Luận văn thạc sỹ Vai trò của sống nước đối với cuộc sống cong người Nam bộ - Pdf 49

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
____________
VĂN NỮ QUỲNH TRÂM

VAI TRÒ CỦA SÔNG NƯỚC ĐỐI VỚI CUỘC SỐNG
CON NGƯỜI NAM BỘ THỂ HIỆN
QUA PHIM TÀI LIỆU

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn: TS. Lê Khắc Cường

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
2


MỤC LỤC
DẪN LUẬN

4

1. Lý do chọn đề tài

4

2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu

4

1.2. Cư dân Nam bộ

24

1.3 Văn hoá Nam bộ

28

1.4. Phim tài liệu truyền hình

34

CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA SÔNG NƯỚC ĐẾN ĐỜI SỐNG VẬT
CHẤT VÀ TINH THẦN CỦA NGƯỜI NAM BỘ

43

2.1. Tác động của sông nước đến đời sống vật chất

43

2.1.1 Sông nước tác động đến định cư và phân bố dân cư

43

2.1.2 Phương thức sản xuất dựa vào sông nước

53

2.1.3 Giao thông với môi trường sông nước


CHƯƠNG III: TÁC ĐỘNG CỦA SÔNG NƯỚC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG
VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CỦA NGƯỜI NAM BỘ QUA PHIM TÀI
LIỆU

118

3.1. Phim tài liệu phản ánh tác động của sông nước đến đời sống vật chất của
người Nam bộ

118

3.2. Phim tài liệu phản ánh tác động của sông nước đến đời sống tinh thần
của người Nam bộ

144

KẾT LUẬN

153

TÀI LIỆU THAM KHẢO

159

PHỤ LỤC

3



hàng ngàn dặm, những đám trâu rừng gặm cỏ ven sông khi ông ngược dòng
sông Tiền sang Chân Lạp.
Cuối thế kỷ XVII, trong Phủ biên tạp lục (1776), Lê Quý Đôn có
những ghi chép ban đầu về vùng đất này. Chủ yếu Lê Quý Đôn đề cập đến
sản vật, phong tục của vùng đất Gia Định xưa.
Đến Gia Định thành thông chí (1820), thì bức tranh của đất Gia Định
hiện lên rất rõ nét, từ thiên nhiên, cây cỏ, sản vật cho đến phong tục tập
quán, nếp sinh hoạt của cộng đồng cư dân nơi đây được Trịnh Hoài Đức
miêu tả khá cặn kẽ với một tình yêu đặc biệt. Những sắc thái sông nước đặc
trưng của người Gia Định – Nam bộ được tác giả thể hiện rất sinh động, từ
tính thích ăn mắm, giỏi bơi lội, chèo xuồng, tính tình phóng khoáng...
Trong khoảng thời gian 1950-1990, nhà văn Sơn Nam cho xuất bản
một loạt các tác phẩm về Nam bộ như Tìm hiểu đất Hậu Giang (1959), Nói
về miền Nam (1965), Đồng bằng sông Cửu Long hay là văn minh miệt vườn
(1970), Hương rừng Cà Mau (1972), Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973),
Cá tính của miền Nam (1974), Bến Nghé xưa (1981), Đất Gia Định xưa
(1984), Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa (1985)... Những cuốn
sách này là tài liệu hết sức quý giá cho việc tìm hiểu vùng đất Nam bộ.
Những ghi chép, điều tra tại chỗ của Sơn Nam là những bức tranh chân thực
về đất, về người Nam bộ. Trong các tác phẩm trên, tập truyện ngắn Hương
rừng Cà Mau đã mang lại cho người đọc nhiều cảm xúc thẩm mỹ về sông
nước phương Nam.
Nhà văn Đoàn Giỏi trong truyện ngắn Đất rừng phương Nam, đã khắc
hoạ thành công những nét độc đáo về thiên nhiên, con người Tây Nam bộ.
Nó là những trang viết sống động về phong thổ đất phương Nam.

