ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
----------
BÀI THẢO LUẬN
CHỦ ĐỀ: “TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU KIỆN TỰ
NHIÊN TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NÔNG
NGHIỆP VIỆT NAM”
Giảng viên :NGUYỄN THANH MINH
Hồ Chí Minh, tháng 4, năm 2018
MỞ ĐẦU
Phát triển nông nghiệp được coi là vấn đề then chốt, ảnh hưởng đến sự
thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội và công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của nhiều quốc gia. Đặc biệt với Việt Nam, một nước có nền
sản xuất nông nghiệp làm nền tảng. Sau 30 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam
đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định trong một thời gian dài, cơ cấu nông
nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực. Nông nghiệp tiếp tục phát triển theo
hướng đẩy mạnh sản xuất hàng hóa với năng suất và chất lượng cao, đáp ứng nhu
cầu trong nước và nước ngoài. Xuất khẩu tăng mạnh, nhiều mặt hàng nông sản ở
Việt Nam có vị thế ngày càng cao trên thị trường thế giới. Đạt được những thành
tựu đó là nhờ tác động của nhiều yếu tố như nghiên cứu của các kĩ sư nông
nghiệp về các loại cây trồng, tài nguyên thiên nhiên (Rừng đước ven biển, tài
nguyên nước ngầm, nguồn lợi hải sản ven bờ, đa dạng sinh học…). Bên cạnh đó
cũng không thể không nhắc tới sự ảnh hưởng to lớn về điều kiện tự nhiên như:
Diện tích- Đất đai, khí hậu, sông ngòi, biển,…
Vậy điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển nông
nghiệp ở Việt Nam chúng ta cùng tìm hiểu qua bài tiểu luận của nhóm 4: “TÁC
Pháp. Nhân dân lao động chiếm 97% số hộ nhưng chỉ sử dụng 36% ruộng đất.
Trong nông thôn có tới 59,2% số hộ không có ruộng đất phải sống bằng cày thuê,
cuốc mướn.
- Nghịch cảnh sâu sắc diễn ra dưới thời thực dân Pháp chiếm đóng: Hàng năm
Việt Nam xuất khẩu trên 1 triệu tấn gạo trắng, nhưng nông dân Việt Nam, người
làm ra lúa gạo, lại luôn luôn phải chịu cảnh đói nghèo. Năm 1945 ở miền Bắc có
trên 2 triệu người chết đói.
Nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc
- Kinh tế kháng chiến (1946 - 1954): Từ một nền kinh tế canh nông đã bị tê
liệt trước năm 1945, nông nghiệp kháng chiến không những không bị suy thoái
tiếp, mà đã được duy trì và phát triển, với sản lượng lương thực, thực phẩm và
hàng hóa ngày càng dồi dào hơn, đáp ứng kịp thời các nhu cầu của cuộc kháng
chiến và đời sống nhân dân. Với nền kinh tế chủ yếu là kinh tế nông thôn. Do đó,
Đảng và Chính phủ đã chú trọng trước hết đến sản xuất nông nghiệp, không
ngừng động viên nông dân ra sức tăng gia sản xuất, đồng thời tiến hành từng
bước chính sách ruộng đất để giải phóng lực lượng sản xuất ở nông thôn, cải
thiện đời sống cho nông dân, góp phần nâng cao sức chiến đấu của quân đội.
* Chỉ tính riêng từ năm 1945 đến tháng 4 năm 1953 ở vùng tự do và đến tháng 7
năm 1954 ở vùng mới giải phóng, nông dân miền Bắc đã được chia 475,9 nghìn
ha ruộng đất và ở Nam Bộ, chính quyền cách mạng đã chia cho nông dân 410
nghìn ha. Do lực lượng sản xuất được giải phóng, sản xuất nông nghiệp vùng giải
phóng đạt mức tăng trưởng khá. Sản lượng lương thực quy thóc đạt 2,95 triệu
tấn, tăng 13,7% so với năm 1946, trong đó 2,3 triệu tấn thóc tăng 15,9%.
