ từ đọc thông,
đọc thuộc, không vấp váp về ngữ âm, nghĩa từ, biết ngừng giọng đúng chỗ là
một trình độ. Bước hai đọc kỹ, đọc sâu để biết được cách hành văn, sắp xếp ý,
dụng ý trong dùng từ, ngắt câu, chơi chữ lại là một trình độ khác. Bước thứ ba
là đọc hiểu cái thông điệp mà văn bản gửi đến cho người đọc là một mức rất
cao. Nhưng đọc văn là để cảm, đế sống, để thưởng thức, để dùng, để tự phát
triển bản thân, cho nên đọc sáng tạo và đọc sử dụng là khâu cao nhất. Người
đọc phải tìm được cái nghĩa mà người đọc trước chưa thấy, thậm chí hiểu cái
nghĩa ngoài tầm kiểm soát của tác giả.
Việc đọc hiểu được sử dụng để tìm hiểu nội dung bài mới.Rèn đọc
hiểu giúp việc nâng cao năng lực tư duy của học sinh, từ đó các em tự chiếm
lĩnh kiến thức mới và vận dụng kiến thức đó theo năng lực bản thân. Những
yêu cầu về kĩ năng đọc đó là phải đọc đúng và đọc rõ ràng bài văn, bài thơ
đơn giản, hiểu được nghĩa các từ thông thường và ý của câu. Bên cạnh đó còn
kết hợp ôn luyện vần và luyện nói.
Trong những năm đầu bậc tiểu học quá trình đọc, ngày càng
nâng cao. Học sinh cần phải chiếm lĩnh văn bản cả về nội dung và nghệ thuật.
Vì thế, cần hình thành cho học sinh các bước tìm hiểu văn bản.
- Hiểu các từ, các cụm từ.
- Hiểu các câu.
18
- Hiểu các đoạn, những tập hợp câu dùng để phát biểu một ý kiến trọn
vẹn.
- Hiểu được cả bài thơ hay bài văn
Trong kĩ năng đọc có nhiều loại đọc khác nhau như: đọc thầm và đọc thành
tiếng.