PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Trong bất kì cuộc hội thoại nào, các nhân vật tham gia hội thoại cũng luôn
muốn làm rõ nội dung cũng như ý đồ của cuộc giao tiếp mà đối phương đang
muốn hướng đến. Và để thực hiện các cuộc hội thoại ấy, người ta phải dùng đến
những hành vi, phương tiện ngôn ngữ nhất định, cụ thể, phù hợp với từng ngữ cảnh
khác nhau để đạt được mục đích của mình. Có vô vàn các hành vi ngôn ngữ được
sử dụng để truyền tải thông điệp trong một cuộc hội thoại như cầu khiến, đe dọa,
xin lỗi, cảm ơn…và trong số đó, cặp tương tác hỏi – đáp là không thể không nhắc
tới.
Việc nghiên cứu bản chất, cấu trúc cũng như cách thể hiện của hành vi hỏi –
đáp là một vấn đề hết sức quan trọng bởi chính điều này, sẽ làm rõ cho chúng ta
thấy được những đặc trưng ngôn ngữ, tư duy ngôn ngữ khi giao tiếp của người
Việt. Đặc biệt, cặp tương tác hỏi – đáp là cặp tương tác xuất hiện khá nhiều, nó
đóng vai trò là tiền đề cho sự phát triển của các cuộc hội thoại trong giao tiếp nói
chung và trong các tác phẩm văn học nói riêng.
Nguyễn Nhật Ánh là cây bút xuất sắc chuyên viết về đề tài giới trẻ - bộ phận
người sử dụng ngôn ngữ với nhiều điểm mới lạ đáng chú ý. Đặc thù ngôn ngữ
truyện của ông là việc thể hiện tâm trạng, cảm xúc và ý đồ giao tiếp của các nhân
vật thông qua các đoạn hội thoại ngắn. Trong số đó, hành vi hỏi – đáp được ông
đặc biệt quan tâm và sử dụng một cách linh hoạt. Vì vậy, có thể coi các tác phẩm
của Nguyễn Nhật Ánh là nguồn ngữ liệu vô cùng quý giá khi đi sâu tìm hiểu về
hành vi hỏi – đáp.
2.
Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa đề tài
Khi đi sâu tìm hiểu về hành vi hỏi – đáp cũng như mối tương quan giữa chúng
trong ngôn ngữ giới trẻ truyện Nguyễn Nhật Ánh, chúng tôi hy vọng sẽ đem lại
cho người đọc cái nhìn tổng quát nhất về cách sử dụng hỏi và đáp dưới quan điểm
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu ở đây là tất cả hành vi hỏi –
đáp trong giao tiếp bạn bè xuất hiện trong ngôn ngữ nhân vật Nguyễn Nhật
Ánh.
Phạm vi nghiên cứu: Tất cả các truyện ngắn, truyện dài của Nguyễn Nhật
Ánh. Cụ thể ở đề tài này, chúng tôi đã khảo sát qua phạm vi cụ thể đó là
5.
truyện dài: Cô gái đến từ hôm qua – xuất bản năm 2011.
Lịch sử vấn đề
Ngữ dụng học nói chung và hỏi – đáp nói riêng là những vấn đề lý thuyết đã
được nói nhiều trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ. Nguyễn Đức Dân
(2001) trong cuốn Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, Hà Nội cũng đã trình bày rất rõ,
đầy đủ về các khía cạnh của hành vi hỏi đáp trong giao tiếp. Hay trong Dụng học
Việt ngữ (2004) của tác giả Nguyễn Thiện Giáp, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội
cũng đã đề cập đến việc phân chia các hành động ở lời, trong đó có hỏi – đáp.
Ngoài ra, còn có một số bài báo, công trình khoa học khác nghiên cứu về hành vi
hỏi – đáp được in trên các tạp chí khoa học như: “Câu trả lời và câu đáp của câu
hỏi” của tác giả Lê Đông trên tạp chí Ngôn ngữ số 1/1985 (tr.23 – 25); Mai Thị
Kiều Phượng, “Đặc trưng văn hóa dân tộc trong nghĩa hàm ẩn của phát ngôn hỏi
khi mua bán, giao tiếp bằng tiếng Việt”, Tạp chí ngôn ngữ số 9/2006 (tr.72 – 80)…
Về vấn đề tìm hiểu ngôn ngữ nhân vật trong truyện Nguyễn Nhật Ánh, đặc
biệt là nghiên cứu về hành vi hỏi – đáp chưa thật sự có nhiều công trình tìm hiểu
chuyên sâu. Một số công trình ít ỏi có thể kể đến như Luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Lý luận Văn học, “Nhân vật trẻ em trong truyện Nguyễn Nhật Ánh” của
Nguyễn Thị Đài Trang, Khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu ngôn ngữ giới trẻ trong
một số sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh” của Trần Thị Phương Thảo…
tiếp.
