ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN VĂN HÓA HỌC
--------------------
LÂM QUANG VINH
TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
CỦA NGƯỜI KHMER TRÀ VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học
TS. VÕ CÔNG NGUYỆN
TPHCM 2008
MỤC LỤC
DẪN NHẬP............................................................................................................ 5
1.Lý do chọn đề tài.................................................................................................................................................5
2. Mục đích nghiên cứu..........................................................................................................................................6
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề................................................................................................................................6
- Trước năm 1975...................................................................................................................................... 6
- Những nghiên cứu sau 1975..................................................................................................................... 7
- Những công trình của các học giả phương Tây.........................................................................................9
- Những công trình của Campuchia.......................................................................................................... 10
- Các bản chép tay trên lá buông của người Khmer ở Trà Vinh................................................................11
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...................................................................................................................11
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.........................................................................................................................11
2.1.4. Ok Om Bok - GkGMbuk................................................................................................................ 39
2.1.5. Tín ngưỡng phồn thực.................................................................................................................... 41
2.2. Tín ngưỡng của dòng họ, gia đình và cá nhân...........................................................................................42
2.2.1. Arăk – Garkß.................................................................................................................................. 42
2.2.2. Cúng thần ruộng, thần mục súc....................................................................................................... 45
2.2.3. Tín ngưỡng thờ hồn lúa và tục cúng sân lúa sau khi thu hoạch........................................................46
2.2.4. Tổ nghề.......................................................................................................................................... 47
2.2.5. Triết lý âm dương........................................................................................................................... 48
2.2.6. Nghi lễ vòng đời............................................................................................................................. 49
2.2.6.1. Việc sinh nở........................................................................................................................... 49
2.2.6.2. Tuổi thành niên...................................................................................................................... 51
2.2.6.4. Tang ma................................................................................................................................. 54
2.2.7. Các ma thuật - M khìa tha - mnþKafa............................................................................................. 55
2.2.7. 1. Ma thuật chữa bệnh............................................................................................................... 56
2.2.7. 2. Bùa yêu................................................................................................................................. 58
2.2.7. 3. Ma thuật làm hại................................................................................................................... 58
- Trù ếm - eGm - (êm)......................................................................................................................... 59
- Thư - GM eBI - òm phờ.................................................................................................................... 59
2.2.7.4. Ma thuật đối với người chết................................................................................................... 60
- Cởi quần đánh ma............................................................................................................................. 60
- Dùng đũa bếp đánh ma..................................................................................................................... 61
2.2.7.5 Các ma thuật khác................................................................................................................... 61
- Trộm Ông Thần tài - Nhận nước Ông Thần tài................................................................................. 61
- Quăng răng rụng lên nóc nhà - eá¼efµjeLIg elI dM bUlpÞ¼ - bó thmênh lờn lờ đòm bồl pho
thẳng............................................................................................................................................. 63
CHƯƠNG III........................................................................................................ 64
3.1. Tín ngưỡng và lễ hội dân gian trong đời sống cộng đồng của người Khmer ở Trà Vinh...................66
3.2. Tín ngưỡng và lễ hội dân gian trong đời sống tôn giáo (Phật giáo Theravada) của người Khmer ở
Trà Vinh..................................................................................................................................................................74
Vinh cũng không ngoại lệ.
- Lí do thứ hai xuất phát về mặt khoa học, đề tài này được coi là một
chuyên khảo nghiên cứu chuyên sâu một lĩnh vực đời sống văn hóa tinh thần,
tâm linh - tín ngưỡng dân gian- của người Khmer ở Trà Vinh nhằm cung cấp
thêm những luận chứng, luận cứ cho khoa học.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hệ thống các nguồn tài liệu về tín ngưỡng dân gian của người
Khmer ở Trà Vinh.
Luận văn phân tích thực trạng và dự báo xu hướng phát triển tín ngưỡng
dân gian của người Khmer ở Trà Vinh trong cái nhìn so sánh đối chiếu quá
khứ - hiện tại.