- Thời kỳ 1955 – 1975: Là thời kỳ đặc biệt của quá trình xây dựng và phát
triển ngành Nông nghiệp nước ta, khi đất nước bị chia cắt làm hai miền, tiến
hành hai chiến lược cách mạng khác nhau, chịu nhiều thách thức to lớn trong và
ngoài nước, dưới chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh. Trong khi nông
nghiệp miền Nam phát triển không ổn định, không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu
Trong khi các ngành kinh tế khác còn đang chịu ảnh hưởng lớn của suy thoái
kinh tế, ngành nông nghiệp đã vượt qua nhiều khó khăn, đạt kết quả khá toàn
diện, tăng trưởng ngành đạt tốc độ khá cao. Năm 2014, ngành nông nghiệp đạt
tốc độ tăng trưởng 3,3% so với 2,6% (2012 - 2013), đánh dấu sự hồi phục và tăng
trưởng cao.
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 3,13%, vượt mục tiêu
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra (2,6 - 3%). Giá trị sản phẩm thu được
trên 1 ha đất trồng trọt đã tăng từ 54,6 triệu đồng/ha năm 2010 lên 79,3 triệu
đồng/ha năm 2014 và khoảng 82 - 83 triệu đồng/ha năm 2015; cứ mỗi ha mặt
nước nuôi trồng thủy sản tăng từ 103,8 triệu đồng/ha (2013) lên 177,4 triệu
đồng/ha (2014) và khoảng 183 triệu đồng/ha (2015). Thu nhập của người dân
nông thôn năm 2015 tăng khoảng 2 lần so với năm 2010 (đạt mục tiêu của Nghị
quyết Đại hội Đảng XI đề ra). Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy
sản đạt tới 30,8 tỷ USD, mức kỷ lục cao nhất từ trước đến nay. Mặc dù, năng suất
lao động thấp, năng lực cạnh tranh không cao, nhưng nông nghiệp là ngành duy
nhất có xuất siêu, giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu
hàng đầu thế giới về nhiều loại nông sản đa dạng như: Gạo, cà phê, hạt tiêu, cao
su, các mặt hàng gỗ và thủy sản.
Năm 2016, ngành nông nghiệp Việt Nam đạt tăng trưởng 1,36%, giá trị kim
ngạch xuất khẩu đạt 32,1 tỷ USD. Cơ cấu sản xuất tiếp tục được điều chỉnh phù
hợp với định hướng tái cơ cấu và thích ứng với biến đổi khí hậu; sản xuất được
duy trì trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt; xuất khẩu tăng cao, tăng trưởng
ngành được phục hồi. GDP toàn ngành đã tăng 1,2% so với năm 2015; giá trị sản
xuất (theo giá so sánh 2010) tăng 1,44%, trong đó: Trồng trọt giảm 0,9%, chăn
nuôi tăng 5,4%; lâm nghiệp tăng 6,17%; thuỷ sản tăng 2,91%. Kim ngạch xuất
khẩu nông lâm thủy sản ước đạt khoảng 32,1 tỷ USD, tăng 5,4% so với năm
2015; tiếp tục duy trì được 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở
lên
▪ Đất ở đồng bằng : Phần lớn là đất phù sa 3,40 triệu ha (9,5% diện tích cả
nước), đây là loại đất tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao, có độ pH trung tính, rất
thích hợp cho trồng lúa. Ngoài ra, ở các vùng đồng bằng còn có các loại đất khác
như đất chua mặn, đất mặn, ven biển, đất cát, đất glây hoá trong các vùng trũng,
đất lầy thụt than bùn, loại đất này ít có giá trị đối với sản xuất nông nghiệp và
việc cải tạo cần nhiều vốn đầu tư.
