Rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 5 qua kiểu bài làm văn tả người - Pdf 43

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...............................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề...................................................................................................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.....................................................................................6
5. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................................7
6. Cấu trúc đề tài...................................................................................................................7
Chương 1...............................................................................................................................8
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG............................................8
BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH CHO HỌC SINH LỚP 5...................................................8
QUA KIỂU BÀI LÀM VĂN TẢ NGƯỜI............................................................................8
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài..............................................................................................8
1.1.1. Giới thuyết về biện pháp tu từ so sánh..............................................................8
1.1.1.1. Khái niệm...................................................................................................8
1.1.1.2. Phân loại biện pháp tu từ so sánh............................................................10
1.1.1.3. Các kiểu so sánh.......................................................................................11
1.1.1.4. Vai trò của biện pháp tu từ so sánh trong văn tả người............................17
1.1.2. Kiểu bài làm văn tả người...............................................................................19
1.1.2.1. Một số lưu ý khi làm bài văn tả người.....................................................19
1.1.2.2. Yêu cầu cơ bản đối với học sinh lớp 5 khi làm văn tả người..................22
1.1.3. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 5 đối với hoạt động tạo lập văn bản....23
1.2. Cơ sở thực tiễn.........................................................................................................26
1.2.1. Thống kê về kiểu bài làm văn tả người trong chương trình Tập làm văn lớp 5
.........................................................................................................................................26
1.2.2. Khảo sát thực trạng rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh cho học sinh
lớp 5 qua kiểu bài làm văn tả người ở một số trường tiểu học thành phố Huế...............28
1.2.2.1. Về phía giáo viên.....................................................................................28
1.2.2.2. Về phía học sinh......................................................................................34
1.2.2.3. Kết luận chung.........................................................................................39
Chương 2.............................................................................................................................40

3.1.4. Phương pháp thực nghiệm...............................................................................72
3.1.5. Tổ chức thực nghiệm.......................................................................................72
3.2. Kết quả thực nghiệm................................................................................................81
3.2.1. Kết quả viết văn tả người của học sinh............................................................81
3.2.2. Kết quả trắc nghiệm về mức độ hứng thú của học sinh.................................85
3.2.3. Đánh giá chung................................................................................................86
KẾT LUẬN.........................................................................................................................88
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................91
PHỤ LỤC..............................................................................................................................1


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các bài dạy văn tả người trong chương trình Tiếng Việt 5.
Bảng 1.2: Bảng số liệu khảo sát nhận thức của giáo viên về về vai trò của việc rèn
kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh cho học sinh qua kiểu bài làm
văn tả người.
Bảng 1.3: Bảng số liệu khảo sát hình thức và phương pháp tổ chức nhằm rèn kĩ
năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong bài văn tả người cho học
sinh.
Bảng 1.4: Bảng số liệu khảo sát sự quan tâm của giáo viên về việc rèn kĩ năng sử
dụng biện pháp tu từ so sánh cho học sinh trong bài văn tả người.
Bảng 1.5: Bảng số liệu khảo sát nhận thức của học sinh về biện pháp tu từ so sánh
và kiểu bài làm văn tả người.
Bảng 1.6: Bảng số liệu khảo sát năng lực của học sinh khi vận dụng biện pháp tu
từ so sánh trong bài văn tả người.
Bảng 1.7: Bảng số liệu khảo sát cách thức vận dụng của học sinh để có bài văn tả
người đạt hiệu quả cao.
Bảng 3.1: Các lớp thực nghiệm và đối chứng.
Bảng 3.2: Các bài dạy học thực nghiệm.
Bảng 3.3: Kết quả viết văn tả người của học sinh.

sinh đã quan sát trực tiếp trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Một bài văn tả
người hay không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động mà còn thể
hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết đối với đối
tượng được tả. Bởi vì trong thực tế không ai tả mà để tả, mục đích của nó
thường là gửi gắm những suy nghĩ, sự đánh giá của mình. Vì vậy, với kiểu bài
làm văn tả người, các em có thêm điều kiện để rèn luyện và phát triển sự
thống nhất giữa tư duy và tình cảm, ngôn ngữ và nhận thức cuộc sống, con
người trong mối quan hệ với xã hội… trên cơ sở đó hình thành thế giới quan
cho bản thân.
1.2. Văn tả người nhằm “vẽ ra” để người đọc hình dung về ngoại hình,
hành động và tính cách của đối tượng. Vì thế, khi viết văn tả người, người viết
thường sử dụng các biện pháp tu từ như một phương tiện giúp nâng cao hiệu
quả diễn đạt, tăng sức gợi cảm, chất tạo hình, sức sống cho đối tượng được
1