Hội thoại
Trong giao tiếp, có giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều. Giao tiếp một
chiều là giao tiếp mà ở đó chỉ có một bên nói còn một bên tiếp nhận, hoặc có thể tự
nói với mình đó là độc thoại. Giao tiếp hai chiều là giao tiếp mà bên này nói bên
kia nghe và phản hồi trở lại, đó là hội thoại. Hội thoại là hình thức giao tiếp thường
xuyên, phổ biến nhất của ngôn ngữ, cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động
ngôn ngữ khác.
Một cuộc hội thoại thường mang những đặc điểm sau đây:
- Có mối quan hệ qua lại giữa những người giao tiếp, tuân thủ nguyên tắc luân
phiên lượt lời.
- Mọi cuộc hội thoại đều có mục đích, chứa đựng một hoặc nhiều chủ đề.
- Mỗi bên tham gia giao tiếp phải tôn trọng nguyên tắc hội thoại. Đó là
nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc tế nhị.
- Các lượt lời có liên kết với nhau và tạo nên sự liên kết hội thoại.
1.3. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ
1.3.1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ là các phát ngôn được thực hiện để phục vụ cho các chức
năng giao tiếp. Chúng ta thực hiện một hành vi ngôn ngữ khi chúng ta muốn đưa ra
một lời xin lỗi, một lời chào, một lời mời, một lời xin phép, hay một lời phàn
nàn… Người ta chia nó ra thành ba loại hành động cơ bản: hành động tạo lời, hành
động ở lời và hành động mượn lời.
1.3.2. Hành động ở lời
Hành động ở lời là hành động được thực hiện bởi người nói khi tạo ra một
phát ngôn, thể hiện mục đích của người nói đối với đối tượng nghe khi thực hiện
phát ngôn. Hành động ở lời được xem xét trên cơ sở biểu hiện ý nghĩa liên cá nhân
của phát ngôn đó.
tiếp để thể hiện mục đích giao tiếp chính của tác giả trong hoàn cảnh giao tiếp cụ
thể - phù ứng với yêu cầu của một cuộc giao tiếp.
1.3.6. Hiệu quả ở lời và đích ở lời
Hiệu quả ở lời
- Là tác động hầu như tức thì buộc vai nói phải hồi đáp lại đối với hành động
ở lời của người phát ngôn.
- Là thành phần nội dung liên cá nhân của của phát ngôn chứa hành động ở
lời.
- Thể hiện qua sự hồi đáp của người tiếp nhận hành động ở lời.
Đích ở lời
Đích của hành động ở lời, được thỏa mãn khi đạt hiệu quả ở lời.
1.3.7. Động từ ngữ vi và biểu thức ngữ vi
Biểu thức ngữ vi
Trong Giáo trình "Đại cương ngôn ngữ học" tập II, Đỗ Hữu Châu (2010) đã
định nghĩa biểu thức ngữ vi như sau: "Biểu thức ngữ vi là những thể thức nói năng
đặc trưng cho một hành vi ở lời.” Và “Phát ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc
trưng cho hành vi ở lời tạo ra nó. Kết cấu đó được gọi là biểu thức ngữ vi.”
Động từ ngữ vi
Trong tất cả các động từ nói năng có những động từ đặc biệt, đó là những động
từ có thể được thực hiện trong chức năng ngữ vi, tức thực hiện trong chức năng ở
lời. Những động từ này được gọi tên là động từ ngữ vi (performative verbs - động
từ ngôn hành.)
“Động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngữ
vi (có khi không cần biểu thức ngữ vi đi kèm) là người nói thực hiện luôn cái hành
vi ở lời do chúng biểu thị” như xin phép, cho phép, thề, cảm ơn, khuyên, trả lời….
