Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự việt nam ( Luận án tiến sĩ) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH

QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CAN,
BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 62.38.40.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. TRẦN VĂN ĐỘ

TP. HỒ CHÍ MINH - 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả, số
liệu nghiên cứu nêu trong Luận án là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về tất cả
những số liệu và kết quả nghiên cứu đó. Luận án này chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày …… tháng ……. năm 2014

NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH




: Hội thẩm nhân dân

NBC

: Người bào chữa

QBC

: Quyền bào chữa

QCN

: Quyền con người

THTT

: Tiến hành tố tụng

TTHS

: Tố tụng hình sự

TAND

: Tòa án nhân dân

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

31

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÀO
CHỮA CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN

31

1.1. Khái niệm quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa
thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam

31

1.2. Vai trò và đặc điểm của quyền bào chữa của bị can, bị cáo là
người chưa thành niên

42

1.3. Quyền bào chữa của người chưa thành niên trong pháp luật tố
tụng hình sự nước ngoài

66

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ
CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

80

2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền bào chữa của bị



1
Phần 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người (QCN) là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử, là một
trong những giá trị quý báu nhất của nền văn minh nhân loại trong thời đại ngày
nay. Những giá trị nền tảng tạo nên QCN là: Nhân phẩm - Tự do - Bình đẳng Nhân đạo - Khoan dung và Trách nhiệm. Đây là những giá trị vốn có ở tất cả các
nền văn hóa, được quốc tế hóa nhằm bảo vệ nó trong đời sống xã hội. Trong các
quyền cơ bản đó, QCN trong tố tụng hình sự (TTHS), trong đó có quyền trẻ em và
việc bảo đảm quyền trẻ em là rất quan trọng và vì thế việc nghiên cứu làm sáng tỏ
những giá trị cao quý về QCN, nhất là các quyền nêu trên đều được quan tâm
nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu khoa học.
Việt Nam đang trong tiến trình cải cách tư pháp (CCTP) nhằm xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định
quyết tâm chính trị mạnh mẽ của mình trong việc thực hiện chủ trương và triển khai
các nhiệm vụ CCTP. Nghị quyết 08- NQ/TW của Bộ chính trị về CCTP đã tạo sự
chuyển biến tích cực trong nhận thức của cán bộ cơ quan tư pháp, các ngành, các
cấp và nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác tư pháp. Qua đó, hệ
thống các cơ quan tư pháp đã được củng cố cả về tổ chức bộ máy và công tác cán
bộ. Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử và các hoạt động bổ trợ tư pháp từng bước
được nâng cao. Việc bắt, giam giữ đã được xem xét, kiểm tra thường xuyên, công
tác xét xử được xem xét thận trọng đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Sau tám năm thực thi chiến lược CCTP, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhận xét
bước đầu quá trình cải cách đã thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ
quan tư pháp, hướng tới xây dựng nền tư pháp “trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người”. Tuy nhiên, công tác tư pháp
vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu,




3
Về mặt thực tiễn, việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đối với những vụ án
mà bị can, bị cáo là người CTN trong những năm qua cho thấy khi áp dụng những
quy định về thủ tục đặc biệt này còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Nguyên nhân
một phần là do cơ quan THTT chưa nắm vững và vận dụng chưa chính xác, triệt để
quy định của pháp luật tố tụng liên quan đến quá trình giải quyết vụ án do người
CTN phạm tội và một phần do nhận thức của một bộ phận cán bộ những người
THTT còn xem nhẹ vai trò CCTP, thậm chí do lợi ích cục bộ, không chấp hành
nghiêm ngặt các quy định của pháp luật TTHS, thiếu tôn trọng và xem nhẹ quyền
lợi của bị can, bị cáo là người CTN.
Từ các góc độ quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật nói trên,
việc nghiên cứu làm sáng tỏ vấn đề bảo đảm QCN nói chung và QBC của bị can, bị
cáo là người CTN trong TTHS nói riêng theo tinh thần CCTP ở Việt Nam hiện nay
là hoàn toàn cấp thiết. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Quyền
bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt
Nam” làm luận án Tiến sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào cũng
đều trả lời cho câu hỏi: việc thực hiện công trình nghiên cứu nhằm vào cái gì? Đây
cũng chính là ý nghĩa thực tiễn của kết quả nghiên cứu. Không nằm ngoài cách tiếp
cận trên, chúng tôi xác định mục tiêu của luận án nhằm nâng cao hiệu quả thực thi
cơ chế đảm bảo QBC của bị can bị cáo là người CTN.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nếu như mục tiêu nghiên cứu đặt ra câu hỏi: nghiên cứu nhằm đạt được cái
gì thì nhiệm vụ nghiên cứu lại trả lời cho câu hỏi – cần phải làm như thế nào để đạt
được mục tiêu.
Trên cơ sở mục tiêu nêu trên, chúng tôi xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu như