5


Mấy đặc điểm văn hoá đồng bằng sông Cửu Long (1984), do Lê Anh

văn hoá vật chất: thói quen ăn uống, cách ăn mặc, nhà ở, phương tiện đi lại,
các nghề thủ công truyền thống và nghệ thuật tạo hình dân gian, đến văn hoá
tinh thần: như phong tục tập quán trong các nghi lễ vòng đời người: sinh đẻ,
cưới xin, tang ma, lễ giỗ, các dạng sinh hoạt diễn xướng dân gian (hò, lý,
nói, hát), diễn xướng sân khấu dân gian. Một công trình giàu tính tư liệu,
nhưng thế mạnh vẫn nghiêng về mô tả đời sống văn hoá của cư dân sông
nước Tây Nam bộ.
Công trình Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng đồng
bằng sông Cửu Long (1993) của Phan Thị Yến Tuyết đề cập đến ba dạng
thức được xem là cơ bản nhất của văn hoá vật chất: nhà ở, trang phục, ăn
uống. Tác giả chọn góc độ tiếp cận văn hoá tộc người (Việt, Khmer, Hoa,
Chăm) nên chúng ta có thể thấy được điểm chung và riêng giữa các tộc
người này.
Kế thừa kết quả nghiên cứu của những tác phẩm trước đó, Nguyễn
Phương Thảo trong Văn hoá dân gian Nam bộ - Những phác thảo (1997)
khái quát những nét riêng của làng Việt Nam bộ như sau: là làng mới, kéo
dài trên diện rộng, thiếu chất kết dính chặt. Nam bộ cũng là nơi xuất hiện
những tôn giáo bản địa: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài,
Phật giáo Hoà Hảo. Tác giả lập luận rằng văn hoá dân gian Nam bộ phản
ánh môi trường tự nhiên với sự phong phú của hệ thống sông ngòi, kênh
rạch, tài nguyên động vật, thực vật vừa giàu có vừa phong phú, khí hậu
thuận lợi. Sinh hoạt văn hoá tinh thần có thể loại hò sông nước, truyện cổ
hướng đến thiên nhiên nhiều hơn xã hội, truyện cổ tích giải thích các địa
danh.
Luận văn cao học chuyên ngành Văn hoá học Ứng xử văn hoá trong
khai thác môi trường thiên nhiên ở Cà Mau (1997) của Vưu Nghị Lực đã chỉ
7


ra những đặc điểm môi trường thiên nhiên và con người Cà Mau cùng cách

giá trị biểu trưng cho một vùng sông nước mênh mang.
Năm 2006, Nguyễn Đoàn Bảo Tuyền bảo vệ luận văn chuyên ngành
Văn hoá học Văn hoá ứng xử với môi trường sông nước của người Việt miền
Tây Nam bộ tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.
Hồ Chí Minh. Bằng phương pháp cấu trúc - hệ thống, tác giả đã nghiên cứu
văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên sông nước của người Việt Tây Nam
bộ, về vai trò của sông nước trong truyền thống văn hoá Việt Nam. Trọng
tâm của luận văn là xác định cách thức ứng xử với môi trường nước của
người Việt Tây Nam bộ trên tất cả lĩnh vực ăn, ở, đi lại, gìn giữ sức khỏe,
sản xuất và đánh giặc với chiến thuật tận dụng lợi thế, hạn chế bất lợi.
Sắc thái văn hoá sông nước vùng U Minh (2007) của Nguyễn Diệp
Mai tập trung làm nổi bật những nét sinh hoạt thường ngày (ăn, ở, mặc,
phương tiện đường thuỷ) cùng với sinh hoạt tâm linh (tục thờ Bà - Cậu, thờ
thần sông Cái Lớn, Hà Bá, ma da, thần sấu,…) của cư dân vùng sông nước
U Minh (Kiên Giang).
Trong luận văn cao học Ghe xuồng trong đời sống văn hoá người Việt
Tây Nam bộ (2008), từ góc độ một loại hình văn hoá vật chất-ghe xuồngPhan Thái Bình đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết về các hoạt động
khai thác, đánh bắt, nghề đóng ghe, những sinh hoạt hàng ngày, tục thờ,
kiêng kỵ liên quan đến phương tiện giao thông thuỷ đặc trưng của miền Tây
sông nước.
Kỷ yếu hội thảo Văn hoá phi vật thể người Việt miền Tây Nam bộ
(2010) có một số bài liên quan đến chủ đề sông nước đáng chú ý: Tây Nam
bộ với tư cách là một vùng văn hoá và các tiểu vùng của nó (Đinh Thị
Dung), Văn minh sông nước Cửu Long-một cấu trúc mới của văn minh sông
nước (Nguyễn Tri Nguyên), Đồng bằng sông Cửu Long: ứng xử với đất và
9


nước (Đỗ Lai Thúy), Sấu trong tâm thức dân gian của cư dân Tây Nam bộ
(Nguyễn Thanh Lợi), Đời sống tâm linh của cư dân theo nghề cá ở Đồng

