Nhu cầu học tập của sinh viên người khmer vùng đồng bằng sông cửu long - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH PHƯỢNG

NHU CẦU HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI
KHMER VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ BÍCH PHƯỢNG

NHU CẦU HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI
KHMER VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Ngành: Tâm lý học
Mã số:
9.31.04.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. HUỲNH VĂN SƠN

HÀ NỘI, 2018


khoa học của tôi là Phó Giáo sư Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn trong thời gian qua đã
tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình lựa chọn vấn đề nghiên cứu, tổ chức
nghiên cứu để tôi hoàn thành luận án này.
Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2018

Nguyễn Thị Hải


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHU CẦU VÀ NHU
CẦU HỌC TẬP ......................................................................................................... 8
1.1. Nghiên cứu về nhu cầu......................................................................................... 8
1.2. Nghiên cứu về nhu cầu học tập .......................................................................... 13
1.3. Nghiên cứu về nhu cầu học tập của người dân tộc thiểu số............................... 27
Chương 2: LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI
KHMER ................................................................................................................... 35
2.1. Nhu cầu .............................................................................................................. 35
2.2. Học tập ............................................................................................................... 44
2.3. Nhu cầu học tập.................................................................................................. 49
2.4. Sinh viên người Khmer ...................................................................................... 60
2.5. Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer ..................................................... 62
2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập ....................................................... 75
Chương 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NHU CẦU HỌC
TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI KHMER ............................................................ 85
3.1. Tổ chức nghiên cứu ............................................................................................ 85
3.2. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................... 89
3.3. Thang đánh giá nhu cầu học tập ........................................................................ 97
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN NHU CẦU HỌC TẬP CỦA
SINH VIÊN NGƯỜI KHMER VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ... 100

: Giáo viên


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Khách thể khảo sát ........................................................................................... 87
Bảng 3.2. Các biện pháp tác động tâm lý nâng cao nhu cầu học tập cho sinh viên người
Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long .......................................................................... 94
Bảng 3.3. Tiêu chí đánh giá nhu cầu học tập .................................................................. 97
Bảng 3.4. Thang điểm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập ................ 98
Bảng 3.5. Độ tin cậy của thang đo ................................................................................... 99
Bảng 4.1 Thực trạng chung nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng đồng
bằng sông Cửu Long ............................................................................................... 100
.......................................................................................................................................
Bảng 4.2. Mức độ bức thiết nhu cầu về tri thức của SV người Khmer ....................... 102
Bảng 4.3. Mức độ bức thiết nhu cầu về kỹ năng học tập của SV người Khmer ......... 105
Bảng 4.4. Mức độ bức thiết nhu cầu về phẩm chất của SV người Khmer ................. 109
Bảng 4.5. Mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập của SV người Khmer . 112
Bảng 4.6. Tổng hợp nhu cầu học của SV người Khmer ............................................. 116
Bảng 4.7. Tương quan mức độ bức thiết, mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu
học tập của SV người Khmer vùng ĐBSCL ................................................................ 117
Bảng 4.8. So sánh nhu cầu học tập của SV người Khmer vùng ĐBSCL theo các biến số
........................................................................................................................................... 118
Bảng 4.9. Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer so với sinh viên người Kinh .....
........................................................................................................................................... 119
Bảng 4.10. Mối tương quan nhu cầu học tập của SV người Khmer với mục đích học tập
........................................................................................................................................... 120
Bảng 4.11. Mối tương quan nhu cầu học tập của SV người Khmer với hứng thú học tập
........................................................................................................................................... 121
Bảng 4.12. Mối tương quan nhu cầu học tập của SV người Khmer với niềm tin vào bản
thân trong học tập ............................................................................................................. 122

chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình và đó
là nguồn gốc tính tích cực cá nhân” [23, tr190]. Các công trình nghiên cứu về nhu cầu
và nhu cầu học tập đã chỉ rõ nhu cầu là nguồn gốc, là động lực thúc đẩy tính tích cực
trong hoạt động của cá nhân [30], [97]. Trong quá trình hình thành năng lực nghề
nghiệp, nhu cầu học tập trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực học tập của người học.
Nhu cầu học tập mang tính bức thiết cao thể hiện cụ thể ở việc người học nhận thức
được tình trạng thiếu thốn tri thức, kỹ năng và những phẩm chất; nhận thức rõ ý nghĩa
của tri thức, kỹ năng và phẩm chất đối với bản thân người học mong muốn thỏa mãn tri
thức, kỹ năng và phẩm chất thông qua hoạt động học tập. Nhu cầu học tập được thỏa
mãn chủ yếu thông qua hoạt động học tập. Tính bức thiết của nhu cầu học tập còn thể
hiện ở chỗ người học nhận thức rõ phương thức thỏa mãn nhu cầu về tri thức, nhu cầu
về kỹ năng và nhu cầu về phẩm chất trong hoạt động học tập. Mức độ bức thiết càng cao
càng thúc đẩy người học nỗ lực ý chí để giải quyết nhiệm vụ học tập. Hiệu quả học tập
được đánh giá thông qua việc những nhu cầu học tập của người học được thỏa mãn.
Nghèo đói là một trong những vấn đề thách thức cho sự phát triển bền vững
vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và của người dân tộc thiểu số tại vùng này
nói riêng trong đó có dân tộc Khmer. Đảng và nhà nước luôn quan tâm đầu tư phát triển
vùng đặc biệt khó khăn - vùng dân tộc thiểu số. Cụ thể là chính sách xóa đói giảm nghèo
thể hiện ở chương trình 135 và quyết định số 29/2013/QĐ-TTg [16]; Nghị quyết số
52/NQ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2016 về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các
dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2030. Trong mục tiêu
phát triển trí lực có nội dung “phấn đấu đến năm 2020, số sinh viên người dân tộc
thiểu số (đại học, cao đẳng) đạt 130 đến 150 sinh viên/vạn dân (người dân tộc thiểu
số)”. Cũng tại Nghị quyết này có đề ra “tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong độ tuổi
lao động được đào tạo các chương trình giáo dục nghề nghiệp đến năm 2020 đạt


2
trên 30%, nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp đạt tối thiểu 25%; phấn
đấu năm 2030 tỷ lệ tương ứng là 50% và trên 45%.. nâng vao kiến thức xã hội, kỹ

3
học chưa biết rõ sự thiếu hụt tri thức của bản thân, chưa nắm vững phương thức thỏa
mãn nhu cầu học tập đồng thời các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan chưa đáp
ứng được nhu cầu học tập của SV người Khmer. Nhu cầu học tập chỉ có thể được thỏa
mãn thông qua hoạt động học tập tích cực. Việc thỏa mãn nhu cầu học tập của sinh viên
chịu sự tác động của các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan. Mặt khác, tiếng
Việt không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của sinh viên người Khmer vì vậy những rào cản về
ngôn ngữ trong quá trình học tập của là một trong những trở lực lớn ảnh hưởng đến hiệu
quả học tập của sinh viên người Khmer tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Nghiên cứu “Nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer vùng Đồng bằng
sông Cửu Long” để đề xuất những biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả học tập của
sinh viên người Khmer là vấn đề có tính cấp thiết.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer
vùng đồng bằng sông Cửu Long và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập này.
Đề xuất một số biện pháp tâm lý – giáo dục góp phần nâng cao nhu cầu học tập của
sinh viên người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu


Tổng quan tình hình nghiên cứu về nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer;



Xây dựng cơ sở lý luận về nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer;



Làm rõ thực trạng nhu cầu học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu học

niềm tin vào bản thân trong học tập, cảm xúc hài lòng trong học tập, triển vọng
ngành học, nhà trường, gia đình.
- Đề xuất một số biện pháp tâm lý – giáo dục nâng cao nhu cầu học tập
3.2.2 Giới hạn về phạm vi địa bàn nghiên cứu
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu khách thể là sinh viên người Khmer của 04
trường bao gồm: Đại học Cần Thơ, Đại học Y Dược Cần Thơ, Đại học An Giang,
Đại học Trà Vinh. Đây là các trường có sinh viên người Khmer theo học nhiều nhất
tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận nghiên cứu
- Nguyên tắc hoạt động: nhân cách của con người được hình thành trong hoạt
động. Trong từng giai đoạn lứa tuổi, cá nhân tham gia rất nhiều hoạt động khác nhau
trong đó hoạt động chủ đạo quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển trình độ
nhân cách. Hoạt động học tập mà đặc trưng là học nghề là hoạt động chủ đạo của lứa
tuổi sinh viên. Vì vậy, nghiên cứu nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer cần
xem xét trong hoạt động học tập mới có thể phán đoán, lý giải nhu cầu học tập của họ.
- Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan: nguyên tắc này đòi hỏi khi nghiên cứu
tâm lý phải xem xét những biểu hiện hành vi có thể quan sát được từ bên ngoài một cách


