VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH VĂN CHẨN
TÍNH CÁCH NGƯỜI KHMER
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chuyên ngành : Tâm lý học chuyên ngành
Mã số : 62.31.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. LÊ THỊ THANH HƯƠNG
2. PGS.TS. LÃ THỊ THU THỦY
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Hệ thống số
liệu và kết quả nghiên cứu trong toàn bộ luận án là trung thực, khách quan và
chưa có bất kỳ một công trình nào công bố.
Tác giả luận án
Huỳnh Văn Chẩn
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
*PGS. TS. Lê Thị Thanh Hương và PGS.TS. Lã Thị Thu Thủy, hai
nhà khoa học đã quan tâm sâu sắc,tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học
tập, nghiên cứu và động viên tôi hoàn thành luận án này.
* Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến GS. TS. Vũ Dũng, PGS. TS. Lê Thị
Thanh Hương, những người Thầy, người Cô đầu tiên tôi được học tri thức
chuyên ngành ở trình độ NCS. Quý Thầy Cô đã tận tình, truyền đạt tri thức,
giúp cho tôi tiếp cận với cách tư duy mới, tạo nền tảng vững chắc cho tôi trong
quá trình học tập và suốt thời gian nghiên cứu.
*Ban Giám đốc, Ban chủ nhiệm, các thầy, cô giáo Khoa Tâm lý,
2.1. Tổ chức nghiên cứu 65
2.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 66
2.3. Xử lý dữ liệu và cách đánh giá 74
Tiểu kết chương 2 77
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN MỘT SỐ TÍNH CÁCH CỦA
NGƯỜI KHMER VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 78
3.1. Thực trạng một số tính cách người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu
Long 78
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính cách người Khmer vùng Đồng bằng sông
Cửu Long 116
3.3. Phân tích chân dung tính cách điển hình của người Khmer vùng Đồng
bằng sông Cửu Long 123
Tiểu kết chương 3 136
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 137
1. Kết luận 137
2. Kiến nghị 139
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 142
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DT : Dân tộc
ĐTB : Điểm trung bình
ĐLC : Độ lệch chuẩn
TC : Tính cách
TCDT : Tính cách dân tộc
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
YTTĐ : Yếu tố tác động
HĐCĐ : Hoạt động cộng đồng
TH : Tiểu học
THCS : Trung học cơ sở
Hệ số tương quan Pearson giữa Nhận thức, Cảm xúc
và Cách ứng xử thể hiện tính báo hiếu của người
Khmer ở ĐBSCL
89
Bảng 3.5:
Tính tôn sùng Phật giáo của người
Khmer vùng ĐBSCL thể hiện ở mặt
nhận thức
92
Bảng 3.6:
Tính tôn sùng Phật giáo của người Khmer vùng
ĐBSCL thể hiện ở cách ứng xử
97
Bảng 3.7:
Tính tôn sùng Phật giáo của người Khmer (so sánh
theo các biến số)
99
Bảng 3.8:
Hệ số tương quan Pearson giữa Nhận thức, Niềm tin,
Cảm xúc và Cách ứng xử đối với Phật giáo của người
Khmer ở ĐBSCL
101
Bảng 3.9:
Tính cộng đồng của người Khmer vùng ĐBSCL thể
hiện ở mặt nhận thức
102
Bảng 3.10:
Tính cộng đồng của người Khmer vùng ĐBSCL thể
hiện ở cách ứng xử
110
Tính báo hiếu của người Khmer vùng ĐBSCL thể
hiện ở mặt xúc cảm
83
Biểu đồ 3.2:
Tính tôn sùng Phật giáo của người Khmer vùng
ĐBSCL thể hiện ở mặt xúc cảm
94
Biểu đồ 3.3:
Tính cộng đồng của người Khmer vùng ĐBSCL thể
hiện ở mặt xúc cảm
107
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có 54 dân tộc anh em cùng chung
sống. Các dân tộc chung sống đoàn kết, gắn bó và cùng phát triển. Dân tộc
Khmer chủ yếu sống ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), chiếm vị trí
thứ 2 về dân số ở vùng đồng bằng sông Cửu Long với 1.055.000 người, chiếm 6,
36% dân số toàn vùng và chiếm 97, 2% dân số Khmer toàn quốc [80, tr 13].
Người Khmer vùng ĐBSCL có lối sống, tâm lý, phong tục tạp quán có nét
đặc trưng riêng, họ cần cù lao động, gắn kết với nhau,một lòng tôn thờ Phật giáo
Tiểu thừa, nhưng do trình độ hạn chế, hạn chế ứng dụng khoa học kỹ thuật trong
canh tác mà chỉ kỳ vọng vào quyền năng của Phật pháp và khép kín trong đời
sống Phum, Sóc, với lối sống như vậy, có lẽ do tính cách của họ khá ổn định,
khó thay đổi để tiếp nhận những giá trị sống hiện đại, điều này ảnh hưởng nhất
sđịnh đến sự thích ứng hay không thích ứng với chính sách dân tộc.
Đối với các dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương,
chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Đặc biệt đối
với người Khmer ở vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện các
chính sách kinh tế, văn hoá và xã hội đối với đồng bào người Khmer ở ĐBSCL
vẫn còn những tồn tại nhất định mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng biểu hiện một số tính cách của người Khmer vùng ĐBSCL (cụ
thể là tính báo hiếu, tính tôn sùng Phật giáo và tính cộng đồng), các yếu tố ảnh
hưởng đến tính cách người Khmer.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long: 498 người.
Đề tài khảo sát người Khmer thuộc các dòng họ khác nhau.
- Cán bộ quản lý các thôn ấp nơi có người Khmer sinh sống : 50 người.
