Hoạt động tổ chức, quản lý thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HOÁ THÔNG TIN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

LÊ THỊ HẠNH

HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC, QUẢN LÝ THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TRONG ĐIỀU KIỆN
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Chuyên ngành : Khoa học Thư viện
Mã số

: 60 32 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THƯ VIỆN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ LAN THANH

HÀ NỘI - 2005


2

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

TV-TT
CNTT



4

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 6 
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.................................................. 6
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 7
3. Đối tượng và phạm nghiên cứu ................................................................ 8
4. Tình hình nghiên cứu đề tài...................................................................... 8
5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 9
6. Kết cấu của luận văn: ................................................................................ 9
Ngoài lời nói đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm có 3 chương và 9 mục. .......................................................................... 9
Chương 1 ........................................................................................................ 10 
1.1.Vai trò, tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong hoạt động TV-TT 10
1.2. Những tác động của ứng dụng CNTT đối với hoạt động tổ chức, quản
lý TV-TT ..................................................................................................... 12
1.2.1. Thay đổi cơ cấu tổ chức và phương thức quản lý .................... 12 
1.2.2. Tác động tới hoạt động chuyên môn ................................................. 28
1.3. Yêu cầu của hoạt động tổ chức, quản lý TV-TT trong điều kiện ứng
dụng CNTT ................................................................................................. 45
Chương 2 ........................................................................................................ 47 
2.1. Khái quát về Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội và quá trình ứng
dụng CNTT tại Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội ............................. 47
2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ .................................................................. 47 
2.1.2. Quá trình ứng dụng CNTT tại Thư viện Đại học Luật Hà Nội
................................................................................................................. 48 
2.2. Thực trạng hoạt động tổ chức, quản lý thư viện Trường Đại học Luật
Hà Nội trong điều kiện ứng dụng CNTT .................................................... 50
2.2.1. Công tác tổ chức hành chính ...................................................... 50 

KẾT LUẬN ................................................................................................... 122 
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 123 
Tiếng Việt ...................................................................................................... 123 
Tiếng Anh ...................................................................................................... 124 


6

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ngày nay, xã hội loài người đang sống trong kỷ nguyên thông tin và
công nghệ số. Những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, đặc biệt là
ngành công nghệ thông tin và viễn thông, đã tạo ra những thay đổi mang tính
cách mạng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc ứng dụng công
nghệ thông tin (CNTT) trong từng lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội đã
làm thay đổi căn bản cách thức tiếp cận, tổ chức, thực hiện và hiệu quả của
các lĩnh vực hoạt động này.
Ứng dụng CNTT đã đem lại những lợi ích vô cùng to lớn trong tất cả
mọi lĩnh vực, nó làm cho các thao tác, các quá trình hoạt động trở nên dễ dàng
và thuận tiện hơn, đồng thời làm tăng năng suất và hiệu quả lao động, làm
giảm sức lao động cơ bắp của con người, cho ra những sản phẩm có chất
lượng cao với giá thành hạ. Vì vậy, ứng dụng CNTT là xu thế tất yếu đã và
đang diễn ra mạnh mẽ, nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu.
Trong lĩnh vực Thư viện - Thông tin (TV-TT), việc ứng dụng CNTT
bắt đầu từ những năm 1960. Ban đầu, là việc sử dụng máy tính điện tử để tạo
lập mục lục đọc được bằng máy, mục lục truy cập công cộng trực tuyến, xây
dựng các cơ sở dữ liệu (CSDL), tự động hoá dịch vụ tra cứu thông tin. Cùng
với sự phát triển của công nghệ viễn thông, CNTT kết hợp với công nghệ viễn
thông cho phép liên kết các máy tính thành mạng máy tính và mạng thông tin
toàn cầu Internet. Các nguồn tin số hoá ra đời, thư viện điện tử xuất hiện, cho

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Đề xuất những giải pháp đổi mới hoạt động tổ chức,
quản lý Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội trong điều kiện ứng dụng
CNTT.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:


