Những giải pháp nhằm tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực ở vùng biên giới tỉnh Lạng Sơn trong điều kiện giao thương kinh tế. - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển của mỗi địa phương, mỗi quốc gia, nguồn
nhân lực luôn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu, là một
trong những nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển kinh tế -
xã hội.
Trong xu thế mở cửa và hội nhập, với nhiều lợi thế về vị trí địa lý tự
nhiên, từ lâu Lạng Sơn đã trở thành điểm hội tụ, giao lưu kinh tế quan
trọng ở phía Bắc. Là một tỉnh biên giới có cửa khẩu quốc tế, là cầu nối
giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nước trên thế giới cho việc hợp tác
cùng phát triển.
Tuy nhiên, để có thể phát huy hết mọi lợi thế, duy trì tốc độ phát
triển ổn định, Lạng Sơn cần phải xây dựng được nguồn nhân lực có trình
độ chuyên môn kỹ thuật, có tác phong lao động hiện đại. Có thể nói,
nguồn nhân lực là một xuất phát điểm quan trọng cho mọi hoạt động kinh
tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay.
Trung bình mỗi năm, Lạng Sơn có trên 4 nghìn người bước vào độ
tuổi lao động. Đây là nguồn lực rất lớn để phát triển, nhưng cũng là những
thách thức không nhỏ trong việc giải quyết việc làm cho người lao động.
Tình trạng lao động chưa qua đào tạo vẫn còn ở mức khá cao; tại khu vực
biên giới, tình trạng lao động lưu trú không kiểm soát được; người lao
động tiếp tay cho buôn lậu; hiện tượng người lao động tự sang nước bạn
Trung Quốc tìm việc làm... đang là những vấn đề bức xúc đòi hỏi chính
quyền địa phương phải có biện pháp giải quyết.
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đã chọn đề tài:
1
"Những giải pháp nhằm tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu
quả nguồn nhân lực ở vùng biên giới tỉnh Lạng Sơn trong điều kiện giao
thương kinh tế "
2. Mục đích nghiên cứu
- Góp phần nghiên cứu một số vấn đề về lý luận trong lĩnh vực quản

Chương 1. Sự cần thiết quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân
lực trong điều kiện giao thương kinh tế ở vùng biên giới.
Chương 2. Phân tích thực trạng quản lý và sử dụng nguồn nhân lực
ở vùng biên giới tỉnh Lạng Sơn trong điều kiện giao thương kinh tế.
Chương 3. Giải pháp tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực ở vùng biên giới tỉnh Lạng Sơn trong điều kiện giao
thương kinh tế đến năm 2010.
3
CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG ĐIỀU KIỆN GIAO
THƯƠNG KINH TẾ Ở VÙNG BIÊN GIỚI
1.1. Nguồn nhân lực và vai trò của nguồn nhân lực trong phát
triển kinh tế
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, là một trong
những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế xã hội. nguồn
nhân lực khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài chính, nguồn lực vật
chất, nguồn lực công nghệ.v.v..) là ở chỗ trong quá trình vận động nguồn
nhân lực chịu sự tác động của yếu tố tự nhiên (sinh, chết...) và yếu tố xã
hội (việc làm, thất nghiệp...). Vì vậy, nguồn nhân lực là một khái niệm
khá phức tạp và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Nguồn nhân lực có thể được hiểu như là nơi sinh sản, nuôi dưỡng và
cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Xét trên bình diện quốc gia hay địa phương, nguồn nhân lực được
xác định là "tổng thể các tiềm năng lao động ở một nước hay một địa
phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau)
sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao
động có nguồn năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng
được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế

5
- Theo quan niệm của ILO: Lực lượng lao động là một bộ phận dân
số trong độ tuổi quy định (tuỳ thuộc từng quốc gia) thực tế đang có việc
làm và những người thất nghiệp.