Cung cấp luận cứ khoa học góp phần vào việc hoạch định chính sách
phát triển văn hóa tinh thần, tâm linh trong cộng đồng người Khmer ở Trà
Vinh dưới góc nhìn văn hóa là mục tiêu, động lực của sự phát triển.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những ghi chép về người Khmer nói chung và người Khmer ở Đồng
bằng sông Cửu Long nói riêng đã có từ rất lâu trong lịch sử. Chân Lạp phong
thổ ký của Châu Đạt Quan, sứ thần nhà Nguyên đi sứ sang nước Chân Lạp
(Campuchia ngày nay) vào thế kỷ XIII, đã viết về phong tục, tập quán của
người Khmer chủ yếu ở vùng đất mà ngày nay là Campuchia.
Về sau, có rất nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về người
Khmer (cả Khmer ở Campuchia và Khmer Nam Bộ), chúng tôi tạm thời lấy
thời điểm năm 1975 làm mốc nghiên cứu.
- Trước năm 1975
Những nghiên cứu của các học giả ở miền Nam Việt Nam về người
Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và người Khmer ở Trà Vinh
nói riêng trước năm 1975 có rất ít, tiêu biểu như:
còn lập danh sách kèm địa chỉ cụ thể 4 ngôi miếu thờ Neak Tà tiêu biểu ở
những nơi có đông người Khmer sinh sống như Trà Cú, Tiểu Cần. Đây là tài
liệu quan trọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu, so sánh, đối chiếu các loại hình
tín ngưỡng này trong quá khứ và hiện tại.
- Người Khmer Cửu Long (1987) do Viện Văn hoá phối hợp với Sở
Văn hóa và Thông tin tỉnh Cửu Long thực hiện là một chuyên khảo về người
Khmer ở tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long hiện nay. Đây là nguồn tài liệu cơ
bản để kế thừa trong nghiên cứu văn hóa truyền thống nói chung và tín
ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Vinh nói riêng.
- Vấn đề Dân tộc học ở Đồng bằng sông Cửu Long (1991) do Mạc
Đường làm chủ biên đã tiếp cận nghiên cứu người Khmer ở Đồng bằng sông
Cửu Long về dân số, dân cư, kinh tế-xã hội, văn hóa vật chất, truyền thống
đấu tranh cách mạng…
- Văn hóa người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long (1993) do Viện
Văn hóa xuất bản là công trình có giá trị trong việc nhận diện sự biến đổi văn
hóa của người Khmer sau gần 30 năm kể từ sau công trình nghiên cứu về
Người Việt gốc Miên (người Khmer) của Lê Hương.
- Nguyễn Khắc Cảnh với công trình Phum sóc người Khmer ở Đồng
bằng sông Cửu Long đã nghiên cứu phum sóc - tổ chức xã hội cổ truyền của
người Khmer, góp phần vào việc nhận diện đặc điểm cư trú của người Khmer
so với người Việt và người Hoa vùng này.
Sơn Phước Hoan - Sơn Ngọc Sang (1999) với tuyển tập Chuyện kể
Khmer được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn làm truyện đọc chính thức trong
chương trình dạy song ngữ cho học sinh trong vùng đồng bào dân tộc cũng đã
hệ thống và cung cấp một số câu truyện hàm chứa tín ngưỡng dân gian. Đây
là nguồn tài liệu cần thiết để tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt của
người Khmer ở Trà Vinh so với người Khmer ở các địa phương khác trong
vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Việt, Êđê (Rhadé), Chăm …Trong các câu chuyện của người Khmer phản ánh
các hình thức tín ngưỡng dân gian mà tín ngưỡng thờ Naga (trang 58 ) là điển
hình. Dù M.Percheron không ghi rõ những câu chuyện trên là do ông sưu tập ở
Campuchia hay ở miền Nam Việt Nam nhưng đây là những cứ liệu cần thiết
để tìm hiểu tín ngưỡng dân gian của người Khmer nói chung.