▪ Thực trạng của việc sử dụng đất hiện nay: Quá trình khai thác lãnh thổ
cho đến 2008 chúng ta mới đưa vào sử dụng 80,0% diện tích đất tự nhiên (trong
đó 28,45% là đất nông nghiệp). Vốn đất thuận lợi cho trồng lúa hầu như đã khai
thác hết, để tận dụng tiếm năng của tự nhiên ở Đồng bằng sông Hồng nhân dân
đã tìm mọi biện pháp để tăng vụ, nâng cao hệ số sử dụng đất bằng cách thâm
canh và đầu tư lao động sống để nâng cao năng suất. Phần lớn đất nông nghiệp
được trồng cây hàng năm, có thể luân canh - tăng vụ với lúa (như lúa - đay, lúa thuốc lá); phần còn lại chủ yếu trồng cây lâu năm, nhiều nhất là Tây Nguyên,
Đông Nam Bộ trên vùng đất bazan. Vốn đất và khả năng mở rộng lại có sự khác
nhau giữa các vùng lãnh thổ. Năm 2008, cả nước có trên 33,0 triệu ha đất tự
nhiên; sử dụng vào sản xuất nông nghiệp 9,42 triệu ha (28,45%), đất lâm nghiệp
14,8 triệu ha (44,74 %), đất chuyên dùng và thổ cư 407,0 nghìn ha (6,56%), đất
chưa sử dụng 6,7 triệu ha (20,24%). Như vậy đất chưa sử dụng còn lớn, nhưng
việc mở rộng diện tích lại rất khó khăn, chủ yếu là đất dốc, thiếu nước, xói mòn
và thoái hoá; Đất đồng bằng chưa sử dụng còn rất ít, chủ yếu là đất phèn, đất
mặn, đất ngập úng đòi hỏi phải đầu tư lớn. Hiện nay, đất nông nghiệp (đặc biệt là
đất trồng lúa) sử dụng vào mục đích khác như công nghiệp, đô thị... ngày càng
nhiều. Theo dự báo trong vòng 10 năm tới, đất nông nghiệp có thể mất đi mỗi
năm ~ 2,8 vạn ha (trong đó đất trồng lúa ~ 1,0 vạn ha). Điều đó chắc chắn sẽ ảnh
hưởng đến nông nghiệp.
Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên cả nước đến năm 2010
Chỉ tiêu
9.415.568
10.117.893
438.068
11.575.027 14.677.409 15.249.025 3.102.382
702.325
1.140.393
571.616
3.673.998
367.846
700.061
690.218
332.215
-9.843
322.372
18.904
rau, màu hoặc trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê), trồng cây cảnh, cây ăn
quả, nuôi trồng thủy sản và các loại đất phi nông nghiệp (công trình công cộng,
phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn, hoặc đất sản xuất, kinh doanh).
- Giai đoạn 2000-2005, diện tích đất lâm nghiệp tăng nhanh, từ 11.575.027 ha
lên 14.677.409 ha, bình quân hằng năm tăng trên 620.000 ha và mức tăng trưởng
này giảm nhẹ trong giai đoạn kế tiếp. Đất lâm nghiệp của cả nước năm 2010 tăng
571.616 ha so với năm 2005, tính chung cho cả giai đoạn diện tích đất lâm
nghiệp tăng 3.673.998 ha. Nguyên nhân tăng chủ yếu do các địa phương đã đẩy
mạnh việc giao đất để trồng hoặc khoanh nuôi phục hồi rừng, cùng với đó là do
quá trình đo đạc, vẽ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp được xác định lại chính xác
hơn.
So với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các tỉnh, thành phố, thì tổng
diện tích đất lâm nghiệp cả nước đạt 96,3%, thấp hơn quy hoạch được duyệt là
595.059 ha, trong đó có 35 tỉnh không hoàn thành chỉ tiêu quy hoạch.
- Trong 5 năm đầu (2000-2005), diện tích đất nuôi trồng thủy sản có sự tăng
trưởng mạnh tăng từ 367.846 ha lên 700.061 ha, bình quân hàng năm tăng
khoảng 66.500 ha. Giai đoạn 5 năm tiếp theo (2006-2010) giảm 9.843
ha (Hình.1). Năm 2010, diện tích đất nuôi trồng thủy sản chiếm 2,64% trong tổng
cơ cấu đất nông nghiệp.
So với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các tỉnh, thành phố, tổng diện
tích đất nuôi trồng thủy sản của cả nước (không tính diện tích nuôi trồng thủy sản
kết hợp) thực tế thấp hơn 124.392 ha (đạt 84,72% so với quy hoạch được duyệt).
