ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------***-------
TRẦN NGỌC ANH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------***-------
TRẦN NGỌC ANH
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đức Phúc
Chữ viết đầy đủ
Hội đồng nhân dân
Kế hoạch
Khắc phục hậu quả
QĐ
Quyết định
TB
Thông báo
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
UBND
Ủy ban nhân dân
VPHC
Vi phạm hành chính
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Luật Đất đai đầu tiên của Việt Nam được ban hành đã khẳng định: “Đất đai là
tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan
trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các
cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng”. Đất đai có vai trò quan trọng
như vậy, nên Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm vấn đề đất đai, tăng cường
quản lý nhà nước về đất đai thông qua việc ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định,
các chủ trương, đường lối, chính sách trong quản lý nhà nước về đất đai cho phù hợp
với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thực tiễn cho thấy, từ khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, nhà
nước thực hiện cơ chế quản lý mới bằng việc trả lại đất đai những giá trị vốn có thì
tình trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai phát sinh có xu hướng ngày càng
tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp về mặt hành vi. Tính phức tạp của
hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai không chỉ bắt nguồn từ những lợi ích kinh tế, từ
hệ quả của sự quản lý thiếu hiệu quả của cơ quan công quyền, sự bất hợp lý và thiếu
đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật đất đai... mà còn do những nguyên nhân có
tính lịch sử trong quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ.
Bắc Từ Liêm là một quận thuộc Hà Nội, nằm dọc phía bờ nam của sông Hồng,
Đông giáp quận Tây Hồ, Đông Nam giáp quận Cầu Giấy, Tây giáp huyện Đan
Phượng, huyện Hoài Đức, Nam giáp quận Nam Từ Liêm, Bắc giáp huyện Đông Anh.
Quận được thành lập theo Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2013 của
Chính phủ, trên cơ sở tách 9 xã: Thượng Cát, Liên Mạc, Tây Tựu, Thụy Phương, Minh
Khai, Phú Diễn, Đông Ngạc, Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế; 9,30 ha diện tích tự nhiên và 596
nhân khẩu của xã Xuân Phương; 75,48 ha diện tích tự nhiên và 10.126 nhân khẩu của
thị trấn Cầu Diễn thuộc huyện, thành 13 phường mới (Thượng Cát, Liên Mạc, Thụy
Phương, Tây Tựu, Minh Khai, Phúc Diện, Phú Diễn, Cổ Nhuế 1, Cổ Nhuế 2, Đông
Ngạc, Đực Thắng Xuận Đỉnh, Xuân Tảo). Trong quá trình đô thị hóa những năm vừa
qua, nhu cầu phát triển kinh tế của từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã thúc đẩy việc
đai qua các các năm trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm.
- Phương pháp phân tích, đánh giá: Thông qua số liệu đã được tổng hợp và xử
lý, tác giả phân tích và đưa ra đánh giá về tình hình sử dụng đất đai của khu vực
nghiên cứu, tình hình VPHC và xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn quận
Bắc Từ Liêm. Từ kết quả điều tra, phân tích làm rõ những hạn chế yếu kém của hoạt
động xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai là gì, nguyên nhân ra sao và đề xuất những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về đất đai cũng như xử lý
VPHC trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn quận.
6. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm:
- Phần mở đầu,
3
- 3 Chương:
+ Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
+ Chương 2: Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
+ Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Kết luận, kiến nghị và Danh mục tài liệu tham khảo.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. 1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
phạm khác. Để xác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay không,
cũng như đánh giá được đúng tính chất vi phạm và mức độ xâm hại của hành vi thì
việc xem xét các đặc điểm cấu thành vi phạm hành chính là vô cùng quan trọng.
Những đặc điểm và yếu tố cấu thành này được mô tả trong các văn bản pháp luật có
quy định về vi phạm hành chính, hình thức và biện pháp xử lý đối với loại vi phạm
này. Cũng tương tự như bất kỳ loại vi phạm pháp luật nào, các dấu hiệu cấu thành vi
phạm hành chính thể hiện ở bốn yếu tố: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và
khách thể.
- Mặt khách quan của vi phạm hành chính.
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài của
thế giới khách quan của vi phạm hành chính bao gồm: hành vi, tính trái pháp luật của
hành vi, hậu quả thiệt hại của hành vi gây ra cho xã hội, quan hệ nhân quả, thời gian,
địa điểm, công cụ, phương tiện vi phạm.