Phương pháp cấu trúc- hệ thống được sử dụng xuyên suốt trong quá
trình nghiên cứu đề tài để tiếp cận văn hoá Nam bộ với tính sông nước trong
hệ thống văn hoá Việt Nam nói chung.
Phương pháp sưu tầm và nghiên cứu tư liệu phim cũng như sách báo,
tạp chí, Internet để tham chiếu so sánh được sử dụng một cách liên tục, kết
hợp với phương pháp nghiên cứu thực địa giúp ghi lại các thông tin chính
xác và trung thực.
Phương pháp diễn dịch và quy nạp dùng để diễn giải và kết luận các
hiện tượng, kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp để từ các hiện
tượng cụ thể nhằm suy ra những nét đặc trưng mang tính quy luật.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn cung cấp một cái nhìn tương đối cụ thể, nhằm làm sáng tỏ
những nét đặc trưng của văn hoá Nam bộ, lý giải đặc trưng sông nước trong
tính cách văn hoá của người và đất Nam bộ.
Luận văn khẳng định vai trò của phim tài liệu trong việc bảo tồn và
truyền bá các giá trị văn hoá Nam bộ, bảo vệ những giá trị nguồn cội của dân
tộc, bảo vệ kho tàng văn hoá dân gian, góp phần nuôi dưỡng tình yêu với
vùng đất phương Nam nói riêng, tình yêu đất nước nói chung. Thông qua
luận văn, chúng tôi mong muốn các đài truyền hình, các hãng phim đầu tư
sản xuất nhiều phim hơn, khai thác nhiều và sâu hơn các giá trị văn hoá Nam
bộ trong các tác phẩm của mình.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
11


Chương 1: Những vấn đề chung, trình bày những nét chung về vai trò
của sông nước đối với cuộc sống của người Việt ở Nam bộ trong cái nhìn
thời gian, không gian và chủ thể. Các tiêu chí để nhận biết, đánh giá sự tác
động này đến việc hình thành lối sống văn hoá, tính cách Nam bộ. Chương

phố Hồ Chí Minh với diện tích 23.545km2, chiếm hơn 7,15km2 diện tích tự
nhiên toàn quốc, dân số 10.939,2 triệu (2002).
Đây là vùng đất mới trong lịch sử phát triển của đất nước, là khu vực tập
trung nhiều đô thị nằm giữa các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên,
những vùng giàu tài nguyên đất đai, rừng và khoáng sản.
Tây Nam bộ bao gồm 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh
Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An
Giang, Đồng Tháp và 1 thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ,
Khu vực này có diện tích tự nhiên 39.717,3km 2, dân số khoảng 16,7 triệu
(2002), chiếm 12% diện tích và 21% dân số cả nước.
Đây là vùng tận cùng phía Tây Nam của Tổ quốc, có bờ biển dài trên
736km và nhiều đảo, quần đảo như Phú Quốc, Thổ Chu với khoảng 360.000km2
vùng đặc quyền kinh tế, giáp biển Đông và vịnh Thái Lan.
13


Tây Nam bộ là một trong những đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu ở
Đông Nam Á và thế giới. Đây là vùng sản xuất lương thực lớn nhất và cũng là
vùng thuỷ sản, vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn của nước ta [35, tr.507-508, 533534].
1.1.2 Địa hình
Địa hình ở Nam bộ chia thành 2 khu vực địa lý khác nhau. Khu vực Đông
Nam bộ rộng 23.545km2, có 2 dạng địa hình. Dạng địa hình thứ nhất tương đối
bằng phẳng với 3/4 diện tích là đồng bằng và bán bình nguyên, gò đồi. Độ dốc
phổ biến từ 13-150, độ cao không quá 200m, có những bề mặt cao nguyên thấp
và những đồi lượn sóng, rất ít bị chia cắt.
Dạng thứ hai là dải đất xám ở phía Nam, tiếp giáp với đồng bằng châu
thổ, địa hình thoải với lớp phù sa cổ bao trùm. Đây là dạng bậc thềm của châu
thổ sông Cửu Long để lại trong quá trình kiến tạo địa chất [36, tr.233-235].
Châu thổ sông Cửu Long có diện tích lên đến 39.592km 2 (so với
15.000km2 của châu thổ Bắc Bộ), bao gồm phần thượng châu thổ và hạ châu