Robert. L. Mole (1967), The Riligions of South vietnam in faith and
fact, Navpers, Department of the Navy là công trình nghiên cứu tỉ mỉ về tôn
giáo, tín ngưỡng của các tộc người ở miền Nam Việt Nam như Việt, Khmer,
Chăm…, về đạo Lão, đạo Khổng, Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài,
Hòa Hảo và tín ngưỡng thờ tổ tiên, vật tổ (animism)…Tuy nhiên, phần viết về
người Khmer vẫn còn rất ít và tản mạn.
- Những công trình của Campuchia
Phong tục tập quán Khmer của Nhin Phương và Mom Chhai
(
jaNePOn
nigm¨méq)
2007
lMGan TM enom Exµr buraN
(lum-an-thum-neam-Khmer-bô-ran) in tại nhà in số 72 chợ Ôrưxây,
Phnômpênh, Campuchia là công trình giới thiệu khá đầy đủ, tỉ mỉ những lễ
hội, những nghi thức hành lễ trong đời sống văn hóa của người Khmer ở
Campuchia từ Chol Chnam Thmay, Sel Dolta, Ok Om Bok đến đám cưới, đám
tang, xây cất, lễ kiết giới, an vị phật, nhập hạ, kiết hạ…Nguồn tài liệu này góp
phần vào việc so sánh, đối chiếu với phong tục, tập quán và tín ngưỡng dân
gian của người Khmer ở Nam Bộ nói chung Và người Khmer ở Trà Vinh nói
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các loại hình tín ngưỡng dân gian
của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn lịch đại và đồng
đại để tìm hiểu, so sánh, đối chiếu về nguồn gốc ra đời, quá trình phát triển và
biến đổi các loại hình tín ngưỡng dân gian này từ sau công trình nghiên cứu
Người Việt gốc Miên của Lê Hương xuất bản tại Sài Gòn năm 1969. Phạm vi
hay không gian nghiên cứu của luận văn được giới hạn trên địa bàn tỉnh Trà
Vinh hiện nay.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Việc nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở tỉnh Trà
Vinh từ truyền thống đến hiện tại có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc,
nhằm lần tìm, nhận diện đặc trưng văn hóa của người Khmer và tín ngưỡng
dân gian của họ; cung cấp những thông tin, cứ liệu khoa học cần thiết để bảo
tồn và phát huy các loại hình tín ngưỡng dân gian, lễ hội truyền thống của
người Khmer ở Trà Vinh nói riêng và ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói
chung, nhằm đáp ứng yêu cầu tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế .
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng phương pháp thu thập tài liệu thành văn, tư liệu điền
dã, hệ thống, xử lý và phân tích các nguồn thông tin liên quan về tín ngưỡng
dân gian của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ở tỉnh
Trà Vinh nói riêng.
Luận văn áp dụng các phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu,
phỏng vấn hồi cố, phân loại loại hình hóa và biểu tượng để phân loại các loại
hình tín ngưỡng dân gian; tìm hiểu về nguồn gốc ra đời, quá trình phát triển và
biến đổi của các loại hình tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Vinh.
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Tổng quan về tỉnh Trà Vinh và người Khmer ở Trà Vinh
1.1.1. Vị trí địa lý
Hình 1.1 Trà Vinh trong khu vực ĐBSCL
www.travinh.gov.vn
Tên tỉnh Trà Vinh theo tiếng Khmer là PRÉAH ROPÉANG -
tavij - tức Ao Phật. Thời Nguyễn, địa bàn tỉnh Trà Vinh thuộc hạt Long
Hồ[Cao Tấn Hạp 1973:3]. Thời Pháp thuộc, vào năm 1875, Trà Vinh thuộc
phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long [Nguyễn Đình Đầu ( dịch) 1997:10], sau đó là
tỉnh Trà Vinh. Đến năm 1957 được đổi tên là tỉnh Vĩnh Bình. Năm 1975, Trà
Vinh và Vĩnh Long được nhập lại hợp thành tỉnh Cửu Long. Năm 1992, được
tách ra thành lập lại tỉnh Trà Vinh như hiện nay.