Các nước thành viên của tổ chức ILO về cơ bản đều thống nhất với
quan niệm của ILO. Giữa các nước chỉ có sự khác nhau về độ tuổi quy
định. Ở đây có hai sự khác biệt. Khác biệt trong quy định về giới hạn tối
thiểu, ví dụ: Braxin là 10 tuổi, Ôxtralia là 15 tuổi, Mỹ là 16 tuổi. Hiện nay
phần lớn các nước đã lấy tuổi tối thiểu là 15 tuổi. Khác biệt thứ hai trong
quy định giới hạn tuổi tối đa. Tuỳ theo tình hình phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi nước mà quy định tuổi tối đa khác nhau, ví dụ: Đan Mạch, Thuỵ
Sĩ, Na Uy quy định là 74 tuổi. Ai cập, Malaysia quy định là 65 tuổi... các
trị số tối đa về tuổi thường trùng với tuổi về hưu.
Ở Việt Nam cũng có những quan niệm khác nhau về lực lượng lao
động. Theo giáo trình kinh tế lao động của trường Đại học Kinh tế quốc
dân Hà Nội thì lực lượng lao động: là bộ phận của nguồn lao động, bao
gồm những người trong độ tuổi lao động đang làm việc trong nền kinh tế
quốc dân và những người không có việc làm song có nhu cầu tìm việc làm.
Trong cuốn thực trạng lao động việc làm 2005, lực lượng lao động
được hiểu là dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người từ đủ
15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu
làm việc và sẵn sàng làm việc. Theo quan niệm này lực lượng lao động
mở rộng hơn, không giới hạn tuổi tối đa phải nằm trong độ tuổi lao động.
1.1.3. Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất, giữ
vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế - xã hội: Vai trò đó bắt nguồn
từ vai trò của yếu tố con người. Con người mục tiêu và động lực của sự
phát triển kinh tế xã hội.
6
Con người không những là động lực của sự phát triển mà còn là mục

số hoạt động kinh tế:
Bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm
hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc.
- Nguồn nhân lực dự trữ:
Bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao động, nhưng vì lý do
khác nhau, chưa có công ăn việc làm trong xã hội.
1.1.4.2. Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận nguồn nhân lực
Chia ra thành 3 loại:
- Nguồn lao động chính: Đây là bộ phận nguồn nhân lực nằm trong
độ tuổi lao động và là bộ phận quan trọng nhất.
- Nguồn lao động phụ.: Đây là bộ phận dân cư nằm ngoài độ tuổi lao
động có thể và cần phải tham gia và nền sản xuất xã hội đặc biệt ở các
nước kém phát triển. Ở nước ta quy định số người dưới tuổi lao động
thiếu từ 1-3 tuổi và trên tuổi lao động vượt từ 1-5 tuổi thực tế có tham gia
lao động được quy đổi ra lao động chính với hệ số quy đổi là 1/3 và ½
ứng với người dưới tuổi và trên tuổi. Hiện nay có ý kiến cho rằng không
nên tính số trẻ em dưới tuổi lao động và nguồn nhân lực
- Nguồn lao động bổ sung:Là bộ phận nguồn nhân lực được bổ sung từ
các nguồn khác (số người hết hạn nghĩa vụ quân sự, số người trong độ tuổi
lao động thôi học ra trường, số người lao động ở nước ngoài trở về….)
1.2. Quản lý và sử dụng nguồn nhân lực
1.2.1. Quản lý nguồn nhân lực
Quản lý nguồn nhân lực ở cấp vĩ mô hiện nay:
8
Theo Viện Nghiên cứu con người, về mặt lý thuyết, toàn bộ lực
lượng lao động trong xã hội phải là đối tượng quản lý nguồn nhân lực ở
cấp vĩ mô. Tuy nhiên, do đặc điểm của sự phát triển kinh tế từng nước mà
đối tượng quản lý nguồn nhân lực có sự khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay,
chỉ những người lao động trong khu vực chính thức mới là đối tượng tác
động và điều chỉnh của các văn bản pháp lý. Hệ thống quản lý nguồn nhân

phương, vùng hay quốc gia.