Nói như vậy có nghĩa là không phải bao giờ một động từ ngữ vi cũng được sử
dụng trong chức năng ngữ vi.
2. Hành vi hỏi – đáp
đó còn người người nghe thực hiện việc cung cấp thông tin cho người hỏi đúng
vào trọng tâm vấn đề mà người hỏi cần được giải đáp.
Hỏi – đáp không đúng chuẩn: là hành vi hỏi nhưng được thực hiện một cách
gián tiếp thông qua các hành động ở lời khác hoặc hành vi đáp nhưng theo hình
thức đáp gián tiếp. Hỏi – đáp lệch chuẩn sẽ đi theo những mô hình như sau: Hỏi
gián tiếp – đáp trực tiếp, hỏi trực tiếp – đáp gián tiếp, hỏi gián tiếp – đáp gián tiếp.
Trong một số trường hợp còn xảy ra trường hợp hỏi nhưng không có lời đáp. Sự
lệch chuẩn này nhằm làm tăng hiệu quả của cuộc hội thoại hoặc cũng có thể đó là
cách để những người tham gia hội thoại chuyển đề tại của cuộc giao tiếp một cách
tế nhị và lịch sự nhất.
3. Khái quát về tác giả và tác phẩm
3.1. Nguyễn Nhật Ánh và các tác phẩm
Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn Việt Nam chuyên viết cho tuổi mới lớn. Ông
sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại thôn An Mỹ, xã Bình An, huyện Thăng
Bình,tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ ông theo học tại các trường THPT Tiểu La,
trường THPT chuyên ban Trần Cao Vân và THCS Phan Chu Trinh.
Từ 1973 Nguyễn Nhật Ánh chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành sư phạm.
Ông đã từng đi Thanh niên xung phong, dạy học môn Văn tại trường THCS Bình
Tây (Quận 6) từ năm 1983-1985.
Năm 13 tuổi ông đăng báo bài thơ đầu tiên. Tác phẩm đầu tiên in thành sách
là một tập thơ: Thành phố tháng tư, Nhà xuất bản Tác phẩm mới 1984 (in chung
với Lê Thị Kim). Truyện dài đầu tiên của ông là tác phẩm Trước vòng chung
kết (Nhà xuất bản Măng Non, 1984). Hai mươi năm trở lại đây, ông tập trung viết
văn xuôi, chuyên sáng tác về đề tài thanh thiếu niên.
Năm 1990, truyện dài Chú bé rắc rối được Trung ương Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh trao giải thưởng Văn học Trẻ hạng A. Năm 1995, ông được
bầu chọn là nhà văn được yêu thích nhất trong 20 năm (1975-1995) qua cuộc trưng
cầu ý kiến bạn đọc về các gương mặt trẻ tiêu biểu trên mọi lãnh vực của Thành
bộ Kính vạn hoa và hàng loạt tập truyện dài viết cho tuổi mới lớn của Nguyễn Nhật
Ánh, chúng ta dễ đồng tình với các ý kiến trên.
Ngoài mảng văn xuôi viết cho thiếu nhi và tuổi mới lớn, Nguyễn Nhật Ánh còn
khẳng định tài năng qua nhiều thể tài khác như thơ, truyện thần tiên phù phủ, bình
luận bóng đá, tạp văn,…, trong đó, tạp văn - thể văn khiêm nhường nhưng đã gắn
bó với anh hàng chục năm.
Đọc tạp văn Nguyễn Nhật Ánh, dễ nhận thấy nhà văn sử dụng thành thạo, thể
hiện được sự tinh tế và trong sáng của tiếng Việt. Ngôn từ trong tạp văn của ông
trong sáng như nó vốn có, như lời ăn tiếng nói hàng ngày, không lên gân, không
màu mè son phấn, làm dáng phô trương. Làm nên nét riêng ngôn ngữ tạp văn
Nguyễn Nhật Ánh là giọng văn thủ thỉ tâm tình nhưng đằm thắm và giàu tính nhân
văn, dẫn dụ người đọc đi vào từng miền sâu thẳm của kí ức, từng tầng vỉa những
vấn đề thực tại của đời sống.