- Diện tích đất làm muối có sự suy giảm trong giai đoạn đầu 2000-2005 và
tăng trưởng trở lại trong giai đoạn sau 2006-2010. Diện tích đất làm muối giảm
4.829 ha giai đoạn 2000-2005 và 5 năm sau đó tăng 3.487 ha. Tính cả giai đoạn
2001-2010, diện tích đất làm muối giảm 1.342 ha. Mặc dù trong những năm qua,
sản xuất muối có những tiến bộ nhất định về năng suất và chất lượng, tuy nhiên,
ngành này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước. Hàng năm, đất nước còn
vườn 0,5 ha - 1 ha và đang ở độ tuổi sung sức, có năng suất khá cao, tập trung
thành các vùng lớn ở các tỉnh Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và một số tỉnh
miền núi phía Bắc.
Cà phê là cây công nghiệp gắn với xuất khẩu rất chặt chẽ. Quy mô sản
xuất luôn phụ thuộc vào thị trường cà phê thế giới vì trên 95% sản lượng cà phê
để phục vụ xuất khẩu. Xuất khẩu cà phê chỉ trong vòng 20 năm qua đã tăng
nhanh cả về lượng và giá trị. Nếu năm 2000, Việt Nam xuất khẩu 680.000 tấn cà
phê, đạt kim ngạch trên 500 triệu USD thì đến năm 2016, XK cà phê đã lên tới
mốc kỷ lục 1,78 triệu tấn với kim ngạch 3,34 tỷ USD, tăng 32,8% về lượng và
tăng 24,7% về giá trị so với năm 2015. Nếu năm 1991, sản lượng cà phê Việt
Nam mới chỉ đạt 1% thị phần thế giới, thì đến niên vụ 2015-2016, Việt Nam đã
chiếm gần 20% sản lượng của thế giới. Tính đến tháng 4/2017, tổng sản lượng
xuất khẩu tất cả các mặt hàng cà phê ước đạt 14,28 triệu bao, giảm mạnh so với
mức 15,25 triệu bao cùng kỳ niên vụ 2015/16; trong đó tổng sản lượng xuất khẩu
hạt cà phê tươi đạt khoảng 13,45 triệu tấn, thấp hơn mức 14,42 triệu tấn trong
cùng kỳ niên vụ 2015/16.
Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam
Tuy vậy, giá trị xuất khẩu cà phê tăng trưởng không vững vàng và lên
xuống rất thất thường. Những năm gần đây, ngành cà phê chịu nhiều tác động từ
biến đổi khí hậu; đặc biệt, năm 2016, ngành cà phê chịu cảnh hạn hán gay gắt
nhất trong vòng 30 năm qua. Năm 2017, giá cà phê có cao hơn những năm vừa
qua.
Giá xuất khẩu trung bình cà phê của Việt Nam những năm qua
Nguồn: Trung tâm thông tin xúc tiến du lịch Đắk Lắk, Hiệp hội cà phê
Việt Nam, Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột (BCEC) và các nhà xuất
khẩu trong nước
ở Việt Nam. Ước khối lượng nhập khẩu cao su trong năm 2017 lên đến 559 ngàn
tấn, trị giá 1,09 tỷ USD, tăng 28,5% về lượng và 59,1% về giá trị so với năm
ngoái.
Do vậy, ngành cao su vẫn tồn tại một nghịch lý là xuất khẩu nhiều với giá
trị thấp, nhưng lại tăng nhập khẩu cao su phục vụ chế biến sâu
Cây chè đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm. Điều kiện khí hậu nước ta rất
thích hợp phát triển cây chè, tập trung ở hai vùng trọng điểm miền núi trung du
phía Bắc và Tây Nguyên.
Năm 1995, Tổng Công ty Chè Việt Nam (VINATEA) được thành lập, thực
hiện hàng loạt giải pháp mới, gắn sản xuất với chế biến, xuất khẩu. Nhờ đó sản
xuất chè đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Năm 2001, diện tích chè đạt
95,6 nghìn héc-ta, sản lượng đạt 371,5 nghìn tấn, xuất khẩu 58 nghìn tấn, kim
ngạch 66,4 triệu USD. Đến năm 2007, diện tích chè lên tới 125,7 nghìn héc-ta,
tăng 31,5%, sản lượng chè đạt 709 nghìn tấn, tăng 91%, chè xuất khẩu đạt 115
nghìn tấn, tăng 98% và kim ngạch đạt 131 triệu USD tăng 98% so năm 2001.