hoá mưa sâu sắc theo mùa. [35,tr. 509].
Khu vực đồng bằng sông Cửu Long khí hậu tương đối ổn định. Nhiệt độ
cao và ổn định, trung bình thấp nhất cũng trên 25 oC, biến động trung bình 23oC, độ dài ngày ít chênh lệch trong năm: khoảng 11-12 giờ/ngày, ẩm độ không
khí trung bình biến đổi đều đặn.
Năng lượng bức xạ lên đến 15x10 9kcal/ha/năm, nếu thuỷ lợi đầy đủ, có
thể sản xuất nông nghiệp quanh năm với vụ mùa năng suất cao. Chế độ bức xạ
ở vùng châu thổ này không những lớn hơn 30-50Kcal/cm 3/năm, mà còn ổn
định, giúp cho việc xen canh, trồng gối, tăng vụ và thâm canh được thuận lợi.
Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 90% tổng lượng mưa cả
năm và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Vùng ven biển Tây Nam: Cà
Mau-Rạch Giá-Hà Tiên bắt đầu mưa sớm và kết thúc muộn. Cả đồng bằng mưa
15


bắt đầu từ Tây sang Đông. Khu vực ven biển Đông: Trà Vinh-Ba Tri-Gò Công
mùa mưa ngắn và không ổn định.
Trong mùa mưa, lượng mưa cũng biến động rất nhiều hàng năm và thay
đổi giữa các vùng. Trong thực tế người nông dân đã biết khéo léo phối hợp giữa
nước mưa, nước sông tự chảy và tưới động lực bổ sung khai thác triệt để nguồn
tài nguyên nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp [12, tr.73-81].
1.1.4 Thuỷ văn
1.1.4.1 Sông ngòi
Hệ thống thuỷ văn ở Nam bộ bao gồm 2 hệ thống sông chính là hệ thống
sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long.
Ở Đông Nam bộ có các con sông lớn như: Đồng Nai, Sài Gòn, Bé, Vàm
Cỏ Đông, Thị Vải…Các con sông này đưa toàn bộ nước từ các vùng Đà Lạt,
Tây Ninh, Lâm Đồng vào địa phận của vùng thông qua các phụ lưu Lòng Tàu,
Thị Vải, Soài Rạp, Vàm Cỏ. Trong đó, quan trọng nhất là các sông Đồng Nai,
Sài Gòn, Bé.
Sông Đồng Nai dài 850km, diện tích lưu vực là 44.100km 2, bắt nguồn từ

có lòng sâu hơn, nên là con sông mang nhiều nước và phù sa nhất, chiếm 2/3
lưu lượng nước của sông Cửu Long. Ngang Vĩnh Long, cách biển chừng
100km, sông chia ra làm 2 nhánh, tạo thành sông Mỹ Tho và sông Cổ Chiên.
Sông Mỹ Tho ngay sau đó lại tách ra một nhánh quan trọng tạo thành sông Hàm
Luông, rồi lại tiếp tục chia ra thành sông Ba Lai, sông Cửa Tiểu và sông Cửa
Đại. Sông Tiền đổ nước ra biển Đông qua 6 cửa, lần lượt từ Bắc xuống Nam là:
Người Tây Tạng gọi Dza chu (nước của đá), người Trung Quốc gọi là Lan Thương giang
(con sông cuộn sóng), người Thái và người Lào gọi là Mca Nam Chúng (con sông mẹ), người
Campuchia gọi là Tonle-Thom (con sông lớn). Ở Việt Nam, do con sông đổ ra biển theo 9 cửa
nên gọi là sông Cửu Long. Và hiện nay, tên gọi của nó cho cả vùng lưu vực là sông Mekong
với ý nghĩa là “mẹ của các con suối”. (Nguyễn Ngọc Dũng, Sông Cửu Long, Báo Tuổi trẻ
chủ nhật, ngày 4-11-2001)
1