Ở cấp vĩ mô, sử dụng nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động bố trí
lao động gắn với định hướng, mục tiêu của địa phương, vùng lãnh thổ hay
quốc gia nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất.
1.2.2.2. Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực
Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực là hiệu quả của quá trình tác động
của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý là nguồn nhân lực.
Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực phải xem xét đến kết
quả đạt được (đầu ra) và các mục đích của tổ chức, của nguồn nhân lực và
cùng với nó là các nguồn lực khác (đầu vào).
Ở Việt Nam hiện nay, việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân
lực còn gặp trở ngại do chưa có những tiêu chí thống nhất để đánh giá.
Để đưa ra những tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân
lực, cần phân biệt sự khác nhau giữa "sử dụng nhân lực" và "hoạt động
lao động của nhân lực". Chủ thể của "sử dụng nhân lực" là cơ quan, tổ
10
chức, người quản lý; còn chủ thể của "hoạt động lao động của nhân lực"
chính là nhân lực- những con người lao động cụ thể. Khách thể của "sử
dụng nhân lực" là đội ngũ những người lao động, còn khách thể của "hoạt
động lao động của nhân lực" là những nhiệm vụ lao động như sản xuất,
kinh doanh,... Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực là đánh giá hiệu
quả của quá trình tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý là
nguồn nhân lực.
1.2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực
Một là, tỷ lệ người có việc làm:
Là phần trăm của số người có việc làm so với dân số hoạt động kinh tế.
Hai là, tỷ lệ người đủ việc làm:
Là phần trăm của số người đủ việc làm so với dân số hoạt động kinh tế.
Ba là, tỷ lệ người thiếu việc làm:
Là phần trăm của số người thiếu việc làm so với dân số hoạt động kinh tế.

đoạn phát triển cao, với sự tiến bộ nhanh chóng, liên tục của các phát
minh khoa học, công nghệ mới, thế giới bước vào nền văn minh trí tuệ,
12
với sự áp dụng rộng rãi kỹ thuật tin học, tự động hoá, với sự phân công lao
động sâu sắc.
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực chính là quản lý, sử dụng, đào tạo,
đào tạo lại để có được một đội ngũ lao động tiên tiến bao gồm cả lao động trí
óc và lao động chân tay.
Như vậy là công tác quản lý, sử dụng người lao động phải được nâng
lên đảm bảo bồi dưỡng, xây dựng, đào tạo được một thế hệ những người lao
động kiểu mới phù hợp về mặt quy mô, chất lượng với những tiêu chuẩn giá
trị cao hơn phù hợp với những yêu cầu chuẩn mực của nền kinh tế trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Sự phát triển của mỗi quốc gia trước hết đều nhờ ở nội lực. Song nội
lực của một dân tộc không chỉ là tiền của hay sức lao động mà quan trọng hơn
phải phát huy được trí tuệ, tài năng sáng tạo của người lao động, nếu không sẽ
là sự lãng phí lớn. Dân tộc nào không phát huy được trí tuệ, tài năng, chất
xám của dân tộc mình, sẽ bị phụ thuộc vào dân tộc khác và dễ dàng bị nhấn
chìm trong trào lưu toàn cầu hoá đi đôi với cạnh tranh khốc liệt.
Trong một thế giới như vậy, muốn phát triển, muốn có một vị trí xứng
đáng trên trường quốc tế chỉ có một chiến lược khả dĩ là quản lý, sử dụng tốt
nhất nguồn lực mình sẵn có.