Đến 9 tháng năm 2017, lượng chè xuất khẩu đạt 103 ngàn tấn, trị giá 164 triệu
USD, tăng 12% về lượng và tăng 11,2% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Cây điều là cây trồng dễ tính, chịu được đất xấu và nắng hạn, thích hợp
với vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Đó là cây trồng xóa đói, giảm nghèo ở
những vùng đất xấu nên diện tích gieo trồng có xu hướng tăng dần từ 195 nghìn
héc-ta năm 1996 lên 348 nghìn héc-ta năm 2005 và 437 nghìn héc-ta năm 2007.
Tuy nhiên, do đầu tư thâm canh kém nên năng suất điều rất thấp và sản lượng
chưa ổn định. Sản lượng hạt điều khô năm 1996 đạt 59 nghìn tấn đến 2000 chỉ có
57 nghìn tấn. Những năm gần đây, tuy sản lượng có tăng lên chủ yếu do tăng
diện tích trồng. Sản lượng điều năm 2001 là 73 nghìn tấn, 2006 là 240 nghìn tấn
và năm 2007 là 302 nghìn tấn. Theo đánh giá sơ bộ của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, khối lượng xuất khẩu hạt điều năm 2017 ước đạt 353.000 tấn và
3,52 tỷ USD, tăng 1,9% về khối lượng và tăng 23,8% về giá trị so với cùng kỳ
năm 2016.
Tuy nhiên, ngành điều có 1 nghịch lý là chúng ta phải nhập khẩu nguyên
năm 2015 (giá tiêu đen 11,33 USD/kg, tiêu trắng 16,5 USD/kg vào năm 2015).
Tính đến tháng 12/2016, giá xuất khẩu tiêu vẫn ở mức 7,98 USD/kg đối với tiêu
đen và 16,5 USD/kg đối với tiêu trắng nhưng đến hết tháng 8/2017 giá xuất khẩu
tiêu tương ứng chỉ còn 5,12 USD/tấn đối với tiêu đen và là 7,49 USD/tấn đối với
tiêu trắng. Như vậy giá xuất khẩu tiêu đen bình quân 8 tháng năm 2017 chỉ bằng
57% so với cùng kỳ 2015. Với tiêu trắng, giá bình quân 8 tháng năm 2017 chỉ
bằng giá tiêu đen 2016 và bằng khoảng 61% so với cùng kỳ năm 2015. Kết thúc
năm 2017, cả nước xuất khẩu được khoảng 230.000 tấn hồ tiêu, tăng 30% so với
năm 2016 nhưng giá trị lại giảm 22%, ước đạt chỉ 1,11 tỷ USD.
Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) cho biết, diện tích trồng hồ tiêu cả nước
hiện đạt gần 127.000 ha. Tình hình thời tiết mưa rải rác liên tục suốt từ tháng
5/2017 tới nay đã khiến các vườn tiêu cả vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
luôn duy trì độ ẩm cao, khiến tiêu ra hoa kém hoặc có ra thì lại rụng hàng loạt,
đặc biệt ở những vườn tiêu già trên 8 tuổi. Tuy chưa thể xác định được năng suất
và có thể năng suất sẽ giảm so với năm trước nhưng nhìn chung vụ 2018 tới sản
lượng hồ tiêu của Việt Nam sẽ không giảm bởi diện tích trồng mới bùng phát
những năm 2012-2013, ước khoảng 15.000 ha, năm nay bắt đầu cho thu hoạch.
Với năng suất trung bình chỉ khoảng 30-40 tạ/ha thì sản lượng năm tới hoàn toàn
có thể bù vào phần dự kiến mất đi do thời tiết bất thuận năm 2017.
2. Khí hậu
- Nằm trong vòng đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, khí hậu nước ta cơ bản là
nhiệt đới. Nhưng do hình thể trải dài theo nhiều vĩ tuyến ở rìa Đông Nam lục địa
châu Á, cho nên chế độ nhiệt có sự phân hóa khác nhau giữa các vùng. Từ đèo
Hải Vân trở ra chịu ảnh hưởng của khối không khí lạnh cực đới (NPc) tràn
xuống, hàng năm có một mùa đông lạnh và một mùa hè nóng. Từ đèo Hải Vân
trở vào nóng quanh năm với một mùa khô và một mùa mưa. Tính chất nhiệt đới
làm cho tổng lượng bức xạ mặt trời lớn. Chế độ mưa phong phú (1.500 2.000mm/năm).