Trà Vinh là tỉnh ở vùng đồng bằng ven biển, nằm giữa hạ lưu sôngTiền
và sông Hậu tiếp giáp biển Đông. Diện tích tự nhiên của tỉnh có 2.369,37 km 2.
Vị trí địa lý giới hạn từ: 9 o31’46’’ đến 10o04’5” vĩ độ Bắc và 105o57’16” đến
106o36’04” kinh độ Đông .
Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, có chiều dài bờ biển là 65km
Phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, có ranh giới là sông Hậu dài
60km
Phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long, có ranh giới là những rạch
Lớn, giồng Dài… Ở huyện Trà Cú có giồng Ba Tục, giồng Ba Cụm, giồng
Cóc Lách, giồng Nhuệ Tứ, giồng Cây Da, giồng Mé Láng, giồng Cá Lóc,
giồng Bến Tranh, giồng Cà Hom, giồng Bà Dam… Ở huyện Duyên Hải có
giồng: Sóc Ruộng, giồng Mé Láng, giồng Sơn Trầu, giồng Cây Sứa, giồng Mù
U, giồng Dừa, giồng Trôm, giồng Ổi, giồng Giếng, giồng Ớt… Tại khu vực
ven biển còn có những đụn cát đang hình thành và thường thay đổi hình dáng.
Về đại thể, có thể phân loại đất đai ờ Trà Vinh như sau:
- Gần 2500ha đất giồng
- Gần 23.000 ha đất cát ven giồng
- Hơn 50.000 ha đất mặn ven biển
- Số còn lại là đất phù sa ven sông rạch
Từ phân loại trên cho thấy đất đai ở Trà Vinh rất phong phú và đa dạng.
Đây là nguồn tài nguyên lớn, là môi trường sinh trưởng cho nhiều giống loài
sinh vật, đồng thời cũng là nơi ngụ cư của các tộc người theo đặc điểm cư trú
và nghề nghiệp[Tỉnh Ủy:9-10].
1.1. 3. Khí hậu
Trà Vinh là tỉnh có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng ngoài
ảnh hưởng của gió mùa cực đới1.
Khí hậu ở Trà Vinh trong năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa từ tháng 04 đến
tháng 10 âm lịch với lượng mưa trung bình từ 1.588 - 1.227 mm và mùa khô từ
tháng 10 đến tháng 4 âm lịch năm sau. Chính điều kiện tự nhiên này cũng là một
1
www.travinh.gov.vn
trong những nhân tố tác động đến đời sống của các cư dân ở đây và ảnh hưởng rõ
rệt lên văn hóa của các tộc người cùng cộng cư ở vùng đất này.
1.1.4. Dân tộc
Vạn 1993:171] và có chung nguồn gốc với người Khmer ở Campuchia. Theo
các nguồn sử liệu cho biết họ định cư ở Đồng bằng sông Cửu Long sớm nhất
là vào thế kỷ XIII.
Năm 1862, theo Monographie de la province de tra vinh (saigon,
impreie.l.merano,1903) thì dân số người Khmer ở Trà Vinh có 66.607
người[Robert.L.Mole 1967 :38].
Trong giai đoạn đầu của thời kỳ Pháp thuộc, người Khmer ở Nam Bộ có
khoảng 147.718 người. Đến năm 1905 có 209.225 người và năm 1915 có
242.157 người,
Năm 1928, người Khmer ở Trà Vinh có 77.842 người trong tổng số
235.986 người của toàn tỉnh[Địa dư tiểu học Trà Vinh 1930:18].
Khoảng 10 năm sau, vào năm 1937, dân số người Khmer ở Trà Vinh có
82.000 người so với 350.000 người Khmer ở Nam Kỳ lúc bấy giờ [Malleret
1946:20].