8

+ Nghiên cứu vai trò, tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong hoạt
động TV-TT.
+ Nghiên những tác động của ứng dụng CNTT tới của hoạt động tổ
chức, quản lý TV-TT nói chung.
+ Nghiên cứu yêu cầu của hoạt động tổ chức, quản lý TV-TT trong
điều kiện ứng dụng CNTT.
+ Nghiên cứu thực trạng hoạt động tổ chức, quản lý Thư viện Đại học
Luật Hà Nội trong điều kiện ứng dụng CNTT.
+ Nghiên cứu, đề xuất những giải pháp đổi mới hoạt động tổ chức,
quản lý Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội trong điều kiện ứng dụng
CNTT
3. Đối tượng và phạm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động tổ chức, quản lý
TV-TT dưới tác của ứng dụng CNTT.
+ Hoạt động tổ chức, quản lý Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội
dưới tác động của ứng dụng CNTT.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động tổ chức, quản lý Thư viện
Trường Đại học Luật Hà Nội trong điều kiện ứng dụng CNTT từ năm 1998
đến nay.
4. Tình hình nghiên cứu đề tài

KHÁCH QUAN TRONG QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HOÁ
1.1.Vai trò, tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong hoạt động
TV-TT
* Vai trò của ứng dụng CNTT trong hoạt động TV-TT
Vai trò vô cùng quan trọng của các hệ thống thông tin tự động hoá hiện
nay là các tiến bộ đạt được vững chắc của việc tự động hoá hầu hết các chức
năng của thư viện [1, tr. 39].
Việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông đã đem lại
những thay đổi mang tính cách mạng trong toàn bộ hoạt động của cơ quan thư
viện - Thông tin (TV-TT).
Trước tiên là việc sử dụng máy tính điện tử để tạo ra các biểu ghi thư
mục trong hệ thống biên mục, thay thế mục lục phiếu truyền thống bằng mục
lục đọc máy vào những năm 1970. Tiếp theo là việc tự động hoá quá trình lưu
thông tài liệu (mượn trả) và sự phát triển của hệ thống thư viện tích hợp
(Intergrated Library) ở rất nhiều thư viện hiện đại vào cuối những năm 1970
và đầu những năm 1980. Các hệ thống thư viện tích hợp này sử dụng một cấu
trúc phần mềm duy nhất để quản lý các quy trình quan trọng nhất của hoạt
động thư viện như: bổ sung, biên mục, lưu thông tài liệu (mượn, trả), quản lý
tài chính, hệ thống mượn liên thư viện và thông tin về quản lý tư liệu. Một
trong những dấu mốc quan trọng nhất trong thời kỳ này là sự phát triển của hệ
thống mục lục trực tuyến OPAC (Online Public Accessible Catalog), đã tạo
lên một cuộc cách mạng trong việc tìm kiếm mục lục sách của thư viện. Lần
đầu tiên đưa ra khái niệm là trong một chừng mực nào đó thư viện đã đến
được với độc giả. Danh mục các tài liệu được hiển thị trên màn hình không
chỉ liệt kê những tài liệu đang được lưu giữ trong toà nhà đó mà còn bao gồm


11

cả tài liệu của rất nhiều thư viện khác trên khắp thế giới. Các dịch vụ cung cấp

các cơ quan TV-TT hiện nay [13, tr. 18].
Ngày nay, xã hội loài người đang sống trong xã hội thông tin và nền
kinh tế tri thức, xã hội mà thông tin là động lực phát triển của nền kinh tế và
trong nền kinh tế đó, hàm lượng tri thức chiếm tỉ trọng lớn trong mỗi sản
phẩm. Mục tiêu huớng tới của các thư viện giờ đây là định hướng người dùng
tin (NDT), thoả mãn mọi nhu cầu thông tin của họ, tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho họ có thể với tới tất cả các nguồn tin với sự hỗ trợ của CNTT và
truyền thông. Mục tiêu trên khó có thể đạt được nếu thiếu hệ thống thông tin
tự động hoá. Chính vì vậy, việc ứng dụng CNTT, xây dựng hệ thống TV-TT
tự động hoá là yêu cầu mang tính khách quan, tất yếu đối với tất cả các cơ
quan TV-TT hiện nay.
1.2. Những tác động của ứng dụng CNTT đối với hoạt động tổ chức,
quản lý TV-TT
1.2.1. Thay đổi cơ cấu tổ chức và phương thức quản lý
1.2.1.1. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức là công cụ quản lý quan trọng trước tiên của tất cả các
tổ chức để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tổ chức [28, p. 2].
Xây dựng cơ cấu tổ chức cho một cơ quan TV-TT là việc thiết lập một
hệ thống các bộ phận, phòng ban. Đồng thời, xác định chức năng, nhiệm vụ,
các mối liên hệ, cơ chế phối hợp giữa các bộ phận trong hệ thống nhằm đạt
mục tiêu chung của tổ chức.
Trong thư viện truyền thống, cơ cấu tổ chức thường được xây dựng dựa
trên các mô hình tổ chức theo chức năng, khu vực địa lý (vùng lãnh thổ), nhóm
người dùng tin, sản phẩm (dịch vụ), loại hình tài liệu, ngôn ngữ và các quá
trình… hoặc theo mô hình kết hợp từ hai trong số các mô hình trên trở lên.


