CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4
ĐỀ XUẤT HỢP TÁC VỚI VIỆN/ TRƯỜNG ĐH
Hà Nội 2017
Nội dung
1
Giới thiệu CMCN 4.0, Cơ hội và Thách thức
2
Smart City tại VN và Vai trò các DN CNTT
3
Nguồn nhân lực và giới thiệu TT Phát triển nguồn lực CMC
4
Mô hình sáng tạo CMC hướng đến
5
Đề xuất triển khai hợp tác với các Viện/ Trường ĐH
Phần 1: CMCN 4.0
Cơ hội và Thách thức
Nhóm Ngành Tiện ích (điện nước), Bán lẻ, Sản xuất được
đánh giá IoT ảnh hưởng đáng kể trong ngắn và dài hạn.
Nhóm Ngân hàng, Bảo hiểm, Giáo dục và Chính phủ được
đánh giá IoT ít ảnh hưởng trong ngắn hạn và về dài hạn có
ảnh hưởng nhưng không quá lớn do các nhóm ngành này
còn tồn tại các Sản phẩm dịch vụ mang những giá trị vô
hình.
Nhóm Dịch vụ, Giao thông ảnh hưởng khá nhưng không
lớn như nhóm Tiện ích, SX, Bán lẻ vì đây là các nhóm đã
sớm tham gia vào IoT ngay từ đầu.
Big Data/AI
Thực trạng qua khảo sát nhanh các tổ chức DN
Nội dung khảo sát
Tác động của cuộc CMCN
4.0 tới DN
Chiến lược triển khai
Nguyên nhân DN không
quan tâm tới CMCN 4.0
Chi tiết
Tỷ trọng DN đánh giá
19%
Đang triển khai
12%
DN cảm thấy không liên quan và ảnh hưởng
67%
Lĩnh vực hiện tại không bị tác động
56%
Chưa hiểu rõ bản chất CMCN 4.0
76%
Chưa có nhu cầu quan tâm
54%
Thực trạng các tổ chức DN VN
• Không hiểu bản chất Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4
• Không thấy được sự liên quan của các xu thế công nghệ đến
ngành/lĩnh vực của mình.
• Không sẵn sàng về năng lực để tiếp cận công nghệ.
• Hệ thống hạ tầng và quy trình không sẵn sàng.
• Không xoay chuyển được mô hình tổ chức kinh doanh đáp ứng
Phần 2: Smart City tại Việt Nam
Vai trò các công ty CNTT
Định nghĩa Smart City
IBM là đơn vị đầu tiên đưa ra khái niệm Smart City vào năm
2008. Theo đó, Smart City được thiết kế để sử dụng những
thông tin và các kết nối viễn thông nhằm mục đích đo lường,
phân tích và tích hợp nhiều thông tin khác nhau vào sự vận hành
của thành phố, từ đó đáp ứng các nhu cầu về môi trường, bảo
mật, dịch vụ công, thương mại và đời sống của cư dân.
Bối cảnh toàn cầu
Theo Navigant Research: Q1/2017 có 250 TP đang/có kế hoạch phát triển smart city. 03 lĩnh
vực chính: 40% triển khai chính phủ điện tử; 27% hệ thống quản lý năng lượng thông minh;
và hệ thống phân phối, điều khiến nguồn nước thông minh, giao thông thông minh.
Bối cảnh toàn cầu
Theo Frost & Sullivan: tổng thị trường smart city toàn cầu ước đạt 1,5 nghìn tỷ USD vào
năm 2020, các lĩnh vực chính: chính phủ điện tử, năng lượng thông minh và sức khỏe.
Smart City chiếm 38% tỷ trọng của Kinh tế SỐ toàn cầu.
Bối cảnh Việt Nam
Theo Bộ TT&TT, Việt Nam có khoảng gần 800 đô thị, tỷ lệ đô thị hóa tăng
nhanh từ 23% năm 1999 lên mức 35,7% vào năm 2015.
Hiện trạng Smart City tại Việt Nam
Nhiều cơ quan/ đơn vị khi triển khai thành phố thông minh mới
chỉ chú trọng tập trung phát triển chính phủ điện tử.
Trong khi đó thành phố thông minh phải phát triển tập trung vào nhu
cầu của người dân, giải quyết các vấn đề của thành phố như ô nhiễm,
tắc đường …
Chưa có công cụ để người dân đánh giá tính hiệu quả của xây dựng
thành phố thông minh.
Cơ hội cho Smart city tại VN
Quản lý đô thị hiệu quả: các hệ thống cảm biến, thiết bị theo dõi cho phép
đo lường và phân tích các dữ liệu theo thời gian thực, giúp các nhà hoạch
định, quản lý nắm bắt và dự đoán thực trạng các dịch vụ công, các cơ sở hạ
tầng, các tài nguyên điện nước của thành phố.
Phát triển kinh tế: các doanh nghiệp tận dụng hạ tầng CNTT của smart city
để phát triển các sản phẩm dịch vụ, xuất khẩu ra toàn cầu.
Nâng cao vị thế thành phố : trở thành điểm đến hấp dẫn hơn cho các doanh
nghiệp trong và ngoài nước. Thúc đẩy đầu tư và nguồn vốn phát triển trong
tương lai.
Thách thức khi triển khai Smart city tại VN
Chi phí triển khai lớn: yêu cầu phải có kế hoạch triển khai tổng thể cho các
lĩnh vực. Nếu chỉ triển khai để giải quyết từng vấn đề như điện / nước/ giao
Phần 3: Nguồn nhân lực và giới thiệu
Trung tâm phát triển nguồn lực CMC
Tương tác giữa công nghệ và việc làm
Ngành dễ bị thay thế