Theo thống kê dân số năm 1946 của Phủ Thống đốc Nam Kỳ, người
Khmer có khoảng 242.157 người, sống ở các tỉnh: Cần Thơ (17.906 người),
Trà Vinh (66.314 người), Châu Đốc (28.312 người), Long Xuyên (1.770
người), Sóc trăng (43.597 người), Bạc Liêu (15.326 người), Rạch Giá (41.586
người), Hà Tiên (4.494 người), Thủ Dầu Một (12.689 người), Biên Hòa (841
người), Tân An (336 người), Gò Công (200 người) và Tây Ninh (835 người)
[Đoàn Văn Nô 1995:9].
Đến năm 1965, sau hơn một thế kỷ (tính từ năm 1862) thì dân số của
người Khmer đã tăng lên gấp 4 lần. Theo báo cáo của một số tỉnh trong vùng
Nam Bộ lúc bấy giờ thì người Khmer có khoảng 567.115 người, trong đó tỉnh
237.330 người ở Vĩnh Bình (Trà Vinh hiện nay ), 156.951 người, Châu Đốc
62.593 người ở Ba Xuyên (Sóc Trăng hiện nay) và Bạc Liêu, 31.337 người ở
Chương Thiện (Hậu Giang hiện nay), 7.134 người ở Phong Dinh (TP. Cần Thơ
hiện nay), 4.500 người ở Vĩnh Long, 3058 người ở An Xuyên (Cà Mau hiện
người Khmer ở Trà Vinh đã in đậm dấu ấn trong tín ngưỡng và lễ hội dân gian
của cộng đồng.
Ở Trà Vinh có một bộ phận người Khmer cư trú ven biển (Ngũ Lạc,
Long Toàn, Long Vĩnh của huyện Duyên Hải, Định An của Trà Cú) và làm
nghề đánh bắt cá, tôm vùng cửa sông, ven biển. Nhưng số này không nhiều và
cũng không đủ để tạo nên sự khác biệt đáng kể so với số đông cư trú trên đất
giồng và làm nông nghiệp bằng ruộng, rẫy.Tuy nhiên, ở họ cũng đã định hình
một số loại hình tín ngưỡng dân gian gắn với sông biển.
Về mặt xã hội, tổ chức xã hội cổ truyền của người Khmer ở Trà Vinh là
phum sóc tương tợ như xóm làng của người Việt. Trước nay, họ cư trú chủ yếu
trên những giồng đất cao, ở đó khoảng 5-10 gia đình hợp thành một phum,
nhiều phum hợp thành một sóc. Phum sóc này ít nhiều có quan hệ với nhau về
mặt thân tộc và huyết thống[Nguyễn Thanh Luân 2004:3] Tôn ti thứ bậc
xưng hô ở người Khmer thường không theo vai vế như người Việt, người Hoa.
Trong họ hàng, thân tộc đời thứ nhất hễ ai thấy mặt trời trước xem như là
người lớn hơn, không kể con chú/con bác, con dì, con cô/con cậu.
Người Khmer ở Trà Vinh chịu ảnh hưởng sâu nặng văn hóa Ấn Độ mà
Phật giáo Theravada là điển hình[Nguyễn Hiến Lê (dịch)1971:387]. Sở dĩ
người Khmer chọn đạo Phật là vì “Đạo Phật phủ nhận chế độ đẳng cấp, đả phá
độc quyền và thói lệ nghi thức, giảng dạy tình yêu thương và từ bi rộng
mở”[Phan Thu Hiền 1998:146]. Chùa là trung tâm tôn giáo, văn hóa, giáo
dục cho cả cộng đồng.
Người Khmer ở Trà Vinh vừa cư trú tập trung trong từng phum sóc, vừa
cư trú xen kẽ với người Việt và người Hoa trên từng địa bàn dân cư. Giữa họ
đã hình thành những mối quan hệ gắn bó với nhau từ lâu đời trong hôn nhân,
gia đình, trong tiếp xúc, trao đổi, giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo nên bản
sắc văn hóa có tính tiêu biểu, đặc thù ở vùng cư dân hỗn hợp đa tộc người
(Khmer, Việt, Hoa).
nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Điểm khác biệt
giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn
tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo. Khi nói đến tín
ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân
tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì không mang tính dân tộc. Tín
ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì
hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ
nào đó thì có thể thành tôn giáo5.