13

Cơ cấu tổ chức phổ biến trong thư viện truyền thống là cơ cấu tổ chức

phòng ban cũng như những nhân viên làm việc trong các bộ phận, phòng ban
đó được sắp xếp theo trật tự thứ bậc rõ ràng. Cơ cấu tổ chức đó bao gồm
nhiều tầng bậc, nhiều cấp quản lý khác nhau. Cơ cấu tổ chức cấp bậc truyền
thống thể hiện mối liên hệ phụ thuộc giữa các bộ phận, phòng ban với cấp
quản lý cao hơn và người lãnh đạo cơ quan TV-TT.
Quyền hạn và thẩm quyền của cơ cấu cấp bậc truyền thống được thiết
lập từ cấp quản lý cao nhất. Dòng thông tin trong tổ chức theo hướng từ trên
xuống dưới (top-down). Điều này có nghĩa là toàn bộ quyền lực và thẩm
quyền nằm trong tay người lãnh đạo thư viện. Tất cả mọi quyết định được ban
hành bởi một số ít các cá nhân ở vị trí quản lý thư viện. [33, p. 157].
Cơ cấu tổ chức cấp bậc truyền thống có ưu điểm là tạo sự thống nhất
cao và sự ổn định lâu dài cho tổ chức, đề cao vai trò cá nhân người lãnh đạo
và chế độ thủ trưởng. Tuy nhiên, hạn chế cơ bản của kiểu cơ cấu này là kém
linh hoạt và cứng nhắc, mang nặng tính mệnh lệnh hành chính, hạn chế sự
sáng tạo và phát huy năng lực của từng cá nhân trong tổ chức. Hay nói cách
khác, đó là một bộ máy quan liêu. Kiểu cơ cấu này thường chỉ tập trung giải
quyết các vấn đề trong nội bộ của tổ chức mà ít chú ý đến những mối liên hệ,
những nhân tố tác động từ môi trường bên ngoài. Cho nên, khi môi trường xã
hội và môi trường công nghệ thay đổi thì tổ chức đó khó có thể thích nghi một
cách nhanh chóng và linh hoạt. [33, p. 178].
Phương pháp phân chia các bộ phận, phòng ban theo chức năng đã tạo
ra sự chuyên môn hoá và tập trung cao trong hoạt động chuyên môn của từng
bộ phận, phòng ban, nhưng cũng tạo ra sự biệt lập hay ranh giới giữa các
phòng ban. Nhân viên làm việc trong từng phòng ban chỉ tập trung vào công
việc chuyên môn của mình mà ít nắm bắt được hoạt động của các phòng ban
khác. Cho nên, sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận trong tổ chức bị hạn
chế bởi ranh giới về chức năng và nhiệm vụ cụ thể đã được xác định.