- Khí hậu nước ta lại có sự phân hoá đa dạng theo chiều Bắc - Nam, theo mùa
và theo độ cao. Ở miền Bắc có khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa với một mùa Đông
lạnh. Ở vùng núi cao có sương giá và rét đậm. Ở miền Nam khí hậu nhiệt đới
Ở phía bắc đèo Hải Vân: Tính chất chí tuyến được tăng cường thêm bởi các
khối khí lạnh-khô vào mùa Đông (mỗi năm ~20 đợt). Biên độ nhiệt TB chênh
lệch tới 110C, còn giữa cực trị nhiệt (tối thiểu và tối cao) lên tới 40 0C. Sự nhiễu
loạn về thời tiết đã tạo cho nửa phần phía Bắc nước ta một hệ sinh thái cực đoan
giữa 2 mùa nóng-lạnh. Ở đây thích hợp hơn cả là các cây ngắn ngày và cây ngày
ngắn; đối với cây dài ngày và cây lâu năm, nên chọn cây có biên độ sinh thái
rộng của vùng cận nhiệt (chè, hồi...) thì mới cho năng suất cao.
Ở phía nam đèo Hải Vân: Nền sinh thái ổn định hơn về thời tiết, về nhịp điệu
mùa cũng như nền nhiệt-ẩm, điều này cho phép nền nông nghiệp có tính chất ổn
định hơn. Sự phân hoá cây trồng ở đây chỉ đơn thuần là phân theo loại đất từ cây
hàng năm đến cây lâu năm. Tuy nhiên, còn có sự khác biệt về thời tiết ở sườn
Tây (giữa Tây Bắc – phía Bắc, giữa Tây Nguyên – phía Nam) trên diện tích 26%
lãnh thổ lại có ý nghĩa đáng kể trong việc điều khiển thời vụ đối với cây ngắn
ngày và lựa chọn cây dài ngày.Ví dụ ở Đông Nam Bộ có một mùa khô sâu sắc
tương phản với một mùa mưa cường độ cao là điều cần quan tâm đối với cây
trồng lấy mủ.
▪ Trở ngại của khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa:
Tính chất biến động và sự phân hoá về khí hậu đã dẫn đến các tai biến thiên
nhiên như bão, lũ, khô hạn ... trong những năm gần đây lại có chiều hướng gia
tăng. Độ ẩm không khí lớn cũng là điều kiện để sâu bệnh lây lan, phát triển.
Lợi thế trong xuất khẩu trái cây
Trong tình hình biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và trong
điều kiện cạnh tranh gay gắt trên thị trường xuất khẩu lúa gạo, việc xuất khẩu trái
cây lại được nói đến thường xuyên hơn như một giải pháp tìm đầu ra cho xuất
khẩu nông sản.
Thời gian gần đây, những thông tin thị trường đã củng cố thêm suy nghĩ
lạc quan của nhiều người về chỗ đứng của trái cây Việt Nam, thậm chí có người
cho rằng thời điểm trái cây “lên ngôi” đã đến gần.
TS. Lương Ngọc Trung Lập (Sofri) cho biết, năm 2010, Việt Nam có sản lượng
trái cây đạt gần 6,1 triệu tấn, chiếm khoảng 1% tổng sản lượng trái cây trên toàn
Đến năm 2017, lần đầu tiên xuất khẩu rau “vượt mặt” xuất khẩu gạo và mang
về 3,5 tỷ USD cho Việt Nam. Với mức tăng tới 43% so với năm 2016, xuất khẩu
rau quả không những qua mặt mà còn vượt rất xa so với những mặt hàng nông
sản khác như gạo. Trái cây là mặt hàng xuất khẩu chính chiếm tỉ trọng cao trong
cơ cấu rau quả xuất khẩu của Việt Nam. Tiếp theo là các sản phẩm rau hoa quả
chế biến; rau củ tươi; hoa tươi, các loại lá. Trong 10 thị trường xuất khẩu rau quả
lớn của Việt Nam, Trung Quốc đứng vị trí đầu tiên khi chiếm tới 75% trong tổng
kim ngạch xuất khẩu, tiếp đến là Nhật Bản chiếm 3,7%, Mỹ 3%, Hàn Quốc 2,6%
3.Nguồn nước
+ Nước trên mặt: Nằm trong vùng nhiệt đới, vì vậy nước ta có nguồn nước khá
dồi dào. Nhưng các hệ thống sông lớn đều bắt nguồn từ nước ngoài: S.Hồng từ
Trung Quốc; S.Mã, S.Cả từ Lào; S.Cửu Long từ Mianma, nếu như ở thượng
nguồn việc sử dụng không hợp lý sẽ nằm ngoài tầm kiểm soát của nước ta.