17


cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu
(sau này là một nhánh phụ của sông Cổ Chiên).
Sông Hậu chảy ra biển theo một dòng duy nhất, rải rác vẫn có những cù
lao lớn ở giữa dòng. Nước từ sông Tiền đã chuyển dần sang Hậu qua các kênh
Vĩnh An (Tân Châu-Châu Đốc), Chợ Mới, sông Vàm Nao nên lượng nước của
sông Tiền và sông Hậu gần tương đương. Cách biển 75km, sông Hậu bắt đầu
chia nhánh, đổ ra biển qua 3 cửa Định An, Bát Xắc và Trần Đề [31,tr. 280-282;
48, tr.226; 64, tr.239].
Nếu tính cả những nhánh sông phụ, thì toàn đồng bằng sông Cửu Long
có 37 con sông, tổng chiều dài 1.708km. Ngoài nước mưa, sông Mekong là
nguồn duy nhất cung cấp nước tưới cho đồng bằng sông Cửu Long [45, tr.28].
Sông Cửu Long có diện tích lưu vực 0,79x10 6km2 với lưu lượng nước
hàng năm là 470km3. Lượng phù sa của sông hiện nay khoảng 160 triệu

Thời Pháp thuộc có các kênh Xà No được xem như là một công trình
thuỷ lợi lớn nhất ở Nam kỳ, có thể sánh ngang với việc thiết lập đường xe lửa
Sài Gòn - Mỹ Tho. Kinh được đào từ 1901 đến tháng 7 - 1903, mặt nước rộng
60 m, đáy rộng 40 m, kinh phí 3,6 triệu francs. Quy mô nhất là kênh Rạch Giá Hà Tiên (1926), đánh dấu một bước thực dân chuyển sang khai thác vùng tứ
giác Long Xuyên.
Năm 1895, Tổng đốc Lộc (Trần Bá Lộc) cho đào một con kênh lớn dài 45
km, rộng 10 m và hoàn thành vào năm 1997. Bắt đầu từ rạch Bà Bèo (arroyo
Commercial, rạch Thương Mại), đào thời Tây Sơn, bao quanh cả vùng Mỹ Tho
đổ ra rạch Ruộng gần Sa Đéc. Sự thành công của hệ thống kênh Tổng Đốc Lộc,
1

Có tài liệu ghi là và 137 kênh rạch lớn, tổng chiều dài 2.780km.
19


gồm kênh chính và một loạt kênh xương cá được đánh số từ 1 đến 10 và từ 25
đến 28, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương, tiêu thoát lũ, xả phèn và
phát triển vùng phía Nam, nó thay đổi cái nhìn của người Pháp đối với Đồng
Tháp Mười.
Với hệ thống kênh đào được thực hiện trong khoảng 80 năm ở Nam kỳ,
người Pháp đã làm thay đổi hẳn diện mạo nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu
Long. Diện tích đất canh tác được mở rộng không ngừng, đồng nghĩa với sản
lượng lúa ngày một tăng, hình thành nên thị trường hàng hoá trên lĩnh vực nông
nghiệp. Giao thông vận tải cũng phát huy hiệu quả qua hệ thống giao thông
đường thủ. Đó là những tiền đề quan trọng giúp cho việc phát triển sản xuất, đời
sống và bảo đảm an ninh lương thực của cả nước ở một vựa lúa lớn nhất nước
[59, tr.43; 43, tr.39].
1.1.5 Sinh vật
1.1.5.1 Thực vật
Vào thế kỷ XVIII, ở vùng đất nay là Nam bộ, rừng rậm bạt ngàn, cảnh

đặc biệt là ở Cà Mau. Đây là loài cây ưa mọc trên đất phù sa cận sinh, nhất là
đất bùn mịn, có thuỷ triều lên xuống định kỳ, nước mặn hoặc lợ, khí hậu ấm áp.
Đước là sắc mộc có giá trị cao nhất ở rừng ngập mặn.Cây đước khi đã mọc
thành rừng thì không có một loại cây gì có thể chen vào sống chung được nên
rừng đước thường có sự phân chia lãnh địa riêng lẻ: đước ra đước, mắm ra
mắm, chà là ra chà là… chúng sống chung trong môi trường là đầm lầy ngập
mặn chứ không sống chung bên cạnh nhau. Đây cũng là điểm khác biệt của
rừng đước so với các loại rừng khác.
Chỗ đất đã tương đối ổn định, có nhiều chất hữu cơ, nước biển nhạt, là
nơi vô số các loài cây khác tranh nhau mọc như cốc, mấm trắng,ráng, vẹt dù,
sú, bần, chà là, dừa nước. Bên ngoài là mấm đen và đước. Sau cùng là rừng
21


tràm mọc thuần nhất và đều đặn trên thảm cây bụi như sậy, vốp, choại, năn [31,
tr.291-293].