15

16

Library Center) để sao chép các biểu ghi thư mục đã tiết kiệm được rất nhiều
thời gian, công sức và chi phí cho thư viện. Rất nhiều tài liệu không đòi hỏi
phải biên mục lại từ đầu, cho nên qui mô phòng biên mục sẽ nhỏ hơn. [26, p.
8].
Tính phi tập trung hoá không những được thể hiện ở dịch vụ kỹ thuật
thư viện mà còn thể hiện ở các dịch vụ công cộng. Dịch vụ tra cứu thông tin
là một ví dụ điển hình. Trong thư viện truyền thống, dịch vụ tra cứu thông tin
được tập trung hoá hoàn toàn. Để tìm kiếm thông tin của một thư viện, NDT
phải trực tiếp tới thư viện đó để sử dụng hệ thống mục lục cũng như các công
cụ tra cứu khác để tìm tin. Nhưng giờ đây, thông qua mục lục công cộng truy
cập trực tuyến OPAC (Online Public Accessible Catalog), NDT có thể tra cứu
thông tin của tất cả thư viện trên thế giới từ bất kỳ nơi nào mà không có sự
phân biệt về thời gian, không gian hay khoảng cách về mặt địa lý.
Tự động hoá cũng cho ra đời những bộ phận mới. Một số phòng ban
liên quan trực tiếp tới CNTT và truyền thông cũng như liên quan tới các
nguồn thông tin điện tử ra đời như: phòng công nghệ thông tin (IT), quản trị
mạng, cập nhật dữ liệu lên trang chủ thư viện. Cùng với những bộ phận kỹ
thuật này là yêu cầu cần phải tuyển dụng những kỹ sư tin học, kỹ sư thiết kế
và quản trị mạng.
Cơ cấu tổ chức thay đổi, chuyển từ cơ cấu cấp bậc truyền thống sang cơ
cấu ma trận (Matrix Organizational Structure). Cơ cấu ma trận là cơ cấu sử
dụng phương pháp phân chia bộ phận theo ma trận dựa trên một hệ thống
quyền hạn và hỗ trợ đa chiều. Có hai tuyến quyền hạn trong một ma trận: một
tuyến thẳng đứng theo đơn vị chức năng và một tuyến nằm ngang theo sản
phẩm hoặc dự án [10, tr. 80].
Vì vậy, cơ cấu tổ chức giờ đây dường như được dàn mỏng ra, mềm
mại và linh hoạt hơn theo xu hướng giảm bớt các cấp quản lý, đặc biệt là cấp




18

hiện ra những yếu điểm của mình hoặc những lỗi mình đã gây ra khi sử dụng
hệ thống thông tin tự động hoá, từ đó họ có thể tự sửa chữa và khắc phục triệt
để những lỗi đó. Trong công tác biên mục, tiêu chuẩn hoá còn góp phần làm
tăng cường và mở rộng các điểm truy cập tới tài liệu trong và ngoài thư viện
[26, p. 10]. Các tiêu chuẩn đó là: tiêu chuẩn về khổ mẫu trình bày dữ liệu thư
mục MARC (MAchine Readable Cataloging), qui tắc mô tả thư mục theo tiêu
chuẩn quốc tế ISBD (International Standard Bibliographic Description) và qui
tắc biên mục Anh-Mỹ AACR 2 (Anglo-American Cataloging Rules 2nd
edition), các bảng phân loại, khung đề mục chủ đề, từ điển, từ chuẩn… Đồng
thời, yêu cầu phải tiêu chuẩn hoá còn thúc đẩy sự hợp tác, chia sẻ thông tin
giữa các thư viện.
1.2.1.2. Phương thức quản lý
Phương thức quản lý là những phương pháp và cách thức mà chủ thể
quản lý tác động lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt được các mục
tiêu đã đề ra [10, tr. 113].
Trong thư viện truyền thống, phương pháp quản lý được sử dụng chủ
yếu là phương pháp hành chính và nguyên tắc tập trung hoá. Trong thư viện
hiện đại, những tác động mạnh mẽ của CNTT và truyền thông tới tất cả các
hoạt động chủ yếu của thư viện đã làm thay đổi cơ cấu tổ chức và phương pháp
quản lý truyền thống. Phương pháp quản lý chuyên quyền, độc đoán và cơ cấu
cấp bậc cứng nhắc đã phải nhường chỗ cho cơ cấu tổ chức cho phép các nhân
viên được tham gia quản lý với một cơ cấu có ít cấp quản lý hơn. [26, p. 9].
Trong một cơ cấu có ít cấp quản lý (tầng bậc), cho phép nhân viên có
thể tham gia vào quá trình ra quyết định. Tổ chức có xu hướng mở huớng tới
công nghệ và luôn luôn đổi mới. Một khi các nhân viên được tham gia vào
quản lý thư viện thì họ dễ dàng tiếp thu những kiến thức về công nghệ mới

dàng và nhanh chóng trước những thay đổi của môi trường bên ngoài. Mô
hình tổ chức đó là mô hình tổ chức hướng tới người dùng tin, cung cấp các