Từ sự phân tích như trên, ta thấy rằng cần thiết phải tăng cường quản lý
và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực - một trong những yếu tố quyết định
cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
13
1.3.2. Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đối với sự
ổn định phát triển kinh tế xã hội
Quản lý sử dụng tiềm năng lao động xã hội không phải chỉ duy trì giá trị
sẵn có của xã hội mà còn làm gia tăng nhanh chóng tổng giá trị đó, do có giá

dân bình quân đầu người còn thấp, vấn đề tích luỹ của nền kinh tế và người
dân còn hạn chế, nếu không nói là thấp. Do vậy, số người có thu nhập thông
qua các hoạt động kinh doanh như bất động sản, kinh doanh tiền... chỉ là số ít,
đại bộ phận người lao động phải nhờ vào thu nhập từ lao động để đảm bảo
cuộc sống của bản thân và gia đình mình. Nói cách khác, chỉ có thông qua thu
nhập từ việc làm thì người lao động mới có điều kiện để đảm bảo và cải thiện
đời sống của mình, không còn con đường nào khác.
Trong điều kiện là một nước có dân số trẻ, tỷ lệ phụ thuộc của dân số
còn cao, cho nên để góp phần cải thiện đời sống của người dân cần phải tăng
năng suất lao động xã hội, nâng cao hiệu quả nền kinh tế để trên cơ sở đó
nâng cao tiền lương, tiền công, tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao
động và giảm tỷ lệ phát triển dân số xuống mức hợp lý. Trong số các giải
pháp để nâng cao đời sống của nhân dân thì giải pháp quản lý tốt từ đó sử
15
dụng hiệu quả nhất nguồn lao động hiện có là giải pháp tích cực và có ý nghĩa
về nhiều mặt.
Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, tạo ra nhiều việc làm
cho người lao động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, giảm tỷ lệ nghèo khổ, nâng
cao thu nhập và mức sống của các gia đình, làm mức tiêu dùng tăng lên, từ đó
làm tăng mức cầu về hàng hoá và dịch vụ kích thích sự tăng trưởng về kinh tế,
tăng thu cho ngân sách, góp phần làm giảm tội phạm, tệ nạn xã hội.
1.3.4. Giao thương kinh tế với quản lý và sử dụng nguồn nhân
lực ở vùng biên giới tỉnh Lạng Sơn
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, ngay từ trước công
nguyên, giữa hai nước đã có mối quan hệ lịch sử và chính trị, giao lưu
kinh tế và văn hoá với nhau. Do đó "giao thương kinh tế" đã có từ rất lâu
đời, nhưng trải qua những bước thăng trầm, do biến động lịch sử trong
mối quan hệ giữa hai nước, cũng như những biến động trong chính sách
kinh tế đối ngoại của Việt Nam và Trung Quốc, trong từng thời kỳ mức độ
quan hệ ở các cấp độ có sự khác nhau.

lực. Đòi hỏi khi đưa ra các chính sách về quản lý, sử dụng nguồn nhân lực
phải đảm bảo đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội, phát huy tối đa những lợi
thế do khu vực biên giới mang lại như khả năng hợp tác đào tạo, thuê
mướn chuyên gia của nước bạn; sử dụng hợp lý nguồn nhân lực tại chỗ
vào các lĩnh vực kinh tế đa dạng nơi biên giới, xuất khẩu lao động trên cơ
sở nắm bắt đặc thù địa phương bên kia biên giới... song một vấn đề hết
sức quan trọng là phải gắn với việc giữ vững an ninh quốc phòng, giữ
vững toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
17
CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở VÙNG BIÊN GIỚI
TỈNH LẠNG SƠN TRONG ĐIỀU KIỆN GIAO
THƯƠNG KINH TẾ
2.1. Một số đặc điểm kinh tế xã hội vùng biên giới tỉnh Lạng
Sơn ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng nguồn nhân lực
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên địa lý
Biên giới phía bắc Việt Nam liền kề với Trung Quốc kéo dài từ
Đông sang Tây khoảng 1.350km, qua 6 tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao
Bằng, Hà Giang, Lào Cai và Lai Châu. Phía Trung Quốc giáp biên giới
với Việt Nam có 2 tỉnh Quảng Tây và Vân Nam. Nhìn chung vùng biên
giới phía bắc Việt Nam có địa hình phức tạp, hiểm trở. Kết cấu hạ tầng
thấp kém, giao thông đi lại khó khăn, điện nước cho sinh hoạt rất thiếu.