Hình 1.1 Rừng đước Năm Căn (Cà Mau)

Theo tài liệu lưu trữ từ năm 1862-1931, hình thái rừng tràm chiếm gần
hết các tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu, Hà Tiên, Châu Đốc đến ranh giới tỉnh Cần
Thơ, Long Xuyên, Vĩnh Long. Trước những năm 1930, người ta chia vùng xuất
xứ của rừng tràm thành 3 vùng: rừng tràm miền Trung, rừng tràm Đồng Tháp
Mười và rừng tràm U Minh. Trong đó, rừng tràm U Minh đến năm 1930 có
142.520ha bao gồm các tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu, Hà Tiên. Hiện nay, vùng U
Minh ngày xưa là 2 khu vực tứ giác Long Xuyên và vùng bán đảo Cà Mau (U
Minh Thượng và U Minh Hạ) [60, tr.5-6].
Có ý nghĩa kinh tế nhất là các loài động vật sinh sống dưới nước, đặc biệt
là tôm và cá. Trữ lượng cá vùng này lớn nhất nước, phân bố chủ yếu ở các khu
vực cửa sông và vùng vịnh Thái Lan. Riêng ở vùng vịnh Thái Lan, cá đáy

vắt, đĩa...Đó là cái cảnh “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um” hay “muỗi kêu
như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh”. Riêng nguồn lợi thuỷ sản là cá nước ngọt
23


(cá sông) gồm 255 loài, thuộc 130 giống, 45 họ, trong đó có 55 loài có giá trị
kinh tế cao [45, tr.294].
Theo dự thảo quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Cửu Long (1993), thì ở
đây, động vật có số lượng nhiều nhất là loài và bộ chim (386 loài), kế đến là
loài cá (260 loài), loài bò sát và động vật có vú (23 loài) và loài lưỡng cư (6
loài) [43, tr.33].
Mekong là con sông giàu cá tôm đứng hàng thứ hai trên thế giới, chỉ sau
sông Amazon của Nam Mỹ. Ở khu vực hạ lưu sông Mekong thuộc Việt Nam có
hơn 1.200 loài thuỷ sản, trong đó có hơn 60 loài có giá trị kinh tế, tập trung ở
hai họ cá chép và cá tra (đây là vùng sản xuất cá da trơn lớn nhất thế giới), sản
lượng ước tính đến 2 triệu tấn/năm. Khu vực này đóng góp đến 85% tổng sản
lượng nội địa khai thác được của cả nước. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ao hồ
toàn khu vực khoảng 22.000ha.
1.2 Cư dân Nam bộ
Dưới thời các chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613), Nguyễn Phúc Nguyên
(1613-1625), những lưu dân từ miền Trung đã đến tụ cư ở địa điểm đầu tiên của
Đồng Nai-Gia Định là Mô Xoài (Bà Rịa), một địa điểm nằm trên trục giao
thông đường bộ từ Bình Thuận vào Nam. Họ quần cư trên các gò cao, gần sông,
gần biển.
Cuối thế kỷ XVI- đầu thế kỷ XVII, người Việt đã định cư ở vùng đất
Nam bộ, hình thành nên những cộng đồng làng xã. Những người nông dân, ngư
dân nghèo bằng những chiếc thuyền nhỏ từ miền Trung họ đã men theo bờ biển
vào đến miền Đông Nam bộ khai khẩn những “ruộng núi” (sơn điền) và đến
miền Tây Nam bộ để làm “ruộng cỏ (thảo điền). Ở Đông Nam bộ, họ cư ngụ ở
Bà Rịa, Bàn Lân, Bến Gỗ, Bến Cá, cù lao Rùa, Tân Triều, cù lao Tân Chánh,

Địch đến khai phá vùng Mỹ Tho và Cao Lãnh. Nhiều người dân nghèo từ các
tỉnh ven bờ biển đông nam Trung Quốc (Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông,
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status