miêu tả.
So sánh là biện pháp tu từ được sử dụng nhiều nhất trong văn tả người.
Đây cũng là biện pháp có thể kích thích được hứng thú sáng tạo của học sinh
tiểu học, là cách thức để các em thỏa mãn những khả năng vận hành ngôn ngữ
vì sự liên tưởng, tưởng tượng trong so sánh giúp các em dễ dàng hơn trong
biểu đạt tình cảm, thái độ của mình đối với những người xung quanh. Chính
vì tầm quan trọng của biện pháp nghệ thuật này mà ngay từ đầu của năm lớp
ba, so sánh được đưa vào giảng dạy để học sinh làm quen, tìm hiểu và thực
hành ứng dụng. Điều này giúp học sinh sớm vận dụng được biện pháp tu từ so
sánh trong cách nói, cách viết, làm cho câu văn trở nên sinh động, giàu hình
ảnh. Đồng thời cũng khắc phục tình trạng viết văn khô khan, không sinh động,
thiếu cảm xúc của học sinh. Nhờ có so sánh mà học sinh có thể thả sức tưởng
tượng để làm nổi bật những chi tiết, những vẻ đẹp độc đáo để đối tượng được
tả hiện lên vừa chân thực vừa lôi cuốn.

học của Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở
tiểu học của Lê Phương Nga – Nguyễn Trí.
Ba công trình kể trên được xem là những giáo trình chính sử dụng cho
sinh viên ngành tiểu học, do vậy nó đã cung cấp được những kiến thức cơ bản
về văn miêu tả nói chung và tả người nói riêng. Các công trình đó đã đề cập
đến cấu trúc của một bài văn miêu tả nói chung xuất phát từ cơ sở khoa học
của dạy học Tập làm văn trong chương trình tiểu học. Bên cạnh đó, các công
trình đã hướng dẫn cách tổ chức một tiết dạy Tập làm văn trong giờ lý thuyết
và thực hành cùng với các nguyên tắc cần đảm bảo khi thực hiện dạy học.
Trong đó có cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học của Lê Phương
Nga đã đưa đến một cái nhìn tổng quan về phân môn Tập làm văn, liệt kê các
kiểu bài văn miêu tả trong đó có chú ý đến kiểu bài làm văn tả người.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên dù đã định hướng cách tổ chức
dạy học Tập làm văn nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu văn miêu tả cũng như
kiểu văn tả người. Các công trình có nhắc đến các yếu tố để làm cho bài văn
trở nên sinh động, hấp dẫn nhưng cũng chưa chỉ ra cụ thể và chưa nhắc đến
việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh khi tạo lập văn bản.
2.2. Đã có nhiều tác giả với các công trình nghiên cứu khoa học của
mình về văn miêu tả có sử dụng biện pháp tu từ so sánh.
3


Nhà văn Tô Hoài trong cuốn Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả đã chia
sẻ kinh nghiệm viết văn quý báu: bài học về quan sát và bài học về diễn đạt,
sáng tạo trong miêu tả khi nói về độ chân thực và gợi cảm của hình tượng.
Song chưa đưa ra quan niệm dùng so sánh trong viết văn để tạo độ sống động
cho bài viết.
Cuốn Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông do Đỗ Ngọc Thống (chủ
biên) đã phân tích và chỉ ra được đặc điểm và yêu cầu khi viết văn miêu tả để
người. Cùng với việc đề xuất quy trình thực hiện một số kiểu bài làm văn