4. Đặc điểm văn hóa giao tiếp của người Việt
Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa còn văn hóa lại mang trong mình
ngôn ngữ. Nhiều ý kiến cho rằng, ngôn ngữ chính là kết tinh của văn hóa dân tộc,
nhờ có ngôn ngữ thì văn hóa mới được lưu giữ và phát triển. Sự phát triển và biến
đổi của văn hóa luôn luôn song hành với sự phát triển và biến đổi của ngôn ngữ.
Như vậy, giữa chúng có mối quan hệ vô cùng mật thiết với nhau. Muốn tìm hiểu
văn hóa thì phải bắt nguồn từ ngôn ngữ và ngược lại, để hiểu hơn về ngôn ngữ thì
nhất định phải chú tâm đến việc tìm hiểu văn hóa.
Trong giao tiếp thường ngày, người Việt luôn mang một số đặc điểm sau:
- Vừa thích giao tiếp nhưng lại khá rụt rè.
- Coi trọng giao tiếp.
- Lấy tình cảm làm vấn đề trọng tâm trong khi giao tiếp.
- Rất coi trọng vấn đề thể diện khi giao tiếp.
- Tôn trọng các phép tắc, lễ nghi và các chuẩn mực quan hệ khi giao tiếp.
- Chú trọng đến sự tế nhị, ý tứ khi giao tiếp.
cảnh và mục đích ngữ dụng của nó. Ngoài ra, trong một số trường hợp, chúng tôi
phải dựa vào sự phản hồi của người nghe (lời đáp) để xác định xem nó có phải là
câu hỏi gián tiếp không.
Dựa vào nội dung câu hỏi để xác định câu đáp tương ứng với nó là đáp trực tiếp
hay đáp gián tiếp. Ngoài ra, việc xác định hành vi đáp là trực tiếp hay gián tiếp một
phần cũng phải dựa vào ngữ cảnh của đoạn hội thoại mà chúng ta đang nói tới.
Và cuối cùng, dựa trên những ngữ liệu đã khảo sát được, chúng tôi sẽ tiến hành
kiểm tra sự tương quan giữa hỏi và đáp nhằm đi sâu tìm hiểu giá trị văn hóa mà nó
mang lại cho người đọc.
Trên đây là một số cách thức cơ bản nhất mà chúng tôi sử dụng để tiến hành
khảo sát và phân loại hành vi hỏi và đáp trong truyện Nguyễn Nhật Ánh.
2.2.
Kết quả thống kê hành vi hỏi – đáp trong giao tiếp bạn bè (Khảo sát
trong ngôn ngữ nhân vật Nguyễn Nhật Ánh)
2.2.1 Số lượng ngữ liệu
Sau khi tiến hành khảo sát qua tập truyện Cô gái đến từ hôm qua của
Nguyễn Nhật Ánh, chúng tôi đã thu thập được 601 câu, trong đó có 310 câu thuộc
nhóm hành vi hỏi và 291 câu thuộc nhóm hành vi đáp.
2.2.2 Phân loại hành vi hỏi – đáp trong giao tiếp bạn bè (Khảo sát trong ngôn
ngữ nhân vật Nguyễn Nhật Ánh)
Hỏi: Xuất hiện 310 lần, trong đó:
- Hỏi trực tiếp: 242 lần
- Hỏi gián tiếp: 22 lần, cụ thể:
+ Hỏi thông qua hành động ở lời cảm thán: 5 lần
+ Hỏi thông qua hành động ở lời thách đố: 1 lần
+ Hỏi thông qua hành động ở lời khẳng định: 8 lần
+ Hỏi thông qua hành động ở lời cầu khiến: 3 lần
8
3
2
3
Cộng
Tổng cộng
22
264
Hỏi nhằm hướng đến mục đích khác
Hành động ở lời
Hỏi
Mục đích
Cảm thán
Khẳng định
Trách móc
Giễu cợt
Cầu khiến
Dò hỏi
Phỏng đoán
Thách đố
Lảng tránh
Cộng
Tổng cộng
2.9%
2.58%
1.61%
1.29%
0.32%
4.52%
0.97%
0.32%
0.32%
14.84%
100%
- Đáp gián tiếp: 87 lần
Hành vi đáp gián tiếp ở đây được thực hiện qua nhiều hành động ở lời
như cảm thán (15 lần), thách đố (2 lần), khẳng định (13 lần)…
Bảng 2: Kết quả thống kê, phân loại hành vi đáp
Phân loại các hành vi đáp
Mục đích Cách thức Hành động ở
Tần số xuất hiện các hành vi đáp
Số lần xuất hiện
Tỉ lệ
lời
Đáp trực tiếp Đáp
Cảm thán
Đáp nhằm
0.69%
24
8.24%
Cam đoan
2
0.69%
Kể
5
8.24%
Giải thích
Cộng
20
87
6.87%
29.9%
100%
Tổng cộng
Hỏi: Mày tên gì?
