HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TRONG ỨNG PHÓ VỚI TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM - Pdf 48

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CHƯƠNG TRÌNH
MỤC TIÊU QUỐC GIA ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, MÃ SỐ KHCN-BĐKH/11-15

BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP QUỐC GIA

Đề tài:
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH
NHẰM HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC
NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TRONG ỨNG PHÓ VỚI TÁC ĐỘNG
CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM
(MÃ SỐ: BĐKH-59)

Cơ quan chủ trì đề tài: Học viện Chính trị khu vực I
Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS Hoàng Văn Hoan

HÀ NỘI, NĂM 2015


BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CHƯƠNG TRÌNH
MỤC TIÊU QUỐC GIA ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, MÃ SỐ KHCN-BĐKH/11-15

BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ

AFD

Cơ quan phát triển Pháp

AfDB

Ngân hàng Phát triển Châu Phi

AGBM

Nhóm hỗ trợ trên cơ sở ủy thác Berlin

AIJ

Các hoạt động Đồng thực hiện

APFT

Kết quả ưu tiên hóa

APP

Thỏa thuận của liên hiệp Châu Á - Thái Bình Dương về khí hậu và phát triển sạch

APRT

Qui trình ưu tiên hóa

ASEAN


BEP

Kinh nghiệm môi trường tốt nhất

BKHCN

Bộ Khoa học Công nghệ

BKHĐT

Bộ Kế hoạch đầu tư

BNNPTNN

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

BTC

Bộ tài chính

BTNMT

Bộ tài nguyên và môi trường

BVMT

Bảo vệ môi trường

CBD



CGE

Mô hình cân bằng tổng thể

CI

Tổ chức Bảo tồn quốc tế

CIDA

Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Canada

CIF

Quỹ Đầu tư Khí hậu

CLQG

Chiến lược quốc gia

CMP

Hội nghị các bên tham gia Nghị định thư Kyoto

CNH

Công nghiệp hóa
Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi


Quỹ công nghệ sạch

CTMTQG

Chương trình mục tiêu quốc gia

DBSA

Ngân hàng Phát triển Nam Phi

ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long

ĐDSH

Đa dạng sinh học

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

DPEA

Diễn đàn Durban về hành động tăng cường

ĐPV

điều phối viên


Chiến lược Tài khóa

FSP

Dự án quy mô lớn


FY

Năm tài chính

G77

Nhóm các quốc gia đang phát triển

G8

Nhóm các cường quốc công nghiệp

GCF

Quỹ Khí hậu Xanh

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

GEF

Quỹ Môi trường toàn cầu


Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ

IBRD

Ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển

IFAD

Quỹ quốc tế về Phát triển Nông nghiệp

INC

Ủy ban đàm phán quốc tế

IPCC

Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

IUCN

Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên

JCM

Cơ chế tín chỉ chung

JI

Cơ chế đồng thực hiện


Các nước kém phát triển

LDCF

Quỹ Các nước kém phát triển

LDCF

Quỹ dành cho các nước kém phát triển

LEAP

Mô hình Lập kế hoạch năng lượng thay thế dài hạn

LHQ

Liên hiệp quốc


LULUCF

Lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp

M&E

Giám sát và đánh giá

MARD


MSP

Các dự án qui mô trung bình

MTFF

Khuôn khổ Tài chính Trung hạn

NAMAs

Hành động giảm thiểu phù hợp ở cấp quốc gia

NAMAs

Các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia

NAP

Kế hoạch thích ứng quốc gia

NCCC

Ủy ban quốc gia về biến đổi khí hậu

NCCS

Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu

NCKH


NQ

Nghị quyết

NSNN

Ngân sách nhà nước

NTP-EE

Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

NTP-NRD

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới

NTP-RCC

Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu

ODA

Viện trợ phát triển chính thức

OECD

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

PA



PPG

Quỹ chuẩn bị văn kiện dự án

PT

Phát triển

PTBV