5
khách quan. Nguyên tắc này đảm bảo được tính trung thực khách quan và tránh được sai
lầm trong quá trình nghiên cứu. Để đảm bảo nguyên tắc khách quan trong việc nghiên
cứu nhu cầu học tập cần phải xây dựng, lựa chọn các phương pháp nghiên cứu sao cho
phù hợp với đối tượng, địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu.
- Nguyên tắc phát triển: bản chất của sự hình thành và phát triển tâm lý là quá
trình liên tục tạo ra những cấu tạo tâm lý mới vì vậy khi nghiên cứu nhu cầu học tập của
sinh viên người Khmer phải nghiên cứu trong sự vận động, biến đổi, tương tác qua lại
giữa các hiện tượng tâm lý với nhau. Đồng thời phải đánh giá một hiện tượng tâm lý cụ
thể trong một thời gian và không gian cụ thể.

đích học tập, hứng thú học tập, niềm tin vào bản thân trong học tập, cảm xúc hài lòng,
triển vọng xã hội, nhà trường, gia đình có ảnh hưởng đến nhu cầu học tập nói chung và
nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer nói riêng. Nghiên cứu này góp phần làm
sáng tỏ lý luận về nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer. Kết quả nghiên cứu của
luận án góp phần bổ sung thêm lý luận về tâm lý học sư phạm và tâm lý học dân tộc.
6.2. Về mặt thực tiễn
Tuy sinh viên người Khmer có những đặc trưng riêng là người dân tộc thiểu số
nhưng nghiên cứu đã làm rõ thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer
vùng đồng bằng sông Cửu Long có những biểu hiện chung nhất là những đòi hỏi bức
thiết (về tri thức, về kỹ năng học tập, về phẩm chất của người học) và biểu hiện cụ thể
thông qua hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã chỉ ra một
số biện pháp nâng cao nhu cầu học tập cho sinh viên người Khmer như: nâng cao nhận
thức về sự thiếu hụt tri thức và ý nghĩa của tri thức trong chương trình đào tạo đối với
nghề nghiệp tương lai; khơi dậy niềm tin vào bản thân trong học tập cho sinh viên
người Khmer; hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học tập và tạo bầu không khí tâm lý
tích cực trong lớp học.
- Kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer đạt
mức độ trung bình trong đó nhu cầu học tập của sinh viên người Khmer chưa thực sự
bức thiết vì vậy mà mức độ thực hiện hành vi thỏa mãn nhu cầu học tập chưa cao.
Điều này ảnh hưởng đến kết quả học tập. Về mức độ bức thiết, sinh viên người
Khmer hướng đến những kiến thức chuyên ngành, kiến thức về giao tiếp, kiến thức
về ngoại ngữ, kiến thức công nghệ thông tin, kỹ năng phỏng vấn, xin việc, kỹ năng


7
thuyết trình, kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ, muốn thể hiện sự tự tin trong học tập,
mong muốn học phẩm chất thẩm mỹ trong học tập. Về mức độ thực hiện hành vi
thỏa mãn nhu cầu học tập, sinh viên người Khmer chấp hành tốt nội quy của trường,
ký túc xá, có chú ý học tập những phẩm chất từ bạn bè, tự giác giải quyết nhiệm vụ
học tập. Tuy nhiên, mức độ tích cực thực hiện những hành vi thỏa mãn nhu cầu học