Đáp: Tiểu Ly
tiếp
Hỏi trực
tiếp
Đáp gián
47
20.35%
Hỏi: Outside là sao?
Đáp: Sao mày học mau quên quá
tiếp
vậy?
Hỏi gián
tiếp
Cộng
Đáp trực
215
8
93.07%
3.46% Hỏi: Nhất định là có chuyện gì!
Đáp: Không có chuyện gì hết.
90.00%
80.00%
70.00%
60.00%
50.00%
40.00%
30.00%
20.00%
10.00%
0.00%
i
Hỏ
p
tế
c
trự
n
giá
i
Hỏ
p
tế
m
hằ
n
Như vậy, có thể thấy, trong truyện Nguyễn Nhật Ánh, hầu như phần lớn các
câu hỏi mà tác giả sử dụng đều hướng tới mục đích hỏi. Sự chênh lệch ở đây là khá
lớn. Có thể, đó là dụng ý của tác giả nhằm hướng tới một mục đích nào đấy khi
truyền tải nội dung tư tưởng cũng như ý nghĩa tập truyện của mình.
Trong hành vi hỏi nhằm mục đích hỏi, tác giả lại sử dụng hành động hỏi trực
tiếp tới 242 lần trong khi, hành động hỏi gián tiếp chỉ chiếm 22 lần. Điều này cho
thấy, việc sử dụng hành động hỏi trực tiếp diễn ra phổ biến hơn.
Trong hành động hỏi trực tiếp, có một số lần, hành vi đáp được bỏ ngỏ. Có thể
hành vi hỏi ấy chỉ là suy nghĩ, tâm trạng hay một cảm xúc bất chợt nào đó của
người nói. Cũng có thể việc bỏ ngỏ lời đáp là dụng ý nhằm thể hiện một mục đích
ngữ dụng nào khác.
Một số ví dụ tiêu biểu cho các dạng thức câu hỏi thường xuất hiện trong truyện
Nguyễn Nhật Ánh như sau:
- Hỏi trực tiếp: Nhà mày ở đây hả?
Mày tên gì?
Chứ anh thích hoa gì?
Dạng câu hỏi như này xuất hiện với tần suất rất lớn, bởi lẽ nó thể hiện đúng
nhất cách giao tiếp thường thấy của giới trẻ: Đi thẳng vào vấn đề. Đặc biệt, nhân
vật trong Cô gái đến từ hôm qua nói riêng và truyện Nguyễn Nhật Ánh nói chung
thường là trẻ con nên ngôn ngữ hỏi thường rất hồn nhiên, không có quá nhiều
chiến lược hay ẩn ý đằng sau đó. Dạng câu hỏi trực tiếp là lựa chọn khá phù hợp để
tác giả truyền tải sự trong sáng trong văn phong của mình.
- Hỏi gián tiếp: Tôi mượn tiền không bao giờ trả đâu.
Nếu để phát ngôn này là một phát ngôn tồn tại thì độc lập thì ta sẽ nhận định nó
là một câu khẳng định. Tuy nhiên, trong giao tiếp, để kết luận đâu mới là hành
động ở lời đích thực của câu thì chúng ta phải dựa vào đích ở lời mà phát ngôn
hướng đến cũng như dựa vào ngữ cảnh mà trong đó, phát ngôn được thực hiện.
Ở đây, phát ngôn trên được thực hiện khi nhân vật Việt An trong tác phẩm đang
Hành vi đáp
40.00%
30.00%
20.00%
10.00%
0.00%
Đáp trực tếp
Đáp gián tếp
Từ kết quả thống kê và biểu đồ trên ta thấy, có 291 lần tác giả sử dụng hành vi
hồi đáp để phản hồi lại 310 lần hỏi. Trong 291 đáp xuất hiện đó, ta thấy hình thức
đáp trực tiếp chiếm tới 204 lần còn đáp gián tiếp chỉ là 87 lần.