Phát triển bền vững



Quyết định

QELRCs

các mục tiêu hạn chế và giảm phát thải khí nhà kính định lượng

QELROs

Các cam kết giảm phát thải khí nhà kính định lượng

QH

Quốc hội

QHQT


SGP

Chương trình Tài trợ nhỏ

SIDS

Các quốc đảo nhỏ đang phát triển

SP-RCC

Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu quốc gia

ST

Phát triển khoa học kỹ thuật

STAP

Ban Tư vấn khoa học và Kỹ thuật của Quỹ môi trường toàn cầu

TABMIS

Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc

TAR

Báo cáo đánh giá lần thứ ba

TCCRD

Thông tư liên tịch

TTX

Tăng trưởng xanh

TW

Trung ương

UBND

Ủy ban nhân dân

UBQG

Ủy ban quốc gia

UBTVQH

Ủy ban thường vụ quốc hội

UNCCD

Công ước của Liên hiệp quốc về Chống Sa mạc hóa

UNDP

Chương trình phát triển Liên hiệp quốc


Ngân hàng thế giới

WMO

Tổ chức Khí tượng Thế giới


MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu đang nổi lên như một trong những thách thức lớn nhất đối

với nhân loại trong thế kỷ 21. Nhiệt độ trung bình toàn cầu, thước đo phổ biến nhất
hiện nay về thực trạng khí hậu toàn cầu, đã cho thấy xu hướng ấm lên của khí hậu
toàn cầu. Trong 100 năm qua (1906-2005) khí hậu toàn cầu đã tăng 0.70C (UNDP
2008, tr. 34). Nhiệt độ toàn cầu tăng lên sẽ dẫn đến hiện tượng băng tan tại các cực
khiến cho mức nước biển dâng lên. Theo Stern (2006) biến đổi khí hậu sẽ ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế
giới: đến 2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm 2-4%, giá tăng 13-45%, tỷ lệ dân số
chịu ảnh hưởng của nạn đói chiếm 36-50%. Cũng theo Stern (2006), đến 2050, các
hình thái thời tiết cực đoan, kết quả của biến đổi khí hậu, sẽ làm giảm GDP toàn cầu
1% và nếu chúng ta không có hành động gì để giảm thiểu, thì biến đổi khí hậu có
thể khiến GDP toàn cầu tổn thất ít nhất 5% mỗi năm. Nếu kịch bản xấu nhất xảy ra,
thì tổn thất có thể lên đến hơn 20% GDP.
Biến đổi khí hậu với các tác động tiêu cực trên phạm vi lớn như vậy đã buộc
các quốc gia trên thế giới phải có những điều chỉnh mang tính chất hệ thống trong
các chính sách phát triển của mình cũng như phối hợp với các quốc gia khác. Tại
Rio de Janeiro, Braxin tháng 5 năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất đã được tổ
chức với sự tham dự của các nguyên thủ và người đứng đầu của 155 nước trên thế

Chính phủ (2013, tr. 5) cũng đã tổng kết chỉ trong 15 năm trở lại đây các loại thiên
tai như: bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên
tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, đã làm chết và mất tích hơn
10.711 người, thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm
Nhận thức rõ những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đến sự phát
triển bề vững của đất nước, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã sớm có các chính sách
ứng phó với biến đổi khí hậu. Đối với hợp tác quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã sớm
tham gia và phê chuẩn Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu và
Nghị định thư Kyoto. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng chỉ đạo từng bước hoàn thiện
các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho công tác phòng chống và giảm nhẹ
thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Đặc biệt là tháng 12 năm 2011, Thủ tướng
đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu giai đoạn 2012-2015 và sau
đó là Kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu..
Trong số các chính sách đó, chính phủ đã có quan tâm đến vấn đề cơ chế tài
chính đối với hoạt động ứng phó biến đổi khí hậu và bước đầu hình thành cơ chế
huy động nguồn lực hợp tác quốc tế và từ xã hội để ứng phó với biến đổi khí hậu.
Nhà nước đã có những ưu tiên bố trí kinh phí từ ngân sách cho các chương trình
ứng phó với biến đổi khí hậu và nghiên cứu khoa học và công nghệ về biến đổi khí