2.3. Trong sự trăn trở với mong muốn tìm ra cách thức, con đường để
hướng dẫn cho học sinh sử dụng biện pháp tu từ so sánh, đã có nhiều cây bút
tâm huyết cũng đi vào nghiên cứu lĩnh vực này.
Đề tài Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so
sánh và nhân hóa khi viết văn miêu tả của Lý Thị Sơn đã xây dựng được hệ
thống bài tập rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa, tạo
hứng thú cho học sinh, góp phần tháo gỡ khó khăn khi viết văn miêu tả.
Luận văn thạc sĩ Luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân
hóa trong viết văn miêu tả của Phan Thị Hương Giang đã chú trọng khảo sát
và phân tích thực trạng rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân
hóa cho học sinh tại cơ sở trường tiểu học hiện nay, đồng thời đã chia sẻ
những tâm huyết của mình về các biện pháp rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu
từ so sánh và nhân hóa cho các em cùng với hệ thống bài tập được thiết kế đa
dạng, phù hợp với trình độ của học sinh tiểu học.
Tất cả các công trình nghiên cứu ở trên đều là những chia sẻ đầy tâm
huyết của các nhà nghiên cứu, các nhà sư phạm. Có công trình đã nói về văn
miêu tả, có công trình điểm xuyết về quy trình dạy tập làm văn, có những bài
viết chia sẻ kinh nghiệm về biện pháp cũng như xây dựng hệ thống bài tập
nhằm rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh cho học sinh khi viết văn
miêu tả. Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở mức
độ khái quát hay ở phạm vi rộng chứ chưa đi vào kiểu bài làm văn tả người
trong một khối lớp cụ thể để rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh cho
học sinh qua kiểu bài làm văn tả người.
Điểm qua lịch sử về vấn đề nghiên cứu để thấy được việc rèn kĩ năng sử
dụng biện pháp tu từ so sánh cho học sinh qua kiểu bài làm văn tả người là

5


vấn đề mới mẻ, có tính thực tiễn và đặc biệt chưa có công trình nào nghiên


Các biện pháp rèn kĩ năng viết văn tả người có sử dụng biện pháp tu từ
so sánh.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thiết
Nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp tài liệu liên quan đến văn miêu tả,
nội dung văn tả người, biện pháp tu từ so sánh cùng một số vấn đề liên quan.
5.2. Phương pháp điều tra, khảo sát
Thu thập thông tin về thực trạng dạy học liên quan đến việc rèn luyện kĩ
năng sử dụng biện pháp tu từ so sánh qua kiểu bài làm văn tả người. Từ đó
tổng kết các vấn đề thực tiễn liên quan đến hoạt động rèn kĩ năng viết văn tả
người có sử dụng biện pháp tu từ so sánh.
5.3. Phương pháp thống kê, phân tích
Thống kê, phân loại nội dung khảo sát thực tế là nhằm đưa ra các kết
luận chính xác về thực trạng để từ đó đề xuất biện pháp.
5.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Ứng dụng những đề xuất của đề tài đưa vào thực tiễn dạy học để kiểm
chứng kết quả nghiên cứu, xem xét tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của
đề tài được cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc rèn kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ
so sánh cho học sinh lớp 5 qua kiểu bài làm văn tả người
Chương 2: Biện pháp rèn kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh cho học
sinh lớp 5 qua kiểu bài làm văn tả người
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

7




Giống như Đinh Trọng Lạc, tác giả Nguyễn Văn Nở trong Giáo trình
phong cách Tiếng Việt đưa ra định nghĩa như sau: “So sánh tu từ là đối chiếu
hai hay nhiều đối tượng (hoặc sự vật) có một nét tương đồng nào đó về hình
thức bên ngoài hay tính chất bên trong để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm
xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe” [19; tr.123]
Cùng xem tác giả Nguyễn Thái Hòa viết về biện pháp tu từ so sánh trong
quyển Phong cách học Tiếng Việt viết cùng với Đinh Trọng Lạc: “So sánh là
phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là
giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những
cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe” [11; tr.189]
Có lẽ người dành nhiều trang viết để viết về biện pháp tu từ phải nói đến
tác giả Cù Đình Tú. Đặc biệt, trong quyển Phong cách học và đặc điểm tu từ
Tiếng Việt, GS. Cù Đình Tú đã thể hiện quan điểm rõ nhất về biện pháp tu từ so
sánh: “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng
có chung một dấu hiệu nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình
ảnh đặc điểm của đối tượng” [26; tr.274]
Có thể thấy các tác giả trên đều có cách định nghĩa riêng về biện pháp tu
từ so sánh. Tuy cách diễn đạt hoàn toàn không giống nhau nhưng cùng hướng
đến một điểm chung: So sánh là đặt hai hay nhiều đối tượng vào một mối
quan hệ nhất định nhằm tìm ra sự giống nhau và khác nhau giữa chúng.
Ta sẽ thấy rõ điều đó qua câu ca dao:
Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan
Hai sự vật được đem ra so sánh với nhau là “trẻ em” (non nớt, bé nhỏ)
và “búp trên cành” (non tơ, mới nhú lên). Hai sự vật này có chung đặc điểm
tương đồng về tính chất (sự non tươi, đầy sức sống chứa chan hi vọng). Đây là
cách so sánh ấn tượng giúp người đọc hình dung được hình ảnh của những
đứa trẻ bé nhỏ, đầy sức sống, từ đó có thái độ yêu quý, nâng niu, trân trọng
9