20

sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện đại, với mục tiêu là thoả mãn nhu cầu
thông tin và tri thưc của người dùng tin hơn là cung cấp một bộ sưu tập tài
liệu trong các toà nhà [26, p.11].
Thực tiễn ứng dụng CNTT trong hoạt động TV-TT trên thế giới và ở
Việt Nam cho thấy, hầu hết cơ cấu tổ trúc của cơ quan TV-TT đều có sự thay
đổi, mặc dù ở những mức độ khác nhau đối với từng quốc gia cũng như từng
thư viện cụ thể.
Một ví dụ điển hình cho sự thay đổi cơ cấu tổ chức và phương thức
quản lý một cách toàn diện là trường hợp của Thư viện Trường đại học Công
nghệ Hồng Kông. Dự án thư viện tự động hoá được triển khai từ năm 1989,
cho đến nay, thư viện này trở thành Thư viện trung tâm trong hệ thống thư
viện tích hợp của 7 trường Đại học trên lãnh thổ Hồng Kông. Cơ cấu tổ chức
trước khi tự động hoá là cấu trúc theo mô hình chức năng. Thư viện được
phân chia thành hai bộ phận chính đó là: bộ phận các dịch vụ kỹ thuật thư
viện và dịch vụ tra cứu. Từ hai bộ phận chính lại được phân chia thành các
phòng ban chức năng khác nhau như: Bổ sung, biên mục, lưu thông tài liệu,
tra cứu thông tin. Yêu cầu phải thay đổi cấu trúc tổ chức để phù hợp với qui
trình công nghệ mới được tiến hành từ năm 1990 và trải qua nhiều giai đoạn
khác nhau. Xu hướng thay đổi cấu trúc tổ chức không chỉ là thay đổi sơ đồ tổ
chức thư viện mà thực sự là cuộc cải cách trong quản lý nguồn nhân lực. Các
nhóm hoạt động chuyên môn được hình thành như: nhóm quản lý thư viện
gồm giám đốc, phó giám đốc và trưởng các phòng ban; nhóm tư vấn gồm
trưởng các phòng ban; các nhóm hệ thống nhỏ theo dõi việc thực hiện nhiệm
vụ giữa các phòng ban cùng các nhóm thực hiện các công việc chuyên môn cụ

thực tiễn công tác, biết lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và quản lý thành công
các chương trình và những dịch vụ cung cấp thông tin tới người dùng tin.
Nhân viên thư viện chuyên nghiệp đóng vai trò là người lãnh đạo thư viện,
định hướng hoạt động cho toàn bộ tổ chức.


22

- Nhóm 2: Các nhân viên hỗ trợ (support librarian): Là những nhân viên thực
hiện những công việc cụ thể trong thư viện. Từ những nhân viên thư viện bán
chuyên nghiệp tới những nhân viên hành chính. Các nhân viên hỗ trợ thường
chiếm số lượng lớn nhất trong lực lượng lao động của thư viện. Những nhân
viên này đảm nhiệm hầu thế các hoạt động chủ yếu trong thư viện như: bổ
sung, biên mục, theo dõi ấn phẩm định kỳ, lưu thông tài liệu, tra cứu thông
tin… Nhân viên hỗ trợ đảm nhiệm hầu hết các công việc thường nhật ở tất cả
các bộ phận, phòng ban. Yêu cầu về trình độ của nhóm nhân viên này cũng
phong phú và đa dạng. Một số nhân viên có bằng cử nhân TT-TV, một số
khác tốt nghiệp từ những trường đại học khác. Đối với các thư viện chuyên
ngành thì yêu cầu cả về trình độ chuyên môn về TT-TV và những kiến thức
về lĩnh vực chuyên môn mà thư viện bao quát là yêu cầu cơ bản đối với nhóm
nhân viên hỗ trợ.
- Nhóm 3: Ngoài 2 nhóm nhân viên trên, thư viện còn thường xuyên sử dụng
một số lượng lớn lực lượng lao động làm việc theo thời vụ. Đó là lực lượng
sinh viên ký hợp đồng lao động thời vụ trong các thư viện đại học hoặc những
nhân viên phục vụ ở các thư viện công cộng. Đội ngũ này thường thực hiện
những công việc giản đơn ở khu vực dịch vụ công cộng như: lấy tài liệu hoặc
xếp tài liệu lên giá sau khi phục vụ, ghi nhận việc cho mượn, trả tài liệu. Đối
với lực lượng này, cần trang bị cho họ những kiến thức về tổ chức kho tài
liệu, hệ thống phân loại, hệ thống đề mục chủ đề và những kỹ năng cơ bản khi
sử dụng phân hệ lưu thông tài liệu. [33, p. 215].