hậu. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng ưu tiên huy động vốn vay ưu đãi và khai thác
nguồn hỗ trợ không hoàn lại từ các tổ chức quốc tế và Chính phủ các nước cho ứng
phó với biến đổi khí hậu. Nguồn vốn vay và tài trợ quốc tế cho ứng phó với biến đổi
khí hậu từ năm 2010 đến nay đạt trên 500 triệu USD (Ban cán sự Đảng Chính phủ
2013, tr. 13). Nhà nước cũng bố trí một tỷ lệ ngân sách nhất định và dự trữ một số
vật tư thiết yếu để cứu trợ khẩn cấp, nhanh chóng khắc phục hậu quả thiên tai. Các
địa phương đã huy động tốt nguồn lực tại chỗ, tranh thủ đóng góp, tham gia của
nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, từ thiện trong công tác cứu trợ và
khắc phục hậu quả thiên tai (Ban cán sự Đảng Chính phủ 2013, tr. 13).
Tuy nhiên, cùng chung với xu hướng của quốc tế, các chính sách về cơ chế

vắng bóng các nghiên cứu định lượng đánh giá tác động của các chính sách. Hầu
như các số liệu về hiệu quả kinh tế, phân tích chi phí lợi ích của các hoạt động ứng
phó biến đổi khí hậu ở Việt Nam thường được viện dẫn lại từ các công bố của nước
ngoài như đánh giá thiệt hại, tổn thất kinh tế so với GDP, dự báo kinh tế về các tác
động của biến đổi khí hậu, hiệu quả đầu tư ứng phó với biến đổi khí hậu, đầu tư cho
giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, v.v.
Chính vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của
các cơ chế, chính sách tài chính nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu hiện nay. Trên
cơ sở đó cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam nhằm phục vụ cho
việc hoạch định các chủ trương, chính sách ứng phó của Chính phủ và các cơ quan
chức năng cũng như hình thành cơ chế huy động, sử dụng và quản lý nguồn lực tài
chính nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam.

2.

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1.

Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất nào về "tài chính

cho ứng phó với biến đổi khí hậu", xong tổng hợp từ lý thuyết và thực tiễn có thể
rút ra khái niệm tài chính cho ứng phó với BĐKH là tài chính dành cho quá trình
chuyển dịch sang nền kinh tế toàn cầu có mức các bon thấp, dành cho các hoạt động
nhằm giảm nhẹ tác động tiêu cực của BĐKH và thích ứng với BĐKH diễn ra trong
hoạt động hàng ngày của cả khối nhà nước và tư nhân (Brent Cloete và Yash
Ramgowlan, 2011). Do đó, nguồn tài chính với quy mô lớn này đòi hỏi sự tham gia
đóng góp của cả khối nhà nước và tư nhân, ít nhất là trong ngắn hạn. Trong đó, nhà
nước đóng vai trò chủ đạo về tài chính cho ứng phó với BĐKH.

Những công trình này có ý nghĩa rất quan trọng, bao gồm cả cung cấp một số tư liệu
thứ cấp và lý thuyết tiếp cận phục vụ cho triển khai nghiên cứu đề tài này. Tuy
nhiên, các nghiên cứu này gặp các giới hạn sau đây: (i) Chỉ dừng lại ở các nghiên
cứu rời rạc, hoặc đề cập một khía cạnh cụ thể nào đó, nên hầu như chưa có công
trình nào nghiên cứu có hệ thống về lý thuyết và đánh giá thực trạng hoàn thiện cơ
chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài
chính ứng phó với biến đổi khí hậu; (ii) nhận thức của các nhà khoa học cũng như
các nhà hoạch định chính sách về hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy
động, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu chưa
được thống nhất(iii) Trong các hình thức hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính


nhằm huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi
khí hậu đã chỉ ra một số hình thức, nhưng còn nhiều hình thức khác chưa được
nghiên cứu; (iv) các nghiên cứu về hệ thống thể chế, luật pháp, chính sách của nhà
nước về hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng
các nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn còn khoảng trống; (v) các
tác động của hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử
dụng các nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu đến sự phát triển kinh tế
- xã hội vẫn chưa được đánh giá sâu sắc, thỏa đáng, chưa được mổ xẻ từ thực tại
bên trong của vấn đề, chủ yếu dừng lại ở góc độ tìm hiểu bài học kinh nghiệm của
các nước, rồi chỉ ra cơ hội, khả năng và ích lợi của hoàn thiện cơ chế, chính sách tài
chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính ứng phó với biến
đổi khí hậu; (v); các nghiên cứu về hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm
huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu
mới chỉ đặt trong điều kiện kinh tế thị trường, chưa có nghiên cứu nào đặt trong bối
cảnh hội nhập quốc tế, do đó đây cũng là một khoảng trống…

3.