Lượng mưa TB năm khá lớn càng làm cho nguồn nước trên các sông của Việt
Nam thêm phong phú. Đối với sản xuất nông nghiệp, nước rất cần thiết, ông cha
ta đã khẳng định “Nhất nước, nhì phân”. Với mức tiêu thụ nước trong nông
nghiệp khoảng 60 tỉ m3 thì về nguyên tắc chỉ cần khai thác 10-15% trữ lượng
nước là đủ cho nhu cầu sản xuất và đời sống. Mạng lưới sông ngòi phân bố rộng
khắp và khá dày đặc, các hệ thống sông lớn lại bao phủ toàn bộ các vùng nông
nghiệp trù phú. Ngoài việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sông ngòi
còn cung cấp lượng phù sa lớn. Trong phạm vi cả nước, dòng chảy cát bùn là 300
- 400 triệu tấn/năm (hệ thống S.Hồng 130 triệu tấn; S.Cửu Long 100 triệu tấn).
Về mùa lũ, lượng phù sa trên S.Hồng (tại Sơn Tây) đã lên tới 3.500 gr/cm 3, mùa
cạn 500 gr/cm3. Lượng cát bùn lớn đã khiến cho các đồng bằng châu thổ lấn ra
biển hàng năm từ vài chục tới hàng trăm mét.
+ Nước ngầm: cũng rất phong phú, mặc dù chưa thăm dò đánh giá đầy đủ. Trữ
lượng đã thăm dò khoảng 3,3 tỉ m3. Nước ngầm tập trung ở các phức hệ rời bở (ở
Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long); Trong phức hệ trầm tích
năm là 830-840 tỷ m3, đó là nguồn nước tưới rất cần thiết với phát triển nông
nghiệp, đặc biệt nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp lúa nước: 1 ha lúa
nước cần từ 15000-60000 m3. Ngoài ra nước ta còn có hệ thống nguồn nước
ngầm gần 200 triệu m3, có khả năng đáp ứng nước cho cây trồng vào mùa khô.
Sông ngòi nước ta có hàm lượng phù sa lớn chính đó là nguồn phân bón tự nhiên
rất tốt bồi đắp cho đồng bằng càng thêm màu mỡ: nếu có 1 lớp phù sa dày
khoảng 5 cm phủ trên mặt ruộng thì có thể làm tăng năng suất lúa liên tục 400 kg
thóc/vụ/ha. Đồng thời phù sa sông ngòi còn có giá trị bồi đắp cho đồng bằng làm
cho đồng bằng ngày càng mở rộng thêm về phía biển. Nhờ vậy mà nhân dân ta
có thể tiến hành lấn biển mở rộng thêm diện tích trồng trọt.
Việt Nam tuy đứng thứ 3 thế giới sau Ấn Độ và Thái Lan về số lượng xuất
khẩu gạo với 5,52 triệu tấn trong năm 2017 nhưng luôn bị đánh giá là lép vế so
với Thái Lan về giá cả. Nguyên nhân của việc này là gạo Việt Nam chưa đáp ứng
được chất lượng và chủ yếu chỉ xuất khẩu gạo thô.Thế nhưng đầu năm 2018 thì
tình hình xuất khẩu gạo Việt Nam đã có những khởi sắc. Trong tháng 2 năm
2018, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đang ở mức cao hơn so với gạo của Thái
Lan, đạt mức giá lên tới 475 USD/tấn, cao hơn so với năm 2016 là 435 USD/tấn
và năm 2017 là 450 USD/tấn. Khối lượng gạo xuất khẩu trong tháng 2 đạt 397
nghìn tấn, với giá trị đạt 197 triệu USD. Gạo xuất khẩu giá cao khiến giá trị xuất
khẩu đã đạt 419 triệu USD, tăng hơn 30% so với cùng thời điểm năm 2017. Để
có được bước đột phá này là do trong 3-4 năm qua, chúng ta đã xây dựng được
cơ cấu giống lúa chất lượng cao như gạo thơm, gạo nếp giá cao chiếm tới 80%.