*Những yêu cầu đối với nhân viên thư viện
Trong môi trường thông tin tự động hoá, đòi hỏi các nhân viên thư viện
phải không ngừng học tập để làm chủ CNTT hiện đại và những hệ thống dựa
trên máy tính điện tử. Để làm chủ được những hệ thống này, đòi hỏi nhân
viên thư viện phải được đào tạo những kiến thức cơ bản về CNTT như: phần
cứng, phần mềm, hệ thống mạng, các loại ngôn ngữ và giao diện mạng...


24

Những nhân viên ở khu vực dịch vụ công cộng, đặc biệt là những nhân viên
tra cứu các CSDL và dịch vụ tìm tin trực truyến, ngoài những yều cầu về trình
độ chuyên môn nói chung, họ cần phải nằm vững các công cụ tra cứu như:
các khung đề mục chủ đề, các hệ thống phân loại và đặc biệt là các thuật ngữ
chuyên môn. [26, p. 15].
Ngoài những yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức cơ
bản về CNTT, nhân viên làm việc trong môi trường thư viện tự động hoá còn
đòi hỏi phải phát triển những kỹ năng nghề nghiệp cụ thể. Nhân viên thư viện
ngày nay cần phải có hiểu biết những nguyên lý marketing để phát triển các
dịch vụ người dùng tin mới, đặc biệt là các dịch vụ cung cấp thông tin điện tử
và hoàn thiện các dịch vụ đó trong cộng đồng. Kỹ năng giao tiếp là vô cùng
quan trọng đối với những nhân viên cung cấp dịch vụ tra cứu thông tin. Thông
qua giao tiếp với NDT, nhân viên thư viện xác định chính xác nhu cầu thông
tin của họ để xây dựng các chiến lược tìm tin và đáp ứng yêu cầu tin có hiệu
quả. Các nhân viên thư viện đòi hỏi phải linh hoạt và tháo vát hơn, bởi vì họ
phải đảm đương nhiều công việc hơn trước. Họ phải thường xuyên đối mặt
với những vấn đề phát sinh trong công việc. Vì vậy, cần phải tạo ra một cơ
chế thuận lợi để họ có thể trao đổi, hợp tác và giải quyết các vấn đề một cách
nhanh chóng, có hiệu quả.
Qua những phân tích trên đây cho thấy, nhân viên thư viện ngày nay

Cơ cấu lao động trong thư viện tự động hoá cũng thay đổi. Ngoài 3
nhóm nhân viên như đã trình bày ở phần trên, yêu cầu cần phải có các kỹ sư
tin học, các chuyên viên quản trị mạng và hệ thống thống thông tin là yêu cầu
cấp thiết đã được đặt ra cho tất cả các thư viện.
1.2.1.4. Kinh phí đầu tư cho ứng dụng CNTT
Để ứng dụng CNTT trong hoạt động TV-TT đòi hỏi cần phải có một
khoản kinh phí rất lớn. Chính vì vậy, mà các cơ quan TV-TT thường lựa chọn
hình thức đầu thư theo các dự án hoặc đề án tin học hoá hoạt động TV-TT,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status