4.1.

Đối tượng nghiên cứu
Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng

hiệu quả nguồn lực tài chính ứng phó với biến đối khí hậu.

4.2.

Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung:
+ Tiếp cận về cơ chế, chính sách có 02 hướng: i) tiếp cận về hoàn thiện

phương pháp và quy trình xây dựng/thực thi cơ chế, chính sách; và 2i) tiếp cận về
hoàn thiện nội dung của cơ chế, chính sách. Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tiếp
cận theo hướng hoàn thiện nội dung cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động,
quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở
Việt Nam.
+ Trong 03 nội dung cơ bản của cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động,
quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu, để tránh trùng
lặp nội dung “quản lý” và “sử dụng”, đề tài sử dụng nội hàm “quản lý và sử dụng
nguồn lực tài chính” với các nội dung cụ thể là: i) lập, thẩm định, phê duyệt nguồn
lực tài chính; 2i) phân bổ nguồn lực tài chính; 3i) sử dụng nguồn lực tài chính; 4i)
báo cáo, kiểm tra và kiểm toán nguồn lực tài chính.
+ Đánh giá chính sách là xem xét, nhận định về giá trị các kết quả đạt được
khi ban hành và thực thi một chính sách. Có nhiều tiêu chí để đánh giá một chính
sách tài chính có đáp ứng được mục đích cuối cùng hay không. Trong phạm vi
nghiên cứu, đề tài xem xét việc đánh giá xem xét mục tiêu có thể thực hiện được
hay không, thông qua đó xác định (đo lường) tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính phù

xã hôi với 3 nhóm đối tượng nêu trên, thì nguồn số liệu sơ cấp của đề tài còn được
thu thập thông qua việc thực hiện các cuộc tọa đàm với các chuyên gia là cán bộ của
các Bộ, Ban ngành, tổ chức và chương trình dự án có liên quan quan đến ứng phó
với BĐKH, bao gồm: (1) Bộ TN&MT, (2) Bộ Tài Chính, (3) Bộ KH&DT, (4) Bộ
NN&PTNT, (5) Bộ KH&CN, (6) Bộ GTVT (7) Các địa phương, (8) Văn phòng các
chương trình NTP-RCC, SP-RCC, (9) Các tổ chức quốc tế, phi chính phủ có liên
quan đến các dự án, hành động ứng phó với BĐKH.
(5)- Phương pháp đánh giá SWOT: Dùng để phân tích Điểm mạnh
(Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), Rủi ro – Nguy cơ
(Threats) giúp đánh giá được thực trạng về huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực
tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu, từ đó tìm kiếm cơ sở đề xuất giải pháp phát


huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, nắm bắt cơ hội; lường trước, giảm nhẹ hoặc
triệt tiêu rủi ro trong huy động nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu ở
Việt Nam.
(6)- Chuyên gia: Đề tài sẽ tổ chức mời các chuyên gia am hiểu về hoàn thiện
cơ chế, chính sách tài chính nhằm huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực tài chính trong ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu để tham gia
nghiên cứu các chuyên đề và góp ý cho báo cáo đề tài theo hình thức tư vấn độc lập.
(7)- Phân tích tổng hợp và tư duy lôgic: Phương pháp này được sử dụng
trong quá trình phân tích, viết báo cáo chuyên đề và báo cáo đề tài nghiên cứu.

6.

Kết cấu của báo cáo
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, Báo

cáo tổng hợp đề tài gồm 3 phần:
Phần thứ nhất:

đồng ứng phó với CC

Giảm
thiểu

Thích
ứng

Mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã
hội

Các quy định, thông lệ quốc tế đối
với tài chính CC

Rà soát, phân tích hệ thống cơ chế, chính
sách tài chính hiện tại liến quan đến các
chương trình, hành động ứng phó với CC

Xây dựng, phê duyệt các
chương trình, dự án

Các nguồn tài chính cho ứng phó với
CC
Giảm
thiểu

Thích
ứng

Kinh nghiệm của các quốc gia có

lồng


PHẦN THỨ NHẤT
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH
TÀI CHÍNH NHẰM HUY ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC
TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1.

TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NHẰM HUY
ĐỘNG, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ỨNG PHÓ
VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.1.1. Khái niệm liên quan đến biến đổi khí hậu
1.1.1.1. Khái niệm biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi đáng kể, lâu dài các thành phần khí hậu,
“khung” thời tiết từ bình thường vốn có lâu đời nay của một vùng cụ thể, sang một
trạng thái thời tiết mới, đạt các tiêu chí sinh thái khí hậu mới một cách khác hẳn, để
rồi sau đó, dần dần đi vào ổn định mới.

1.1.1.2. Biển hiện của biến đổi khí hậu
Một cách khái quát, BĐKH được thể hiện ở ba đặc trưng chủ yếu như sau:
- Nhiệt độ trung bình, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu
tăng lên;
- Mực nước biển dâng lên do sự tan băng ở các Cực và các đỉnh núi cao;
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển;
- Sự di chuyển của các đới khí hậu trên các vùng khác nhau của trái đất;
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình
tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác;
Tuy nhiên, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng

Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, đề tài tiếp cận nguồn lực tài chính theo
xuất xứ, theo kênh huy động và theo hình thức huy động. Trong đó, nhà nước đóng
vai trò chủ đạo về tài chính cho ứng phó với BĐKH.

Hình 1.1: Các nguồn tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu
1.1.2.2. Cơ chế tài chính
Cơ chế tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu là tổng hoà các thiết chế và thể
chế cụ thể về lĩnh vực tài chính, trong đó bao gồm một hệ thống các nguyên tắc,
2


phương thức điều hành nhằm huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính theo
đường lối, chủ trương, kế hoạch của Nhà nước trong từng giai đoạn nhằm ứng phó
với biến đổi khí hậu.

1.1.2.2. Chính sách tài chính
Chính sách tài chính là một bộ phận cấu thành của chính sách kinh tế; chính
sách tài chính là chính sách của nhà nước trong việc huy động, phân bổ và sử dụng
các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện phục vụ có hiệu quả các mục tiêu phát triển
kinh tế- xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.

1.1.2.3. Cơ chế, chính sách tài chính huy động, quản lý và sử dụng nguồn
lực tài chính ứng ứng phó với biến đổi khí hậu
Cơ chế, chính sách tài chính huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực tài
chính, là tổng thể các thể chế và thiết chế được cụ thể hoá thành các quyết định của
Nhà nước, của các cấp, nhằm huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực
tài chính để thực hiện các mục tiêu ứng phó với BĐKH.
Trong đó: i) cơ chế, chính sách tài chính huy động nguồn tài chính được hiểu
là việc nghiên cứu, xây dựng chính sách nhằm phát hiện, khai thác và huy động
được mọi nguồn lực tài chính cả trong nước và quốc tế tập trung cho mục tiêu ứng

của chính sách tài chính nhằm huy động, sử dụng và quản lý nguồn lực tài chính
ứng phó với biến đổi khí hậu.

1.1.4.2. Hệ thống pháp luật
Hệ thống luật pháp có ảnh hưởng quyết định tới sự phát triển và khả năng
huy động nguồn lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu.

1.1.4.3. Hệ thống tài chính quốc gia
Đây là kênh thu hút nguồn lực tài chính quan trọng, đặc biệt là thu hút nguồn
lực tài chính qui mô nhỏ và vừa từ khu vực tư nhân như các hộ gia đình, các doanh
nghiệp,….