- Khách thể của vi phạm hành chính
Khách thể vi phạm hành chính là các quan hệ xã hội được các quy định về xử lý
vi phạm hành chính bảo vệ. Tuy nhiên, dưới góc độ của vi phạm hành chính, trật tự
quản lý nhà nước cũng chính là các quan hệ xã hội được luật hành chính bảo vệ. Có
quan điểm cho rằng, khách thể của vi phạm hành chính là trật tự quản lý nhà nước.
Nhưng quan điểm như vậy chưa chính xác, ngoài trật tự quản lý nhà nước thì khách
thể của vi phạm hành chính còn có thể là các quan hệ xã hội khác. Các quan hệ xã hội
bị vi phạm hành chính xâm hại rất đa dạng, đó là: trật tự nhà nước và xã hội, sở hữu
nhà nước, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự quản lý. Cho nên
khách thể của vi phạm hành chính phải được hiểu là các quan hệ xã hội được quy
phạm pháp luật hành chính bảo vệ.
- Chủ thể của vi phạm hành chính
Chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Cá nhân, tổ
chức chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành chính khi có năng lực trách nhiệm
pháp lý hành chính.
- Cá nhân:
Ở trường hợp người vi phạm là người nhân danh tổ chức thực hiện vi phạm thì đương
nhiên chủ thể vi phạm hành chính ở đây là tổ chức. Pháp luật hành chính coi tổ chức là
chủ thể vi phạm hành chính gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ
chức nước ngoài. Tuy nhiên, khi xử phạt hành chính đối với tổ chức, nếu là cơ quan
7
nhà nước, tổ chức chính trị xã hội sẽ dẫn đến tình trạng tình trạng tiền nhà nước chạy
từ túi này sang túi khác. Do đó cần phải truy cứu người có lỗi trực tiếp vi phạm hành
chính để tổ chức bị xử phạt, hoặc cần phải suy xét người có lỗi để truy cứu trách
nhiệm kỷ luật. Điều này đã được quy định cụ thể tại điểm b, khoản 1, Điều 6 Pháp
lệnh Xử lý Vi phạm hành chính 2002: “Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi hành vi
vi phạm hành chính do mình gây ra. Sau khi chấp hành quyết định xử phạt, tổ chức bị
xử phạt xác định cá nhân có lỗi gây ra vi phạm hành chính để xác định trách nhiệm
pháp lý của người đó theo quy định của pháp luật”.
Đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh
thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam thì bị xử phạt hành chính
theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam
ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.
- Mặt chủ quan của vi phạm hành chính:
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là những quan hệ tâm lý bên trong của cá
nhân vi phạm hành chính, bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích thực hiện hành vi vi phạm.
Dấu hiệu tập trung cơ bản nhất của mặt chủ quan là yếu tố lỗi: “Lỗi được hiểu
một cách thông thường là điều sai sót, không nên, không phải trong cách cư xử, trong
hành động”. Trên phương diện pháp lý, lỗi được xác định là trạng thái tâm lý bên trong
của chủ thể thực hiện hành vi vi phạm của mình và hậu quả của hành vi đó. Tuy nhiên,
dưới góc độ của Luật Hành chính, nội dung lỗi có những nét đặc thù so với lỗi của các
ngành luật khác. Trong nhiều trường hợp chỉ cần có lỗi, nghĩa là người vi phạm có thể
biết hoặc có thể biết tính chất sai trái của mình là đủ để xác định vi phạm hành chính
Vì thế, xử phạt vi phạm hành chính là biện pháp quan trọng nhất nhưng không
phải biện pháp duy nhất để xử lý vi phạm hành chính.Từ những phân tích trên đây có
thể quan niệm: Xử lý vi phạm hành chính là hoạt động cưỡng chế mang tính quyền
lực nhà nước nhằm áp dụng các chế tài hành chính, do các chủ thể được Nhà nước
giao quyền thực hiện đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính theo
trình tự thủ tục do pháp luật quy định.
-. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính
Xử phạt hành chính là hoạt động cưỡng chế Nhà nước chỉ áp dụng đối với đối
tượng có hành vi vi phạm hành chính trên thực tế mà không thể áp dụng đối với hành
vi chưa được dự liệu là hành vi vi phạm hành chính. Điều này cho thấy xử phạt hành
chính chỉ được tiến hành khi có hành vi vi phạm hành chính. Đặc điểm có tính nguyên
tắc này đã được khẳng định tại khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
2002: “Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm
hành chính do pháp luật quy định” [18]. Do vậy, đòi hỏi cơ quan Nhà nước, người có
9
thẩm quyền khi xử phạt hành chính phải xác định rõ: hành vi vi phạm xảy ra trên thực
tế có phải là hành vi vi phạm hành chính, hành vi đó do cá nhân hay tổ chức thực hiện,
tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi… để có thể quyết định hình thức xử phạt
cho phù hợp, bảo đảm nguyên tắc xử lý đúng người, đúng hành vi vi phạm.
Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai phải được tiến
hành theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. “Thủ tục là những việc phải làm
theo một trật tự quy định”. Do đó, thủ tục xử lý vi phạm hành chính có thể được hiểu
là các giai đoạn, các bước cũng như thứ tự thực hiện các hành động cần phải tiến hành
trong các giai đoạn, các bước đó. Các nội dung này do nhà nước quy định và các chủ
thể có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính cụ thể. Không một chủ thể có thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính nào được phép tự đặt ra cho mình một trình tự, thủ tục mới,
khác với trình tự, thủ tục Nhà nước như sau: “Xử phạt hành chính là hoạt động cưỡng
người có thẩm quyền đó là chủ thể có thẩm quyền xử phạt hành chính.
Nhìn chung, thẩm quyền xử phạt hành chính là quyền hạn và nghĩa vụ xử phạt
hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành xử phạt hành chính
theo thủ tục xử phạt và trong phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật.
Thẩm quyền xử phạt hành chính được xây dựng trên cơ sở phân cấp quản lý và
hành vi vi phạm hành chính cụ thể. Đặc điểm này nhằm đảm bảo cho việc sử lý vi
phạm hành chính nhanh chóng và đấu tranh có hiệu quả đối với mọi hành vi vi phạm
pháp luật, cụ thể là:
+ Thẩm quyền sử phạt hành chính được trao cho hệ thống các cơ quan rộng lớn.
Điều này thể hiện tính chất đa dạng, phức tạp và biến động của hệ thống các cơ quan
có thẩm quyền xử phạt hành chính.
+ Thẩm quyền xử phạt hành chính kết hợp hài hòa giữa thẩm quyền xử phạt với
loại hành vi vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt với mức phạt cụ thể.
+ Các cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính hoàn toàn độc lập không phụ
thuộc vào nhau .
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Khi đề cập vi phạm pháp luật hành chính nói chung và vi phạm pháp luật hành
chính trong lĩnh vực đất đai nói riêng thì trong nội hàm của nó phải đáp ứng được các
yêu cầu về yếu tố cấu thành vi phạm như: chủ thể chịu trách nhiệm hành chính, các
quan hệ pháp luật hành chính về đất đai bị xâm hại, mức độ phải chịu trách nhiệm
pháp lý và thiệt hại thực tế xảy ra… Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị định
số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm
11
pháp luật trong lĩnh vực đất đai: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là hành vi
cố ý hoặc vô ý của người sử dụng đất, tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức hoạt động
dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà chưa đến mức bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật” [7]. Quy định trên đã liệt kê
chất trái pháp luật trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả của vi phạm và mong
muốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức được hậu quả và để mặc cho hậu quả xảy ra; có
thể là lỗi vô ý trong trường hợp người vi phạm thấy trước hoặc đáng ra phải thấy trước
được hậu quả của hành vi nhưng chủ quan cho rằng mình có thể ngăn chặn được hậu
quả hoặc không thấy trước hậu quả sẽ xảy ra dù phải thấy trước và có thể thấy trước
được hậu quả của vi phạm.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá
nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà không phải là tội
phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính, Vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai cũng bao gồm các yếu tố cấu thành giống như các dấu hiệu pháp
lý của các vi phạm hành chính nói chung đó là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể
và khách thể.
- Mặt khách quan
Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đia bao gồm các dấu
hiệu: hành vi trái pháp luật đất đai, hậu quả thiệt hại mà hành vi gây ra và mối quan hệ
nhân quả, địa điểm, phương tiện vi phạm.
+ Hành vi trái pháp luật đất đai:
Khi nói đến vi phạm pháp luật đất đai thì buộc phải có hành vi trái pháp luật đất
đai của tổ chức hay cá nhân. Nếu không có hành vi trái pháp luật đất đai thì không có
vi phạm pháp luật đất đai xảy ra. Vì vậy hành vi trái pháp luật đất đai là một yếu tố bắt
buộc phải có trong cấu thành của vi phạm pháp luật đất đai, mà vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai là một dạng của vi phạm pháp luật đất đai.
+ Hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) do hành vi trái pháp luật gây ra được thể
hiện ở chỗ nó xâm hại quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai hoặc xăm hại đến quyền
lợi của người sử dụng đất.