Ví như:
Cánh diều như dấu á
Ai vừa tung lên trời
(Dương Viết Á)
“Cánh diều” với “dấu á” là hai sự vật không cùng loại nhưng lại được
đem ra so sánh với nhau khi chúng mang đặc điểm chung: dáng cong cong,
vỏng xuống, mỏng mảnh của cánh diều giống hệt như dấu á. Lối so sánh này
đã đem đến một sự liên tưởng thú vị cho người đọc, tưởng như có một dấu á
cứ treo lơ lửng trên bầu trời, thật ngộ nghĩnh, dễ thương, ấy là cánh diều trong
đôi mắt của trẻ thơ.
Hay: “Về đêm, trăng khi thì như chiếc thuyền vàng trôi trong mây trên bầu
trời ngoài cửa sổ, lúc thì như chiếc đèn lồng thả ánh sáng xuống đầy sân”
(Nguyễn Quỳnh)
Đặt các hình ảnh không cùng loại là “trăng” trong sự so sánh với “chiếc
thuyền vàng trôi trong mây” và “chiếc đèn lồng thả ánh sáng xuống đầy sân”,
tác giả đã vẽ ra một đêm trăng đầy quyến rũ, tuyệt đẹp. Trăng lúc khuyết (có
màu vàng, dáng cong, hai đầu nhọn như chiếc thuyền vàng) hay lúc tròn (có
hình tròn, tỏa sáng rực rỡ như chiếc đèn lồng) đều hiện ra thật sống động, gợi
cảm, nên thơ qua sự so sánh thú vị này.
Như vậy, so sánh hình ảnh và so sánh logic mang nét khác biệt nhau ở
tính hình tượng, tính biểu cảm và tính dị loại của sự vật. Nếu như giá trị của
so sánh logic là xác lập được sự tương đương giữa hai đối tượng thì giá trị của
so sánh tu từ là ở sự liên tưởng, sự phát hiện và gợi cảm xúc thẩm mĩ ở người
đọc, người nghe.
1.1.1.3. Các kiểu so sánh
a. Xét theo mô hình cấu tạo
Hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh tu từ gồm 4 yếu tố:

11

theo việc so sánh là tích cực hay tiêu cực.
Yếu tố (2) là phương diện so sánh. Đây là yếu tố chỉ tính chất của sự vật
hay trạng thái của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò
nêu rõ phương diện so sánh.
Yếu tố (3) là mức độ so sánh, nó thường được diễn ra ở mức độ ngang
bằng như nhau. Ngoài từ “như” còn có các từ “tựa như”, “ giống như”, “như
là”, “là”,…
Yếu tố (4) là cái so sánh, tức là cái đưa ra để làm chuẩn so sánh.
Trong bốn yếu tố thì yếu tố (1) và yếu tố (4) phải có mặt. Nếu vắng mặt
cả yếu tố (1) thì giữa hai yếu tố (1) và (4) phải có nét tương đồng quen thuộc,
lúc đó ta có ẩn dụ. Ví như khi ta nói “Cô gái xinh như hoa” thì đó là cách nói
so sánh, nhưng nếu nói theo cách của Nguyễn Du: “ Hoa tàn mà lại thêm tơi”
thì hoa ở đây là hình ảnh ẩn dụ.
Yếu tố (2) và (3) có thể vắng mặt trong cấu trúc so sánh. Khi yếu tố (2)
vắng mặt thì ta gọi đó là so sánh chìm vì phương diện so sánh không lộ ra, do đó
sự liên tưởng rộng rãi hơn, kích thích được trí tuệ và tình cảm của người đọc.
Tùy từng trường hợp mà trật tự các yếu tố có thể thay đổi hoặc bớt đi
trên mô hình. Sự vắng mặt một trong các yếu tố tạo thành các kiểu so sánh:
Kiểu 1: Có đầy đủ 4 yếu tố
Đây là dạng so sánh chuẩn vì nó có đầy đủ 4 yếu tố và được sắp xếp theo
trật tự: cái được so sánh – phương diện so sánh – mức độ so sánh – cái so sánh.