1.1.1. Nghiên cứu nhu cầu được xem xét gắn với bản năng
Các nhà tâm lý học phương Tây xem xét nhu cầu gắn với bản năng đồng thời
có sự phân biệt nhu cầu bản năng của con người và nhu cầu bản năng của động vật.
Đại diện cho xu hướng này có các tác giả như: W. Koller (1887 – 1967),
E.L.Thorndike (1874 – 1949), N.E Miller, Freud (1856 – 1939), Mc.Dougall (1871 1938), Clark Leonard Hull (1884 – 1952), Erich Fromm (1900 – 1980), Maslow
(1908 – 1966), H.Murray (1893 – 1988)…[71, tr41,199-120, 250-255], [30 , tr5-6],
[64, tr26], [7, tr481- 500], [32], [97], [5], [121,]
V. Koller, E. Thorndike và N.E Miller dựa vào hành vi của động vật để lý giải
nhu cầu và cho rằng nhu cầu quyết định hành vi. Khi xem xét hành vi của động vật
Thorndike cho rằng “sự thỏa mãn”, “không thỏa mãn” và “sự khó chịu” đều liên
quan đến hành vi. Trên cơ sở đó ông khẳng định nhu cầu cơ thể quyết định hành vi.
Freud và Mc. Dougall quan niệm bản năng là động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người
hoạt động. Mọi nhu cầu của con người, đặc biệt là nhu cầu tình dục được thỏa mãn
bằng nhiều cách (hiện thực, giấc mơ). Hull chỉ ra rằng nền tảng của động cơ hành vi
là nhu cầu của cơ thể xuất hiện do sự lệch lạc điều kiện sinh học tối ưu. Theo Erich
Fromm thì tất cả mọi người đều có 5 nhu cầu cơ bản: họ hàng (thiết lập mối quan hệ
tích cực và tiếp diễn với người khác), tính siêu nhiên (nhận thức về khả năng và tiềm
năng của bản thân dẫn tới năng suất sáng tạo của cá nhân), cội nguồn (nhu cầu về
mối quan hệ liên tục và có ý nghĩa với cả môi trường xung quanh lẫn quá khứ), ý
thức về bản sắc (khao khát muốn biết mình là ai và có vai trò gì trong xã hội) và hệ
quy chiếu (nhu cầu tạo nên trật tự của nhận thức từ một thế giới của sự hỗn loạn
khác). Maslow (1908 – 1966) đưa ra luận thuyết phân cấp nhu cầu, sắp xếp theo thứ
tự tăng dần từ thấp đến cao (nhu cầu sinh lý – nhu cầu an toàn – nhu cầu xã hội –
nhu cầu được tôn trọng – nhu cầu tự khẳng định). Maslow cho rằng trong quá trình


9
phát triển của cá nhân, các nhu cầu này có quan hệ với nhau theo kiểu dạng tháp.
Mặc dù ông đã chỉ ra nhu cầu của con người bao gồm nhu cầu sinh học và nhu cầu
xã hội nhưng những lý giải của ông về thứ bậc nhu cầu và đặt nhu cầu của cá nhân

Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy, Phạm Tất Dong, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc
Thành, Nguyễn Xuân Thức và một số tác giả khác.
D. N. Uznatze cho rằng nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng và nhu cầu là yếu
tố quyết định tính tích cực của con người [87, tr143]. A.G.Kovaliov thì cho rằng nhu
cầu là sự đòi hỏi tất yếu của cá nhân và các nhóm xã hội do họ nhận thấy cần được
thỏa mãn để tồn tại và phát triển. Theo ông, một nhu cầu khách quan nào đó trước
khi trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực của con người đã được con người ý
thức [32, tr187 – 188], [9, tr110], [4, tr223-224]. X.L.Rubinstein chỉ ra các mức độ
của nhu cầu (ý hướng tính tích cực thấp; ý muốn tính tích cực cao hơn; ý định tính
tích cực cao nhất) [32, 183 – 184]. A.N. Leonchive chỉ ra hai cấp độ của nhu cầu. Ở
cấp độ thứ nhất nhu cầu là trạng thái tâm lý bên trong, là điều kiện bắt buộc của hoạt
động. Nó thể hiện trạng thái thiếu thốn của cơ thể. Nhưng do chưa có đối tượng thỏa
mãn, nên cấp độ này nhu cầu chỉ có khả năng phát động sức mạnh của các chức năng
tâm lý và tạo ra sự kích thích chung. Kết quả dẫn đến sự tìm tòi vô định hướng. Ở
cấp độ thứ hai nhu cầu “gặp” đối tượng. Ở cấp độ này nhu cầu có khả năng kích
thích, hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động theo một hướng rõ ràng, hướng đến đối
tượng thỏa mãn nhu cầu. Từ luận điểm trên cho thấy, nhu cầu theo đúng nghĩa phải
gắn liền với đối tượng của hoạt động. Nhu cầu thực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu
về một cái gì đó. Cái gì đó có nguồn gốc từ thực tiễn khách quan vì vậy nhu cầu của
cá nhân chỉ có thể gặp đối tượng khi tham gia hoạt động. Ông mô tả nguồn gốc của
nhu cầu cũng như mối quan hệ của nó với hoạt động bằng sơ đồ: hoạt động – nhu cầu
– hoạt động. Luận điểm này phù hợp với quan niệm của Mác về nhu cầu – nhu cầu
của con người được sản xuất trong hoạt động [32, tr184-187], [9, tr111], [64 tr31].
A.N.Dernhitrenko và N.V.Gontrancov xem nhu cầu là cốt lõi của nhân cách và khả
năng thỏa mãn nó phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị của chủ thể. Chủ thể cần trang
bị thông tin có liên quan đến khả năng thỏa mãn nhu cầu, kết hợp với trạng thái tâm
lý của chủ thể để tạo thành tâm thế làm tăng năng lượng của nhu cầu [30, tr10].
P.V.Ximonov thì cho rằng đặc điểm của nhân cách phụ thuộc vào việc được trang bị
thông tin, công cụ và cách thức thỏa mãn nhu cầu. Nếu như trong trường hợp nhu
cầu cấp bách xuất hiện mà thiếu hụt thông tin về khả năng thỏa mãn nó sẽ nảy sinh

Ngoài ra các bài báo viết về nhu cầu được đăng trên các bài báo, tạp chí khoa
học. Nguyễn Sĩ Mạnh (2005) nghiên cứu nhu cầu trong nhân cách của người quân
nhân [69, tr57-58]. Ngô Công Hoàn (2005) nghiên cứu nhu cầu đối với sự hình thành


12
hành vi đạo đức ở trẻ em lứa tuổi mầm non [44, tr5-11]. Hoàng Trần Doãn (2006)
nghiên cứu các cấp độ nhu cầu điện ảnh [20, tr59-63]. Lưu Song Hà (2007) quan tâm
nhu cầu của học sinh trung học cơ sở về quan hệ của cha mẹ đối với các em [29,
tr14-16]. Nguyễn Thị Liên (2007) đề cập đến nhu cầu được tư vấn sức khỏe sinh sản
của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội [59, tr53-57]. Nguyễn Thị Tuyết Mai (2008)
chú ý đến nhu cầu bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý của cán bộ xã [68, tr37-41]. Trần
Hữu Luyến (2008) quan tâm đến nhu cầu học ngoại ngữ ở trường trung học phổ
thông những năm đổi mới tại một số tỉnh thành đồng bằng Bắc Bộ [65, tr11-17].
Nguyễn Phương Huyền (2008) tìm hiểu nhu cầu thẩm mỹ của sinh viên sư phạm trên
cơ sở đó đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ cho họ [48,
tr23-26]. Bùi Thị Vân Anh (2009) quan tâm đến nhu cầu giao tiếp của người nghỉ
hưu ở Hà Nội [2, 27-30]. Nguyễn Xuân Thức và Lê Thị Thúy Bích (2009) quan tâm
đến nhu cầu vui chơi của học sinh tiểu học [103, tr13-16]. Nguyễn Văn Tuân (2009)
nghiên cứu nhu cầu văn hóa tinh thần của bộ đội Ra đa ở các sư đoàn phòng không
[105, tr20-28]. Nguyễn Thị Lan và Bùi Thị Vân Anh (2010) chú ý nhu cầu văn hóa
tinh thần của nông dân nghèo miền núi Tây Bắc [56, tr19].
Tóm lại, các bài viết về nhu cầu xoay quanh tìm hiểu biểu hiện của nhu cầu và
phương thức thỏa mãn nhu cầu. Các tác giả quan tâm nhiều đến các nhu cầu tinh thần
là chủ yếu. Nhu cầu là nguồn gốc, là động lực của tính tích cực trong hoạt động của cá
nhân. Nhu cầu là sự đòi hỏi về một điều gì đó mà cá nhân thấy cần được thỏa mãn để
tồn tại và phát triển. Nhu cầu được hình thành trong hoạt động và biểu hiện cụ thể ở sự
nhận thức rõ ràng về đối tượng cần được thỏa mãn và biểu hiện ở mức độ thực hiện
hành vi tích cực trong hoạt động. Nhu cầu tuy là nguyên nhân nảy sinh hành vi nhưng
nhu cầu chỉ có thể được thỏa mãn trong hoạt động và ngay khi cá nhân tham gia hoạt