5
Về mặt không gian, đối tượng nghiên cứu sẽ được phân tích và đánh giá qua
quy định pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước Cộng hòa Pháp, Hoa Kỳ, Liên
Bang Nga và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
Về số liệu khảo sát, luận án sẽ thu thập số liệu về thực tiễn tiến hành hoạt
động tố tụng từ các Đoàn luật sư trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang,
Tiền Giang, Lâm Đồng; Tòa án nhân dân (TAND) tối cao và đặc biệt là TAND
Thành phố Hồ Chí Minh. Việc chọn lựa các địa bàn khảo sát nói trên được giải
thích bởi các lý do như sau:
Thứ nhất, người thực hiện luận án là cán bộ tư pháp của phía Nam với trên
10 năm kinh nghiệm thực tế thì việc tích góp và thu thập số liệu trên địa bàn phía
Nam sẽ là thuận lợi đầu tiên. Nhưng chính điều này cũng là một hạn chế cho việc
thu thập số liệu ở các địa bàn khác, đặc biệt là khu vực phía Bắc. Trên địa bàn khu
vực phía Nam, nếu xét về số lượng vụ án thì các tỉnh Kiên Giang, Tiền Giang, Lầm
Đồng và đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh có số lượng vụ án hình sự (VAHS)
liên quan tới người CTN phạm tội cao hơn so với các địa bàn khác (có thể tham
khảo Phụ lục 3, 4, 5, 6). Xét về góc độ áp dụng pháp luật, mục đích của việc lựa
chọn các địa bàn và đối chiếu giữa thực tiễn tiến hành tố tụng tại Thành phố Hồ Chí
Minh với các địa bàn trên nhằm cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ
quan của người THTT đến hiệu quả thực thi pháp luật nói chung và QBC của người
CTN nói riêng.
Thứ hai, việc không tiến hành lấy số liệu khảo sát từ khu vực phía Bắc hoàn
toàn không xuất phát từ việc phủ nhận giá trị thực tiễn của số liệu. Vấn đề ở chỗ,
thực tiễn THTT tại khu vực phía Bắc đã được nghiên cứu, xem xét qua các diễn
đàn, Hội thảo, tập huấn, các tài liệu báo cáo chuyên ngành. Cùng với những khó
khăn mang tính chất chủ quan và khách quan của việc thu thập số liệu, thay vì tiến
hành lấy khảo từ các cơ quan THTT ở phía Bắc, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích



7
luật Việt Nam có những ảnh hưởng nhất định. Từ những nghiên cứu đó luận án có
những so sánh và tiếp thu có chọn lọc, từ đó kiến nghị những giải pháp về mặt pháp
luật nhằm hoàn thiện pháp luật về QBC của bị can, bị cáo là người CTN trong
TTHS Việt Nam;
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, luận án đã đề xuất
được một hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện QBC của
bị can, bị cáo là người CTN, đồng thời bảo đảm xác định sự thật của vụ án khách
quan, toàn diện và đầy đủ, góp phần giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đây là công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện,
chuyên sâu về vấn đề QBC của bị can, bị cáo là người CTN trong TTHS và các biện
pháp bảo đảm thực hiện QBC của bị can, bị cáo là người CTN.
Luận án với những phân tích sâu sắc các vấn đề lý luận về thủ tục TTHS đối
với người CTN phạm tội và những khảo sát, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng
các quy định pháp luật TTHS về QBC của bị can, bị cáo là người CTN sẽ đóng góp
không nhỏ trước hết cho các nhà lập pháp. Định hướng hoàn thiện Bộ luật TTHS
2003 và những kiến nghị cụ thể hoàn thiện các quy định cụ thể của Bộ luật TTHS
2003 liên quan đến QBC của bị can, bị cáo là người CTN hoàn toàn có thể là các
vấn đề mà các nhà lập pháp có thể nghiên cứu, cân nhắc, xem xét trong quá trình
sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS 2003.
Kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên
cứu chuyên sâu, tài liệu tham khảo có giá trị trong hoạt động lập pháp TTHS, trong
thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cũng như trong nghiên cứu, giảng dạy về TTHS.