12


Ví dụ:

Ở đây đức tính của “ông” và “bà” lần lượt được so sánh với “hạt gạo”
và “suối trong”, một sự so sánh rất đơn giản nhưng lại làm bật lên được đức
tính hiền lành, sự đôn hậu của con người Cao Bằng.

hay còn gọi là so sánh đổi chỗ.
Chẳng hạn:

Dạng so sánh này cũng dùng cặp từ “bao nhiêu”, “bấy nhiêu” để so sánh.
Ví như:

14


Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu
(Ca dao)
Đặc biệt, trong so sánh tu từ, cái được so sánh có thể cùng lúc so sánh
với nhiều đối tượng khác nhau.
Ví dụ:
“Nắng nhạt dần, thứ nắng như lụa, như sa, những gam độ vàng thật óng ả,
1
3 4 3 4
thật dịu dàng”
(Ngô Văn Phú)
b. Xét về mặt ngữ nghĩa
Có thể chia so sánh thành các dạng:
Dạng 1: So sánh ngang bằng
Đây là dạng so sánh dùng từ “là”, “như”, “tựa”,… để làm điểm so sánh.
Đó là đôi bàn tay của em bé được ví như bông hoa đầu cành thật dễ thương:
Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành
(Hai bàn tay em – Huy Cận)
Hay đó là hình ảnh người mẹ được ví như ngọn gió, mãi che chở, chăm
sóc cho con của mình:

(Muôn vạn tình thương yêu trùm lên khắp quê hương – Việt Phương)
Việt Phương đã vận dụng thành công hình thức so sánh tuyệt đối để nói
lên tình thương yêu vô vàn của nhân dân dành cho Bác, một con người suốt
đời quên mình vì hạnh phúc nhân dân. Qua đó ta nhận thấy so sánh tuyệt đối
là dạng so sánh để khẳng định một việc gì đó theo cách nhìn nhận, cách đánh
giá riêng của người so sánh, thường đi với từ “nhất”.
16


1.1.1.4. Vai trò của biện pháp tu từ so sánh trong văn tả người
So sánh tu từ là một trong những dạng thức phổ biến được sử dụng khá
nhiều trong bài văn tả người. Đây là biện pháp có giá trị về mặt nhận thức và
biểu đạt, có tác dụng giúp người viết xây dựng lại hình ảnh của đối tượng
được miêu tả để người đọc có thể hình dung dễ dàng và rõ nét hơn về đối
tượng đó.
Hãy xem Ma Văn Kháng dùng biện pháp tu từ so sánh để miêu tả hình
dáng của một thanh niên Mèo qua những câu văn sinh động và gợi cảm:
“- A Cháng trông như một con ngựa tơ hai tuổi, chân chạy qua chín
núi mười khe không biết mệt, khỏe quá! Đẹp quá!
A Cháng người đẹp thật. Mười tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ như
lim, bắp tay bắp chân rắn như trắc ngụ. Vóc cao, vai rộng, người đứng
thẳng như cái cột đá trời trồng.”
(Trích Người con trai họ Hạng – Ma Văn Kháng)
Vóc dáng khỏe mạnh của một thanh niên Mèo Hạng A Cháng đã được khắc
họa rõ nét qua những câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Những hình
ảnh so sánh đó được đưa ra để cụ thể hóa giúp bạn đọc có thể hình dung ra A
Cháng là thanh niên khỏe mạnh với những hình ảnh rắn chắc, đẹp, gần gũi với
người dân miền núi. Điều đó giúp các em dễ tiếp nhận với hình tượng văn học và
thấy nó gần gũi với cuộc sống đời thường.
Khi khả năng nhìn nhận vạn vật xung quanh của học sinh tiểu học còn ở

hấp dẫn bạn đọc.
“Tường là một thằng nhóc rất đẹp trai. Nó đẹp ngay từ khi còn bé.
Tường mang khuôn mặt thanh mảnh của mẹ tôi và đôi mắt to với cặp lông mi
dài của ba tôi. Tóc nó dày, mịn như tơ, da trắng hồng, miệng rộng với hàm
răng trắng và đều tăm tắp như những viên đá cuội được mài dũa và sắp xếp
cẩn thận. Mỗi khi Tường cười có cảm giác gương mặt nó đang tỏa sáng. Nụ
cười đó, gương mặt đẹp như thiên thần đó luôn đem lại cho người đối diện
một niềm vui khó giải thích”
(Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh – Nguyễn Nhật Ánh)
Nguyễn Nhật Ánh đã dẫn dắt bạn đọc khám phá và tưởng tượng ra nét
18