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, nằm ở phía đông bắc của Tổ quốc.
Là một trong những tỉnh có đường biên giới khá dài với Trung Quốc
(253km). Dọc biên giới là các đồi núi với hai cửa khẩu quốc tế, hai cửa
khẩu quốc gia và 7 cặp chợ đường biên là những điểm giao lưu theo
đường bộ rất thuận lợi sang Trung Quốc (và tới các nước Châu Á và Châu
Âu khác).
Với vị trí biên giới có nhiều cửa khẩu quan trọng và thuận tiện cho

19
2.1.2. Đặc điểm kinh tế
Xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra trên tất cả các lục
địa, sự hợp tác kinh tế trên thế giới hiện nay phát triển hơn bao giờ hết. Hợp
tác khu vực để liên kết kinh tế cùng phát triển và khu vực hoá, là nhịp cầu
cần thiết để đi tới toàn cầu hoá. Việt Nam - Trung Quốc nằm trong khu vực
ổn định nhất, và có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới.
Hơn nữa, một trong những ưu điểm trong chính sách kinh tế đối
ngoại của Trung Quốc là xây dựng các vành đai mở, tạo ra các thị trường
chung trên tuyến biên giới đất liền, đẩy mạnh các hoạt động trao đổi mua
bán qua biên giới.
Về phía Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta kiên trì thực hiện đường lối
kinh tế mở và hội nhập kinh tế với thế giới.
Thực tế đó đã mang lại những ưu thế rất rõ ràng đối với khu vực
biên giới của tỉnh Lạng Sơn trong điều kiện phát triển kinh tế.
Kể từ năm 1991, sau khi Chính phủ hai nước ký: "Hiệp định tạm
thời về giải quyết các công việc trên biên giới..." Chính quyền tỉnh Lạng
Sơn đã tổ chức nhiều cuộc hội đàm để cụ thể hoá những vấn đề qua lại
biên giới, trao đổi hàng hoá, hợp tác đầu tư kinh tế - kỹ thuật.
Đến nay, tỉnh Lạng Sơn đã có 2 cửa khẩu quốc tế là Đồng Đăng và
Hữu Nghị (thuộc huyện Cao Lộc); 2 cửa khẩu quốc gia là Chi Ma (thuộc
huyện Lộc Bình), Bình Nghi (thuộc huyện Tràng Định), và 7 cặp chợ
vùng biên là Bản Chắt- Nà Nùng (thuộc huyện Đình Lập); Pò Nhũng- Ái
Dầu, Co Sau- Pắc Sắn, (thuộc huyện Cao Lộc); Nà Hình- Kéo Ái, Cốc
Nam- Lũng Nghịu, Tân Thanh- Pò Chài (thuộc huyện Văn Lãng); Nà
Nưa- Nà Xa (thuộc huyện Tràng Định) (Bảng 2.1.).
20
Bảng 2.1. Danh sách các cửa khẩu và cặp chợ biên giới
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
STT Tên Địa bàn Việt Nam

2.1.3. Đặc điểm văn hoá - xã hội
Những năm vừa qua nhờ chính sách cải cách, mở cửa và hội nhập,
cộng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự cố gắng, nỗ lực của
chính quyền địa phương, đời sống của người dân tỉnh Lạng Sơn nói chung
và nhân dân vùng biên giới nói riêng, được từng bước cải thiện.
Hoạt động buôn bán qua biên giới đã tạo thêm nhiều công ăn việc
làm cho người dân nơi đây. Các ngành sản xuất phát triển và mở rộng cần
tăng thêm nhân công, các ngành nghề mới ra đời, buôn bán mở rộng cần
đội ngũ lao động tăng lên, kéo theo những người làm dịch vụ kinh doanh
ăn uống, đi lại và vận tải hàng hoá.