cận xem nhu cầu là nguồn gốc, là động lực của tính tích cực trong hoạt động của cá
nhân và nhu cầu được thỏa mãn trong hoạt động.
1.2. Nghiên cứu về nhu cầu học tập
Học tập là một quá trình lĩnh hội kinh nghiệm cá thể nhằm chiếm lĩnh kinh
nghiệm của lịch sử - xã hội nhất định vào trong kinh nghiệm cá nhân. Học tập chỉ có
thể đạt kết quả cao khi người học có nhu cầu học tập. Nhu cầu học tập là nhu cầu
tinh thần đặc trưng cho con người. Nhu cầu học tập rất đa dạng và phong phú thể
hiện ở nhiều mức độ khác nhau tùy theo giai đoạn lứa tuổi, nghề nghiệp, tính chất


14
của hoạt động khác nhau. Nhu cầu học tập có thể xuất phát từ bản thân người học do
nhận thức rõ sự thiếu hụt về tri thức của bản thân, họ khao khát học tập để phát triển
bản thân. Nhu cầu học tập cũng chịu sự tác động của nhiều yếu tố tác động khác
nhau trong đó có thể tổng quan nhu cầu học tập theo hai nhóm: nhu cầu học tập xuất
phát từ bản thân người học và nhu cầu học tập bị chi phối bởi các yếu tố khách quan.
1.2.1. Nghiên cứu nhu cầu học tập xuất phát từ bản thân người học
- Hướng nghiên cứu nội dung của nhu cầu học tập có các tác giả như
Nicolaikuzan, Fourier, L.I.Bozovich, B.B.Davudov, V.A.Krutetxki, Petrovxki,
Diahann Gallard, Katherme. M. Cartmell, Nguyễn Văn Lũy, Hoàng Thị Thu Hà,
Trần Thị Minh Ngọc và một số tác giả khác [64], [30], [73], [115].
Nicolaikuzan đề cao vai trò của việc học và khích lệ nhu cầu học tập của người
học. Theo ông, việc khám phá chinh phục thiên nhiên cũng giống như con đường khám
phá bản chất, quy luật của hiện thực khách quan bắt đầu từ lòng ham hiểu biết, từ nhu
cầu học tập của con người. Fourier quan tâm đến nhu cầu của người học và tùy vào nghề
nghiệp khác nhau mà hướng đến nhu cầu học tập của người học khác nhau“giáo dục
cần phải chú ý đến nhu cầu hiểu biết, xuất phát từ hoạt động công nghiệp cho nên bài
học ở trường phải liên hệ trực tiếp liên hệ với những công việc trong xưởng thợ”.
L.I.Bozovich cho rằng nhu cầu học tập hình thành sớm ở trẻ. Nhu cầu này thể hiện ở
mong muốn phản ánh hiện thực khách quan, hấp dẫn bởi những điều mới lạ. Nhu cầu