Đồng thời, trong hai năm trở lại đây thị trường gạo xuất khẩu đã có sự tham gia
nhiều hơn của khối doanh nghiệp tư nhân dù tỉ lệ vẫn còn ở mức thấp nhưng các
doanh nghiệp cũng bước đầu quan tâm, đầu tư nhiều hơn trong đẩy mạnh chế
biến gạo.
Sông ngòi còn là địa bàn rất tốt với nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, nước
15 - 19,4 triệu USD. Đồng thời đó, cá tra Việt Nam bị cạnh tranh áp đảo từ các
sản phẩm cá thịt trắng tại khu vực EU. Bên cạnh những khó khăn tại hai thị
trường chủ lực thì chúng ta đã mở rộng thị trường sang Tung Quốc - Hồng Kông
với 410,8 triệu USD, tăng 34,8% so với năm 2016, chiếm 23% tổng giá trị xuất
khẩu. Tại ASEAN Thái Lan là thị trường lớn nhất của các doanh nghiệp xuất
khẩu cá tra Việt Nam với giá trị đạt 51 triệu USD, tăng 8,8%. Ngoài ra, hai thị
trường khác là Singapore và Philippines cũng có giá trị xuất khẩu tăng lần lượt
2,8% và 11,9% . Các doanh nghiệp cũng tăng mạnh xuất khẩu cá tra sang 3 thị
trường tiềm năng lớn là Brazil, Mexico và Ảrập Xêut. Giá trị xuất khẩu sang 3 thị
trường này tăng trưởng khá tốt và được dự báo còn giữ tốc độ này trong năm nay.
Theo thống kê, kết thúc năm 2017, giá trị XK cá tra sang Brazil, Mexico và Ảrập
Xêut đạt lần lượt 104,7 triệu USD, 104,2 triệu USD và 53,4 triệu USD, tăng lần
lượt 54%; 23,6% và 4,2%
Tôm: Năm 2017 là năm tăng trưởng mạnh của xuất khẩu tôm Việt Nam.
Nếu như năm 2016, xuất khẩu tôm Việt Nam chỉ tăng trưởng 6,7% thì năm 2017,
đã có bước bứt phá đáng ghi nhận với mức tăng trưởng 22,3%. Giá trị xuất khẩu
sang các thị trường chính đều tăng trưởng tốt. Sản lượng tôm các loại cả nước
năm 2017 đạt 723,8 nghìn tấn trong đó tôm nước lợ đạt 683,4 nghìn tấn; gồm
tôm sú 256,4 nghìn tấn, tôm chân trắng 427 nghìn tấn. Diện tích nuôi tôm nước
lợ đạt 721,1 nghìn ha, trong đó, tôm sú 622,4 nghìn ha, tôm chân trắng 98,7
nghìn ha. Trong cơ cấu các sản phẩm tôm xuất khẩu, tôm chân trắng chiếm vị trí
chủ đạo với tỷ trọng 65,6%; tôm sú chiếm 22,8%, còn lại là tôm biển với 11,6%.
Có được sự tăng trưởng này là do nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường tiêu thụ
chính (EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc...) tăng cao. Có thể nói, năm 2017,
tôm Việt Nam thắng lợi tại thị trường EU do tôm nước lạnh giá cao và nguồn
cung giảm, trong khi nhu cầu cho các lễ hội cuối năm tăng cao và tôm Ấn Độ
(đối thủ chính của Việt Nam tại EU) bị dính kháng sinh nên tôm Việt Nam được
lựa chọn thay thế. Đồng thời đó các doanh nghiệp trong nước đã đầu tư lớn để
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
http://vasep.com.vn
http://dwrm.gov.vn
http://thoibaotaichinhvietnam.vn
http://vneconomy.vn
http://cafef.vn
http://congan.com.vn
https://baomoi.com