Có sự chênh lệch giữa hỏi và đáp ở đây, tuy nhiên sự chênh lệch không quá lớn.
Điều này cho thấy, cách thức đáp trong ngôn ngữ nhân vật của Nguyễn Nhật Ánh
là khá đa dạng và không hề có sự bó buộc hay tập trung ở một loại nào nhằm mục
đích ngữ dụng.
Ví dụ về các dạng thức của hành vi đáp:
- Đáp trực tiếp:
+ Anh tên gì vậy? Tao tên Thư.
+ Việt An xem cuốn gì vậy? Cuốn "Giamilia".
Những câu đáp như thế này xuất hiện khá nhiều, nó đánh đúng vào trọng tâm
của câu hỏi. Nguyễn Nhật Ánh sử dụng nhiều hình thức đáp như thế này vì nó thể
hiện đúng tính chất của ngôn ngữ nhân vật trẻ: đơn giản, thẳng thắng và rất tự
nhiên.
- Đáp gián tiếp:
p
Đá
p
Tương quan hỏi - đáp
p
tế
c
trự
ế
ct
rt ự
i
Hỏ
p
Đá
p
n
giá
p
tế
Hỏ
n
iá
Ta thấy, theo như khảo sát thì tác giả đã sử dụng tới 310 lần hỏi và 291 lần đáp.
Tuy nhiên, chỉ có 231 lần trong số ấy là có sự tương tác giữa hỏi và đáp. Sự tương
tác này, được thể hiện qua các mô hình:
Hỏi trực tiếp – Đáp trực tiếp:
- Bánh mì có kẹp thịt không?
- Có! Pate nữa.
Hình thức hỏi đáp này được vận dụng nhiều nhất. Nó khả đơn giản và không
mang nhiều giá trị về mặt văn hóa cũng như ngôn ngữ. Tuy nhiên, cách thức này
lại phù hợp với nhân vật truyện lẫn độc giả - phần đa là thuộc lứa tuổi mới lớn.
Hỏi trực tiếp – Đáp gián tiếp:
- Nhà bà Tư Mập đẹp ghê anh hén?
- Nhà bà Tư Mập nào?
Hình thức hỏi – đáp này được sử dụng nhiều thứ hai trong tác phẩm. Cách
dùng này cho thấy được mối tương quan không cân xứng giữa hỏi – đáp, qua đó,
thể hiện được đặc trưng tâm lý của người đáp. Chẳng hạn câu đáp ở ví dụ trên
được thực hiện bằng một câu hỏi, qua đó nó thể hiện kiến thức của người đáp về
vấn đề được hỏi là không có.
Hỏi gián tiếp - Đáp trực tiếp:
- Nhất định là có chuyện gì?
- Không có chuyện gì hết.
Như đã đề cập ở phần câu hỏi gián tiếp thì dạng tương tác hỏi – đáp này, phần
nhiều cũng phải dựa vào ngữ cảnh để xác định. Ở đây, có thể tạm hiểu nội dung
cuộc hội thoại này như sau:
- Cô đang giấu chuyện gì phải không?
- Không có chuyện gì hết.
Hỏi gián tiếp – Đáp gián tiếp:
- Việt An đưa tập tôi chép bài giùm cho!
được thực hiện đều mang một giá trị ngôn trung nhất định mà tác giả muốn hướng
đến.
Đối với câu hỏi trực tiếp, tác giả sử dụng các hình thức thông thường như thêm
các từ để hỏi vào giữa hoặc cuối câu hay tác giả sử dụng các đại từ để hỏi. Như
vậy, hình thức của loại câu hỏi này là tương đối rõ ràng:
- Câu hỏi chứa các cụm từ có…không?
Ví dụ: Ông có biết ai vẩy mực không ?
Có chảy máu không ?
- Câu hỏi sử dụng cụm sao…vậy?
Ví dụ: Sao anh đọc chậm rì vậy ?
Sao anh bắn trật hoài vậy ?
Sao anh ném hết vậy ?
- Sử dụng các đại từ như ai, mấy, gì…
Ví dụ: Không bắn chim nữa thì mình chơi trò gì ?
Nhớ làm gì ?
Ai phao tin bậy bạ vậy ?
Ai mượn anh chép thơ Nguyễn Bính vô đây ?