8
Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Comparative Law, 1982. (K. W. Lidstone, Quyền con người trong các phiên tòa
hình sự ở Anh – Tạp chí Quyền con người trong TTHS, Biên tập John M. Andrew,
Ủy ban Quốc gia về Luật so sánh của Anh quốc, năm 1982). Nội dung chủ yếu phân
tích về những yêu cầu nhằm đảm bảo những quyền cơ bản của con người trong một
phiên tòa hình sự tại Anh quốc như có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn; quyền có
một Bồi thẩm đoàn công tâm (không thiên vị); quyền có một phiên tòa công bằng
và thẩm phán không thiên vị; tự do báo chí tại phiên tòa; quyền được hưởng sự trợ
giúp pháp lý (TGPL); quyền tranh luận và có người đại diện; bị cáo phải được cho
là không có tội trước khi bản án được phán quyết; quyền được giữ im lặng; quyền
được kiểm tra và kiểm tra chéo đối với nhân chứng; quyền kiểm tra chứng cứ và các
lời cáo buộc… Ngoài ra, tác giả đã tập trung phân tích vào hai quá trình then chốt là
“thẩm vấn/ tra hỏi” (inquisitorial procedures) và “truy tố/ tố tụng” (accusatorial
procedures). Và tác giả cho rằng cả hai quá trình này đều phụ thuộc vào yếu tố
người THTT và kết luận nếu như không đảm bảo được “quyền” (quyền giữ im lặng,
quyền nhờ NBC, quyền đưa ra yêu cầu…) cho người phạm tội thì QCN sẽ không
được đảm bảo. Để làm rõ QBC của người phạm tội, tác giả sử dụng phương pháp so
sánh quyền này giữa các nước Tây Âu: Vương quốc Anh (Anh Quốc, Cộng Hòa
Ireland, Wales, Scotland), Tây Đức, Pháp…Tóm lại, tác giả đã phân tích về mặt kỹ
thuật pháp lý các quyền của những người tham gia phiên tòa hình sự đặc biệt là
quyền của bị cáo.
- The guarantees for accused persons under Article 6 of the European
Convention on Human Rights tạm dịch Đảm bảo quyền cho người bị buộc tội theo
Điều 6 Công ước châu Âu về nhân quyền của tác giả Stephanos Stavros, NXB
Sweet & Maxwell, Anh quốc, năm 1993. Công ước châu Âu về nhân quyền, tên
chính thức là Công ước bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do căn bản (Convention
for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms). Điều 6 đưa


10
ra quyền được xét xử công bằng cách chi tiết, trong đó có quyền được xét xử công