Sự xâm hại quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai thường thể hiện trong việc
định đoạt một cách bất hợp pháp số phận pháp lý của đất đai như không tuân theo
những thủ tục cấp đất do pháp luật quy định, giao đất không đúng thẩm quyền, không
đúng đối tượng, mua, bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái phép dưới nhiều
hành chính phải bị áp dụng chế tài hành chính. Như vậy, không phải đối với tổ chức vi
phạm hành chính chúng ta không và không thể xác định yếu tố lỗi truy cứu trách
nhiệm pháp lý hành chính mà việc xem xét lỗi sẽ thông qua việc truy cứu trách nhiệm
14
kỷ luật. Lỗi trong thực hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được thể hiện
dưới hai hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là thái độ tâm lý của
một người khi thực hiện hành vi trái pháp luật, tuy nhận thức được nghĩa vụ pháp lý
bắt buộc nhưng lại có ý thức xem thường, mặc dù họ hoàn toàn có khả năng xử sự theo
đúng nghĩa vụ đó.
Lỗi vô ý trong vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là lỗi của một người
khi thực hiện hành vi trái pháp luật do vô tình thiếu thận trọng mà đã không nhận thức
được những nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, mặc dù họ có khả năng và điều kiện xử sự theo
đúng nghĩa vụ đó.
-Mục đích, động cơ trong vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai cũng như
trong vi phạm hành chính nói chung không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan.
Mục đích của vi phạm hành chính là cái “đích” trong ý thức của người vi phạm
được đặt ra cho hành vi vi phạm đạt tới. Mục đích của vi phạm hành chính trong lĩnh
vực đất đai chỉ có ở trong một số hành vi vi phạm nhất định và được thực hiện với lỗi
cố ý ví dụ “hành vi đưa chất thải, chất độc hại, vật liệu xây dựng hoặc các vật khác lên
thửa đất của người khác hoặc thửa đất của mình gây cản trở cho việc sử dụng đất của
người khác” .
Động cơ vi phạm hành chính được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người
thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Trừ những hành vi vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai với lỗi cố ý thì có động cơ, mục đích rõ rệt còn các vi phạm hành
chính về đất đai khác thì động cơ, mục đích không rõ nét. Trong các trường hợp này vi
phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai chủ yếu do thiếu thận trọng, vô tình hay coi
- Sử dụng đất không đúng mục đích;
- Lấn, chiếm đất;
- Huỷ hoại đất;
- Gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác;
- Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền
sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà không thực
hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai;
16
- Tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế
chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với đất không đủ điều kiện;
- Nhận chuyển quyền sử dụng đất nhưng không đủ điều kiện nhận chuyển
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;
- Không đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu, không đăng ký biến động quyền sử
dụng đất, đăng ký không đúng loại đất, không đăng ký khi chuyển mục đích sử dụng
đất, không đăng ký gia hạn sử dụng đất khi hết hạn sử dụng đất mà đang sử dụng đất;
- Gây cản trở trong việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi
thường, giải phóng mặt bằng;
- Không trả lại đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền;
- Tự tiện di chuyển, làm sai lệch, hư hỏng mốc chỉ giới quy hoạch sử dụng đất,
mốc chỉ giới hành lang an toàn của công trình, mốc địa giới hành chính;
- Làm sai lệch các giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất;
- Chậm đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai;
- Chậm hoặc không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc
thanh tra, kiểm tra;
- Cản trở việc thanh tra, kiểm tra về đất đai.
Thứ hai, nhóm các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động dịch vụ về đất
hành vi cố ý hoặc vô ý của người sử dụng đất, tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức
hoạt động dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà chưa
đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Xử phạt hành chính là hoạt động cưỡng chế Nhà nước chỉ áp dụng đối với đối
tượng có hành vi vi phạm hành chính trên thực tế mà không thể áp dụng đối với hành
vi chưa được dự liệu là hành vi vi phạm hành chính. Điều này, cho thấy xử phạt hành
chính chỉ được tiến hành khi có hành vi vi phạm hành chính. Đặc điểm có tính nguyên
tắc này đã được khẳng định tại khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
2002: "Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính
do pháp luật quy định" [18]. Do vậy, đòi hỏi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền
khi xử phạt hành chính phải xác định rõ: hành vi vi phạm xảy ra trên thực tế có phải là
hành vi vi phạm hành chính không, hành vi đó do cá nhân hay tổ chức thực hiện, tính
18