Như vậy anh không thèm nói chuyện với tôi mấy thế kỷ rồi ?
- Sử dụng liên từ hay, hoặc…
Ví dụ: Hay là anh ăn rồi ?
Hay là nghỉ học ?
- Sử dụng hả ở cuối câu như một hình thức đánh dấu câu hỏi:
Ví dụ: Nhà mày ở đây hả ?
Anh mới dọn đến hả ?
Những cấu trúc hỏi này không có điểm gì khá đặc biệt và cũng rất dễ để
nhận dạng trong tác phẩm.
Đối với hành động hỏi gián tiếp hoặc hành động hỏi nhưng hướng đến một
mục đích ở lời khác, tác giả thể hiện nó bằng các hình thức cấu trúc khá đa dạng và
cấu khiến, thách đố, khẳng định, giải thích, cảm thán…)
+ Lời đáp được thực hiện bằng hành vi hỏi ngược lại đối với người hỏi là
hình thức phổ biến nhất (24 lần). Hành vi này không thực hiện rõ ràng mà qua đó,
người đáp sẽ lấp đi được sự bối rối cũng như việc thiếu kiến thức về nội dung được
hỏi:
Ví dụ: Tối nay làm sao đọc kịp ? Sao không kịp ?
Câu trả lời Sao không kịp? thể hiện sự bối rối của nhân vật khi được hỏi về
thời gian, cụ thể là việc người hỏi nghi ngờ rằng trong một tối thì không thể đọc
xong một cuốn sách. Lời đáp thể hiện người đáp đang ở trong tình trạng khó xử và
chỉ biết hỏi lại để tìm kiếm sự an tâm nơi người hỏi.
+ Lời đáp gián tiếp được thực hiện bằng hành động giải thích cũng rất phổ
biến trong tác phẩm (20 lần). Hành vi này giúp người đáp có thể thanh minh trước
những câu hỏi mang tính chất dò xét hay buộc tội...
Ví dụ: Ai bảo mày ? Cần gì ai bảo ! Tụi con trai trường em khối đứa chơi
nhảy dây !
Lời đáp ở đây được thực hiện như một lời giải thích cho nhận định trước đó
của nhân vật đáp: Con trai cũng chơi nhảy dây được. Chính điều này làm cho nhận
định trước đó của người đáp có độ tin cậy cao hơn.
Ngoài ra, trong truyện của mình, Nguyễn Nhật Ánh còn sử dụng một số cấu
trúc câu hỏi khác nhưng nó xuất hiện với tần xuất không nhiều và cũng không có
quá nhiều điểm đặc biệt để tìm hiểu.
3.1.2. Điểm đặc biệt của hành vi hỏi và đáp
Trong khi tìm hiểu về hành vi hỏi – đáp trong truyện Nguyễn Nhật Ánh,
chúng tôi nhận thấy cách diễn đạt của tác giả có một số điểm đặc biệt như sau:
- Sử dụng các từ địa phương:
Các từ nghi vấn:
+ Hén: Nhà bà Tư Mập đẹp ghê, anh hén ?
Đẹp ghê hén !
yếu hướng đến đối tượng bạn đọc là học sinh, sinh viên nên việc sử dụng ngôn ngữ
như vậy nó làm cho tác phẩm trở nên gần gũi hơn nhiều.
3.1.3. Mối tương quan giữa hành vi hỏi và đáp
Như đã đề cập ở chương hai, sự tương tác giữa hỏi và đáp được thực hiện
qua các mô hình: Hỏi trực tiếp – Đáp trực tiếp, Hỏi trực tiếp – Đáp gián tiếp, Hỏi
gián tiếp – Đáp trực tiếp, Hỏi gián tiếp – Đáp gián tiếp. Cũng theo số liệu đã thống
kê, chúng ta thấy rằng, Nguyễn Nhật Ánh chủ yếu sử dụng hình thức Hỏi trực tiếp
– Đáp trực tiếp. Như vậy, tác giả đang có xu hướng tối ưu hóa đến mức đơn giản
ẩn ý của các đoạn hội thoại làm bật lên tư duy ngôn ngữ của lứa tuổi học sinh cũng
như làm cho văn phong thêm rõ ràng.
Trong niên luận này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến một dạng mô hình đó
là Hỏi nhưng không có lời đáp và Hỏi nhưng đáp bằng hành động.