Trong luận văn này, chúng tôi dựa vào bản phân loại tín ngưỡng của
Ngô Đức Thịnh trong công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt
Nam làm cơ sở cho nghiên cứu tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở tỉnh
Trà Vinh.
1.3.2. Tín ngưỡng và ma thuật
Về thuật ngữ ma thuật (Magic), Từ điển Bách khoa Việt Nam coi ma
thuật là: “Hình thái tôn giáo nguyên thủy theo đó người ta tin rằng một số
người có thể làm ra những phép lạ bằng những sức mạnh thần bí của mình
(làm mưa, làm nắng, làm phúc, gây họa). Ra đời vào thời kì thị tộc, ma thuật
có nhiều dạng từ thấp đến cao, tác động gián tiếp hay trực tiếp đến đối tượng,
bắt chước, khởi động, xua đuổi hay tẩy sạch… Thường được gọi dưới các
thuật ngữ: yểm bùa, chài, ếm, thư… Ma thuật nhằm nhiều mục đích: cầu may,
chữa bệnh, làm hại, tình yêu, nghề nghiệp, chiến tranh… Ở ma thuật, đã xuất
hiện những quan hệ giữa con người và các lực lượng siêu nhiên, nhưng chưa
thấy có ý niệm thần thánh. Người ta tin vào sức mạnh thần bí của một con
người thực” 6.
5
6
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%ADn_ng%C6%B0%E1%BB%A1ng
nhưng điểm trung nhất là những niềm tin ngoài chính thống và thường mang
một ý nghĩa tiêu cực.
Như vậy, nội hàm của tín ngưỡng và mê tín dị đoan có những điểm
trùng lắp lên nhau, và trong nhiều trường hợp chúng tiến sát lại rất gần nhau
nhưng không bao giờ đồng nhất với nhau. Tín ngưỡng thì thường rộng và
mang ý nghĩa tích cực hơn là mê tín dị đoan. Tín ngưỡng thì thường tồn tại
qua lăng kính xã hội trong khi đó mê tín dị đoan thường bảo thủ và tồn tại
trong một nhóm nhỏ những người chậm tiến.
1.3.4. Tín ngưỡng dân gian
Ở những phần trên cho thấy có sự phân biệt các thuật ngữ tín ngưỡng
và tôn giáo, giữa tín ngưỡng và mê tín dị đoan. Trong những sự phân biệt đó,
có sự phân biệt khá rạch ròi theo tiêu chí giữa tín ngưỡng và tôn giáo, cũng có
sự phân biệt để nhận diện giữa tín ngưỡng và mê tín dị đoan.
Tuy nhiên, nếu như ở các nước Phương Tây, sự phân biệt giữa tín
ngưỡng- tôn giáo (belief – religion) khá rõ ràng, thì ở Việt Nam, điều này luôn
là vấn đề còn nhiều tranh luận, bởi mức độ đan xen và hòa nhập lẫn nhau giữa
hai thành tố này là rất phức tạp. Ở Việt Nam, ngoài thuật ngữ tín ngưỡng, còn
sử dụng thuật ngữ tín ngưỡng dân gian.
Luận án Tiến sĩ Tín ngưỡng dân gian của người Chăm Ninh Thuận và
Bình Thuận của Vương Hoàng Trù quan niệm “Tín ngưỡng dân gian Chăm là
những tín ngưỡng bản địa không thuộc các tôn giáo du nhập vào Champa và
người Chăm trong những thời kỳ lịch sử sau này”[Hội Dân tộc học,
2006:227]
Bài viết Phật giáo làm cách nào để thích ứng với yêu cầu tín ngưỡng
dân gian? của Thích Thánh Nghiêm đăng trong Tạp chí nghiên cứu Phật học
– số 6 (62) – 2002 đã viết về tín ngưỡng dân gian như sau: “Tín ngưỡng dân