1.1.4.4. Hiệu quả đầu tư, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó
với biến đổi khí hậu
Bên cạnh huy động các nguồn tài chính mới, vấn đề khai thác và sử dụng
hiệu quả các nguồn tài chính sẵn có cũng là yếu tố quan trọng góp phần tăng hiệu
quả các nguồn vốn cho biến đổi khí hậu, trong đó bao gồm cả việc sử dụng hiệu quả
các nguồn viện trợ phát triển. Từ đó, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ chế,
chính sách nhằm huy động nguồn lực tài chính ứng phó với tác động của biến đổi
khí hậu, kể cả nguồn lực tài chính bên trong hay bên ngoài quốc gia.
4


1.1.4.5.. Nhận thức của hệ thống chính trị, của doanh nghiệp và người dân
Bên cạnh các yếu tố khách quan, còn có các yếu tố chủ quan đến từ tập quán,
quan điểm, nhận thức.. về hoạt đông đầu tư và sử dụng nguồn lực tài chính ứng phó
với biến đổi khí hậu. Thêm nữa,, còn có yếu tố chủ quan từ phía cơ quan quản lý, có
nhận thức được vai trò và cam kết mạnh mẽ trong việc phát triển và thu hút nguồn
lực tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu hay không. Nếu thiếu đi cam kết từ chính
phủ với nhận thức đúng đắn, thì sẽ rất khó để thu hút hiệu quả nguồn lực tài chính



Chi tiết cụ thể hơn hoặc các quỹ khác có thể truy cập thông qua trang web
/>
1.2.1.2. Các định chế tài chính song phương
Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của ba định chế Tài chính Song phương chính
với khác biệt tùy theo mối quan hệ của nó với các tổ chức khác ở quốc gia cấp tài
trợ. Cho đến nay, định chế /tổ chức tài chính song phương về BĐKH đã được xây
dựng trong khuôn khổ chiến lược của chính phủ ở mỗi quốc gia và các tổ chức tài
chính song phương đã lồng ghép BĐKH vào nguồn tài trợ phát triển của họ một
cách độc lập.
Các tổ chức quan trọng đang hoạt động ở Việt Nam là: Hợp tác phát triển
Đức; Quỹ khí hậu quốc tế; Cơ quan phát triển Pháp (AFD); Sáng kiến Khí hậu
Quốc tế (ICI-UK); Ausaid40 - Cơ quan phát triển Ốxtrâylia; Cơ quan Hợp tác Quốc
tế Nhật Bản (JICA),…

1.2.1.3. Các tổ chức tài chính tư nhân
UNFCCC đã nhấn mạnh rằng một phần lớn nguồn tài chính để hỗ trợ cho
BĐKH ở các nước đang phát triển nhất thiết sẽ phải đến từ khu vực tư nhân. Khu
vực tư nhân có thể đi vào bức tranh tài chính khí hậu hoặc như là nguồn cung hay
như là nơi nhận của các tổ chức tài chính đa phương, hoặc song song như là một
dòng tài chính hoàn toàn riêng biệt và độc lập. Tài chính tư nhân chủ yếu sẽ được
đầu tư thông qua nợ thương mại và các công cụ vốn chủ sở hữu, điều này có nghĩa
rằng họ sẽ đóng vai trò hỗ trợ/ tạo điều kiện chứ không phải “chuyển giao trực tiếp”
tài chính. Đến nay, khu vực tư nhân dường như đang đóng một vai trò đáng kể trong
việc đầu tư cho giảm thiểu hơn là thích ứng.

1.2.1.4. Thị trường các-bon
Phần lớn nguồn đầu tư này được thực hiện dưới hình thức tài chính tài sản,
trong đó có một hợp phần đáng kể là nợ. Cơ chế phát triển sạch đã tạo xúc tác cho

Kỳ cũng sử dụng các công cụ tài chính như nợ ưu đãi và nợ không ưu đãi, các
khoản tài trợ song phương và đa phương, hoán đổi nợ, các khoản bảo đảm, các công
cụ bảo hiểm; sử dụng các chính sách tài chính thông qua nhiều kênh khác nhau như
tài chính song phương, đa phương, tín dụng xuất khẩu và tài chính phát triển.
1.2.2.1.2 Kinh nghiệm Canada
Canada hợp tác với các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp để tập trung nguồn lực
tài chính thực hiện chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu không chỉ ở Canada
mà còn trên toàn cầu.
Gia tăng nguồn lực tài chính thông qua chính sách giá phát thải carbon:
chính sách giá phát thải carbon được xem là biện pháp giúp Canada giải quyết tất cả
những thách thức. Bên cạnh đó, chính phủ Canada cũng huy động vốn gián tiếp từ
7



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status