nhu cầu học tập giữa SV khác nhau về giới tính nhưng có sự khác biệt nhu cầu học tập
ở SV các khối, ngành, khu vực và học lực. Sự khác biệt nhu cầu học tập của SV các
ngành tự nhiên, xã hội, ngoại ngữ phản ánh một thực tế nhu cầu nghề dạy học bị chi
phối bởi tính chuyên môn và của nhu cầu xã hội về chuyên môn đó. Tác giả cũng đã chỉ
ra nguyên nhân của mức độ nhu cầu học tập không đều chủ yếu do SV chưa ý thức rõ
đối tượng và phương thức thỏa mãn nhu cầu về nghề dạy học. Mặc khác, nội dung
chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức và phương tiện học tập chưa kích thích sự
phát triển nhu cầu học tập ở SV [30]. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Trần Thị
Minh Ngọc (2009) nghiên cứu về “Nhu cầu thái độ học tập các môn lý luận chính trị”
[73]. Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy SV chưa hứng thú học tập các môn lý luận
chính trị dẫn đến kết quả học tập chưa cao.
Bernie Trilling và Charles Fadel trong cuốn sách “Kỹ năng thế kỷ XXI: Học
tập vì cuộc sống trong thời đại của chúng ta” đã chỉ rõ người học cần học cách đổi
mới, học cách sống, học cách tư duy phê phán và giải quyết vấn đề, học kỹ năng công


16
nghệ mới, học khả năng sáng tạo [115]. Ngoài ra còn có tài liệu của Diahann Gallard,
Katherme. M. Cartmell (2015) quan tâm đến động lực thúc đẩy nhu cầu học tập. Các
tác giả chỉ ra động lực chính là chìa khóa của học tập [122, 59-72]
Tùy theo đối tượng học tập khác nhau mà các tác giả xem xét nội dung của nhu
cầu học tập ở góc độ khác nhau nhưng tựu trung lại nội dung của nhu cầu học tập luôn
gắn với nội dung của hoạt động học tập. Hoạt động nào sẽ có nội dung đó và nhu cầu
gắn với hoạt động nào thì nội dung của nhu cầu sẽ gắn với nội dung của hoạt động đó.
Trên cơ sở nội dung của nhu cầu học tập luôn gắn với hoạt động học tập có thể định
hướng cho việc nghiên cứu về nhu cầu học tập của SV người Khmer vùng ĐBSCL gắn
với nội dung hoạt động học tập.
- Hướng nghiên cứu phương thức thỏa mãn nhu cầu học tập thể hiện ở tính tích
cực trong hoạt động học tập có các tác giả như Skinner, Piaget, John Dewey, Albert
Bandura, trường phái Ghestalt,Vygotsky, A.N.Leonchiev, C.J. Simister, Myron H.

phá ra tri thức mới. Trong học tập khám phá, người học trải qua ba giai đoạn: đầu tiên
người học phải thao tác và hành động trên các tài liệu đã có (hành động phân tích), sau
đó hành động trên các hình ảnh về chúng (hành động mô hình hóa) và cuối cùng rút ra
được các khái niệm, các quy tắc từ những mô hình đó (ký hiệu hóa). Vì thế trong học
tập khám phá người dạy cần cung cấp nhiều tình huống để người học có thể đặt câu
hỏi khám phá và thực nghiệm cho đến khi tìm ra được các nguyên tắc, các ý tưởng,
mối liên hệ cơ bản trong cấu trúc môn học. Cần tổ chức cho người học tiến hành các
hành động học tập tương ứng với các hình thức biểu hiện của cấu trúc (hành động
phân tích, hành động mô hình hóa, hành động ký hiệu hóa), theo phương pháp chung
là suy luận quy nạp, nghĩa là từ các hành động trên các vật liệu cụ thể để rút ra các
nguyên tắc chung [72, tr63]. Đây là mô hình học tập được áp dụng rộng rãi trong tổ
chức hoạt động học cho người học vì khi người học xác định rõ động cơ học tập và
được khám phá phù hợp với trình độ nhận thức thì quá trình khá phá tri thức sẽ mang
lại kết quả rất cao.
Albert Bandura thì xuất phát từ luận điểm cho rằng không phải lúc nào hành
vi cũng được hình thành trực tiếp từ bên ngoài mà có thể hình thành từ quá trình
quan sát, bắt chước hành vi mẫu. Mô hình học tập nhận thức xã hội có hai điểm chú
ý: thứ nhất, hành vi của cá nhân không bị thúc đẩy bởi lực bên trong hay những kích
thích bên ngoài mà chịu sự tương tác bởi hành vi, các đặc điểm nhận thức, nhân
cách; thứ hai, học tập diễn ra hai quá trình là tiếp thu kiến thức (học tập qua hành



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status