đẹp của nhân vật qua những câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh. Hình
tượng nhân vật Tường được tô đậm rõ nét và đưa đến cho bạn đọc cảm giác
gần gũi, chân thực. Có lẽ chính vì thế mà câu văn, bài văn của tác giả trở nên
sinh động, gợi cảm và thu hút được bạn đọc nhỏ tuổi.
1.1.2. Kiểu bài làm văn tả người
1.1.2.1. Một số lưu ý khi làm bài văn tả người
Một đề văn tả người trong chương trình tiểu học thường đề cập đến một
trong ba nội dung: tả hình dáng, tính tình và hoạt động nhưng cũng có những
đề văn yêu cầu học sinh tả kết hợp ba nội dung trên. Do đó, khi làm văn tả
người, ta cần hiểu rằng ba mặt này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đều
làm nổi rõ tinh thần, tình cảm và tính cách của người được tả. Đề bài văn tả
người có thể yêu cầu nhấn mạnh về mặt này hay mặt kia, song cách làm bài
nói chung cần chú ý những điểm sau:
Tả hình dáng (ngoại hình) một người, ta thường chú ý đến tầm vóc,
khuôn mặt, mái tóc, làm da, cặp mắt,…, cách ăn mặc, dáng đi đứng, tiếng nói
cười, v.v… nhưng cần biết lướt qua (hoặc lược bỏ) những nét không nổi bật
để tập trung vào những đặc điểm tiêu biểu, gây ấn tượng mạnh cho người đọc,

của vôi.
Hòe nhoẻn miệng cười hồn nhiên. Bác vỗ vỗ vào vai Hòe cười:
- Cháu có thích cái nghề vôi vữa này không đấy?
- Cháu rất thích ạ.
Bác thợ vừa trò chuyện vừa xúc hồ trát thoăn thoắt. Chiếc bay trong tay
bác loang loáng. Bức tường cao lên trông thấy…”
Tả tính tình của một người không phải chỉ là liệt kê tất cả các đặc điểm
về tính nết của người ấy. Để làm rõ tính tình một người ta cần phải nêu được
những dẫn chứng cụ thể hoặc thông qua các biểu hiện bên ngoài như lời nói,
cử chỉ, hàng động, việc làm, cách ăn mặc hay đi đứng… của người được tả.
Những ví dụ về tả hoạt động, hình dáng nêu trên đã cho ta thấy rõ được điều
20


đó; hoặc như nhà văn Đào Vũ tả chị Chấm, một cô gái nông thôn mộc mạc,
giàu tình cảm: “Có bữa đi xem phim, những cảnh ngộ trong phim làm chị
Chấm khóc gần suốt buổi. Đêm ấy về ngủ, trong giấc mơ Chấm lại khóc mất
bao nhiêu nước mắt…”
Ở mức độ cao của văn tả người, thông qua các hành động, việc làm…
người viết còn bộc lộ được những suy nghĩ, tình cảm hay tâm trạng của nhân
vật. Đó là những biểu hiện về nội tâm, cho thấy tính cách của người được tả rõ
nét và sâu sắc. Ví dụ, nhà văn Thạch Lam miêu tả tâm trạng của Thanh khi về
quê thăm bà: “Thanh đi, người thẳng, mạnh, cạnh bà lưng đã còng. Tuy vậy
Thanh cảm thấy chính bà che chở cho mình cũng như những ngày còn nhỏ…
Thanh đến bên bể múc nước vào thau rửa mặt. Nước mát rượi và Thanh cúi
nhìn bong mình trong lòng bể với những mảnh trời xanh. Lần nào trở về với
bà, Thanh cũng thấy thong thả và bình yên như thế…”
Bố cục của bài văn tả người thường căn cứ vào yêu cầu do đề bài đặt ra
(tùy theo yêu cầu tả kĩ mặt nào mà tập trung làm rõ mặt đó, bằng cách trình
bày lần lượt hoặc kết hợp, xen kẽ các mặt); dàn bài chung như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status