Thực tế đó làm thay đổi rất lớn đời sống văn hoá - xã hội của người
dân vùng biên giới.
Nếu như trước đây họ chỉ quen với đồi rừng, quen với nền sản xuất
tự cung tự cấp thì nay đất rừng, tài nguyên rừng đã được phát huy như
một lợi thế đóng góp vào nền sản xuất, gắn với thị trường cả nước và khu
vực. Người dân quen dần với những ngành nghề mới với những đòi hỏi
khắt khe của cơ chế thị trường, bước đầu có ý thức học tập để nắm bắt
kiến thức, giành lợi thế trong sản xuất, kinh doanh.
Sự sôi động của các hoạt động kinh doanh vùng biên giới cũng làm
nảy sinh vấn đề nhức nhối, tình trạng buôn bán người qua biên giới, dân
lưu trú, buôn bán, tệ nạn nghiện hút, tiêm chích ma tuý... đã ảnh hưởng rất
nhiều đến đời sống của nhân dân vùng biên giới. Các dân tộc vùng biên
giới vẫn đi chợ phiên, họ vẫn mang những sản vật nuôi được, trồng được,
hay hái được ở trên rừng ra chợ phiên, song đã có nhiều lời cảnh báo về
22
sự mai một của các phiên chợ truyền thống. Nét văn hoá cộng đồng cũng
đã có dấu hiệu mai một, đâu đó rất hiếm tìm được những câu hát sli, hát
lượn, cảnh các đôi trai gái hẹn tìm nhau khi đi chợ...
Như vậy, các chính sách ban hành phải chú ý tới yếu tố văn hoá
trong cộng đồng các dân tộc vùng biên giới. Sự phát triển phải gắn với

tỉnh Lạng Sơn, UBND tỉnh LS (2005)
Hiện nay, dân số sống ở nông thôn chiếm tới 80% và chủ yếu là hoạt
động trong lĩnh vực nông nghiệp. Những tập quán và kinh nghiệm sản
xuất của người nông dân có giá trị và ý nghĩa rất lớn. Họ đã rèn luyện,
hoàn thiện và tích lũy được nhiều hiểu biết, kinh nghiệm từ những năm
tháng lao động.
Tại khu vực thành thị, lao động ngày càng tập trung vào khu vực
dịch vụ của nền kinh tế, chiếm tới 64,33% lực lượng lao động khu vực
này. Nếu như trước kia lao động ở khu vực thành thị chủ yếu làm việc
trong các cơ quan, xí nghiệp nhà nước thì ngày nay có tới 75% lao động ở
đây là tự tạo việc làm, chỉ có 21,3% lao động làm việc trong khu vực nhà
nước và 1,3% trong khu vực tập thể.
Tuy vậy, một khó khăn lớn của lao động khu vực biên giới tỉnh Lạng
Sơn là trình độ dân trí còn thấp, ảnh hưởng tới việc đưa tiến bộ khoa học -
kỹ thuật vào đời sống và sản xuất. Theo số liệu điều tra của Ban điều tra
lao động việc làm tỉnh thì năm 2005 vùng biên giới của tỉnh có:
19,8% lao động tốt nghiệp Trung học phổ thông, thấp hơn tỷ lệ này
của vùng Đông Bắc 1,62% và thấp hơn tỷ lệ này của cả nước là 2,26%;
24
31,1% lao động tốt nghiệp Trung học cơ sở, thấp hơn tỷ lệ của vùng
Đông Bắc 6,32% và thấp hơn tỷ lệ này của cả nước là 2,2%;
Trong khi có tới 15,8% lao động mù chữ, chưa tốt nghiệp tiểu học
cao hơn tỷ lệ của vùng Đông Bắc 0,42% và cao hơn tỷ lệ này của cả nước
là 0,22% (Bảng 2.3.).
Bảng 2.3. nguồn nhân lực vùng biên giới tỉnh Lạng Sơn chia theo
trình độ văn hóa năm 2005
Trình độ văn hoá
Số lượng
(người)
Tỷ lệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status