em. Tính đến tháng 3 năm 1991 có hơn 75 quốc gia đã phê chuẩn Công ước. Việc
số lượng các quốc gia tham gia vào Công ước và thực hiện Công ước như một đóng
góp chương trình khung và nhằm đánh giá lại những ưu điểm và nhược điểm của
việc tiếp cận các vấn đề phúc lợi của trẻ em và hạnh phúc qua lăng kính của một
cách tiếp cận “quyền”. Mục đích là để có một cái nhìn mới về những vấn đề này và
làm như vậy với tài liệu tham khảo cụ thể cho một hiệp ước quốc tế chắc chắn sẽ
được phê chuẩn bởi một số lượng rất lớn của các nước trong mọi khu vực của thế
giới và sẽ sớm được ràng buộc pháp lý ở nhiều tiểu bang.
- Criminal Law cases, marterials and problems của tác giả David S.
Rudstein, NXB West Group, The United Sates of America năm 2002. Công trình
bao gồm các trường hợp và quy chế từ khu vực pháp lý khác nhau, cũng như những
đoạn trích từ BLHS Model. Ngoài ra, tác giả đã đặt vấn đề chiến lược trong suốt
công trình để học sinh có thể áp dụng pháp luật được quy định trong các trường hợp
và quy chế các tình huống thực tế mới, do đó cho phép họ kiểm tra kiến thức và
củng cố sự hiểu biết của họ về các nguyên tắc pháp lý có liên quan. Mục đích của
công trình gồm hai phần: đầu tiên, để giúp học sinh đạt được một sự hiểu biết về các
nguyên tắc chung của pháp luật hình sự Anh-Mỹ; thứ hai, để hỗ trợ sinh viên phát
triển kỹ năng của họ trong trường hợp phân tích, giải thích theo luật định, tổng hợp
các trường hợp, và giải quyết vấn đề.
- Juvenile Court: An Overview của tác giả Kathleen Michon, JD. Tác giả nêu
lên một số khái niệm về Tòa án Vị thành niên. Mỗi tiểu bang có những Tòa án đặc
biệt, thường được gọi là Tòa án Vị thành niên để xét xử người CTN, những người
đã bị cáo buộc vi phạm một đạo luật hình sự. Thông thường, Tòa án Vị thành niên
vẫn giữ quyền hợp pháp đối với người CTN cho một khoảng thời gian cho đến khi
người CTN trở thành thành niên, hoặc đôi khi thậm chí lâu hơn, nghĩa là thông
thường Tòa án ra quyết định, xử phạt và quyết định đó có hiệu lực cho đến khi vị
thành niên đủ tuổi thành niên. Một người trẻ tuổi phải là một “vị thành niên” theo
luật tiểu bang thì mới được đưa ra xét xử ở Tòa án này. Trong hầu hết các quốc gia,
tuổi tối đa cho người CTN là 18 tuổi. Trong một vài tiểu bang tuổi là 16 hoặc 17, và


được chuyển giao cho Tòa án dành cho người thành niên.


13
- Magistrate Court Act, tạm dịch Đạo luật Thẩm phán Tòa án của Vương
quốc Anh, quy định về việc thành lập Tòa án; quy tắc của Tòa án; giới hạn lãnh thổ,
thẩm quyền của Tòa án; bổ nhiệm thẩm phán, thư ký tòa án; thẩm quyền dân sự,
thẩm quyền hình sự của Tòa án; thẩm quyền đặc biệt trong những trường hợp nhất
định; chức năng và thẩm quyền của thẩm phán; nhiệm vụ của thư ký tòa án…Một
điều quan trọng trong Đạo luật Thẩm phán Tòa án có quy định thông thường người
CTN sẽ được xét xử ở Tòa án Vị thành niên, tuy nhiên trong một số trường hợp thì
sẽ được xét xử ở Tòa án dành cho người thành niên. Cụ thể là trong các trường hợp:
tội sát nhân (homicide), sở hữu vũ khí quân dụng, tội trạng vượt quá 14 năm cho
người CTN, xâm phạm tình dục, xâm phạm tình dục với trẻ em, những tội đặc biệt
nghiêm trọng có thể bị phạt từ 10 năm tù giam cho người CTN (sát nhân, bắt cóc,
v.v..), xét xử cùng với đồng phạm là người thành niên.
- Police and Criminal Evidence Act 1984, tạm dịch là Đạo luật Cảnh sát
hình sự và chứng cứ 1984. Đây là một đạo luật của Quốc hội nhằm tạo ra một
khuôn khổ pháp lý cho quyền lực của nhân viên cảnh sát tại Anh và xứ Wales
chống tội phạm, cũng như cung cấp các quy trình cho việc thực hiện những quyền
lực. Khi thực hiện quyền lực đối với các trường hợp là người CTN, đạo luật cũng
quy định thật chi tiết từng hành vi cụ thể của cảnh sát: khi bắt giữ người CTN, việc
đầu tiên là nhân viên cảnh sát sẽ phải thông báo ngay với phụ huynh, người đỡ đầu,
cơ quan địa phương, v.v.. về việc lý do người CTN bị bắt giữ. Liên quan đến quy
trình thẩm vấn, lấy lời khai, hỏi cung người CTN, nếu trong trường hợp mà phụ
huynh, người đỡ đầu của người CTN không thể có mặt thì nhân viên cảnh sát sẽ tiến
hành lập một tuyên bố bằng văn bản (written statement) có chữ ký của người CTN
để chứng minh cuộc thẩm vấn không có người lớn tham dự. Tuy nhiên, việc làm
này còn phụ thuộc vào các yếu tố như: phải có sự xác nhận (hay ủy quyền) của một
người đứng đầu của cảnh sát về việc hài lòng khi cuộc thẩm vấn không gây ảnh

đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện đề tài. Trái lại, việc nắm bắt chính xác,
đầy đủ thông tin pháp luật nước ngoài sẽ nâng cao chất lượng khoa học của luận án.
Đánh giá chung về các công trình trên, có những điểm tương đồng với pháp
luật Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực TTHS. Những quy trình TTHS đặc biệt đối


15
với người CTN khi tham gia vào VAHS. Những quy định đối với người THTT là
cần phải có kiến thức, sự am hiểu về tâm sinh lý đối với người CTN khi tiến hành
các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử người CTN phạm tội. Tuy nhiên, so với
những quy định về thủ tục TTHS đặc biệt đối với người CTN, pháp luật nước ngoài
cũng có những điểm ưu việt, nổi trội hơn. Đặc biệt, đa số các quốc gia đều có Tòa
án chuyên trách để xét xử người CTN và xây dựng riêng luật cho người CTN (Law
for parents Counselors). Để có thể đảm bảo cho người CTN thực hiện được đầy đủ
các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình, pháp luật nước ngoài cũng quy định rất
chặt chẽ các hoạt động của các cơ quan THTT như cơ quan điều tra (CQĐT), viện
công tố, tòa án và kể cả người THTT bằng việc xây dựng các đạo luật riêng cho
từng đối tượng cụ thể, như Đạo luật Thẩm phán Tòa án và Đạo luật Cảnh sát hình
sự và Chứng cứ 1984.v.v..
Tuy vậy, một cách tổng quan có thể thấy các tài liệu nước ngoài chủ yếu đề
cập đến QCN nói chung và QCN trong TTHS và các quyền này đều có nền tảng từ
các quy định của Công ước châu Âu về QCN. Nhiều vấn đề lý luận quan trọng như
làm thế nào để bảo đảm quyền cơ bản của công dân khi tham gia TTHS, đó là QBC;
cơ chế bảo đảm thực thi QBC theo nghĩa vụ pháp lý trong TTHS ra sao…còn bị bỏ
ngỏ hoặc đã được đề cập ở mức độ nhất định nhưng còn thiếu đồng bộ, thiếu thống
nhất, chưa đầy đủ. Do vậy, đa số các công trình chủ yếu phân tích các quy định của
pháp luật thực định, có so sánh với thực tiễn để tìm ra những bất cập, hạn chế về
QBC nói chung và của người CTN riêng trong TTHS.
Nhìn chung thủ tục tố tụng đối với người CTN phạm tội, trong phạm vi
người viết tra cứu được, cũng chỉ được đề cập ở một phạm vi rất nhỏ trong các tài

tính toàn diện. Nhiều khái niệm cơ bản của vấn đề QCN và bảo đảm QCN trong
TTHS nói chung hoặc QCN và bảo đảm QCN của những chủ thể tham gia hoạt
động TTHS chưa được nhìn nhận một cách đồng bộ và sâu trong các nghiên cứu
này. Tóm lại, công trình nghiên cứu Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình
sự Việt Nam đã làm rõ thực trạng bảo đảm QCN trong Bộ luật TTHS 2003 và đề
xuất một số giải pháp hoàn thiện Bộ luật TTHS 2003 theo hướng mở rộng QCN và
bảo đảm QCN của những chủ thể tham gia hoạt động TTHS.
+ Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố
tụng hình sự Việt Nam, của TS Lại Văn Trình, Đại học Luật TP.HCM năm 2011.


Luận án dầy đủ ở file: Luận án Full







Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status