2
Tổng số khách thể khảo sát : 548 người.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
- Các tính cách của người Khmer được biểu hiện trong nhận thức, xúc cảm
và hành vi. Tính báo hiếu, tính tôn sùng Phật giáo và tính cộng đồng là những
tính cách của người Khmer, trong đó tính cộng đồng của người Khmer được thể
hiện rõ nhất.
- Tính cách người Khmer vùng ĐBSCL chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố,
song trong những yếu tố được nghiên cứu, yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là dư
luận xã hội.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Giới hạn về nội dung:
Trong phạm vi luận án, chúng tôi tập trung nghiên cứu một số tính cách của
người Khmer là: Tính báo hiếu, tính tôn sùng Phật giáo và tính cộng đồng.
Giới hạn về khách thể nghiên cứu:
Đề tài khảo sát hai nhóm khách thể là nhóm người dân thuộc dân tộc Khmer
và nhóm cán bộ quản lý Phum sóc, thôn ấp nơi có người Khmer sinh sống.
Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu tại ba tỉnh vùng ĐBSCL nơi có nhiều đồng bào
Khmer sinh sống, bao gồm: An Giang, Trà Vinh và Kiên Giang.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Phương pháp quan sát.
Phương pháp phỏng vấn sâu.
Phương pháp tọa đàm.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Phương pháp thống kê toán học.
4
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Đóng góp về mặt lí luận:
Trên cơ sở phân tích và kế thừa lý thuyết về tính cách dân tộc, luận án đã
bổ sung thêm một số vấn đề lí luận về tính cách dân tộc, tính cách người Khmer:
khái niệm tính cách dân tộc, khái niệm tính cách người Khmer.
Luận án đã xác định ba mặt biểu hiện trong tính cách người Khmer (nhận
thức, xúc cảm và cách ứng xử) và tiêu chí đánh giá tính cách người Khmer, đó là
tính bền vững và tính phổ biến, làm cơ sở cho việc nghiên cứu và ứng dụng thực
tiễn. Luận án cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới tính cách người Khmer. Đây
chính là những đóng góp mới góp phần bổ sung cho lí luận của tâm lý học
dân tộc.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
Luận án đã khẳng định tính báo hiếu, tính tôn sùng Phật giáo và tính cộng
đồng là 3 tính cách của người Khmer vùng ĐBSCL, đồng thời chỉ ra một số biểu
hiện chủ yếu của những tính cách đó.
Trong hai yếu tố tác động được nghiên cứu (dư luận xã hội; cách thức tổ
chức hoạt động cộng đồng ), luận án đã chỉ ra yếu tố ảnh hưởng nhiều hơn là dư
luận xã hội.
Những kết quả nghiên cứu nêu trên sẽ góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn
cho việc xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các Phum sóc
người Khmer vùng ĐBSCL, thực hiện có hiệu quả hơn chính sách đoàn kết dân
tộc ở vùng này.
9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
I. Kant, với Thuyết nhân chủng học có phân định những cấp độ khác nhau
của tính cách: Tính cách cá nhân, tính cách giới, tính cách sắc tộc (bao gồm cả
tính cách dân tộc), tính cách của loài. I. Kant cho rằng tính cách các dân tộc có
thể có tính bẩm sinh, cũng có thể có tính tập nhiễm, được hình thành trong tiến
trình phát triển lịch sử của nó trong quá trình sống lâu dài cùng nhau và phủ
6
nhận các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tính cách dân
tộc của các tộc người khác nhau.
I.A. Ilin, nhà triết học Nga, trong cuốn sách “Con đường khôi phục tinh
thần”, khi bàn về chủ nghĩa yêu nước đã nhấn mạnh rằng tình yêu Tổ quốc là sự
gắn bó, trung thành với tinh thần dân tộc, với tính cách dân tộc, với tư cách đạo
đức và tôn giáo [46. tr 17, 18].Như vậy, tác giả nhìn nhận tính cách dân tộc dưới
góc độ của tinh thần yêu nước mà chưa đi sâu vào bản chất của tính cách dân tộc
Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một số công trình nghiên
cứu về tính cách dân tộc từ góc độ của tâm lý học xã hội, tâm lý học dân tộc.
Trước hết phải kể đến nghiên cứu của hai tác giả M. Lazarus (1824 – 1903) và
G.Steinthal (1823 – 1893) với tác phẩm “Suy nghĩ về Tâm lý học dân tộc”
(1859). Theo M.Lazarus và G.Steinthal, tâm hồn dân tộc là “cái chung của hoạt
động bên trong” của mỗi thành viên thuộc về một dân tộc và cũng là sự tự ý
thức, hay nói cách khác là sự đồng nhất về tộc người. Tinh thần dân tộc thể hiện
trong ngôn ngữ, phong tục tập quán, truyền thống, cử chỉ và hành vi. Tính cách
dân tộc được phản ánh trong tinh thần dân tộc. Ở đây, đôi khi tính cách dân tộc
được đồng nhất với tinh thần dân tộc [46. tr 17, 18].
Trong công trình “Tâm lý học dân tộc” gồm 20 tập, nhà tâm lý học người
Đức W.Wundt (1832 – 1920) đã coi nội dung của tâm hồn dân tộc là những biểu
tượng, những tình cảm, khát vọng của rất nhiều người. Tâm hồn dân tộc là biểu
hiện của tính cách dân tộc, là cái đặc trưng cho một dân tộc. Theo W.Wundt,
những biểu tượng chung của nhiều người thể hiện trước hết trong ngôn ngữ,
huyền thoại và phong tục, còn những thành phần khác của văn hóa tinh thần chỉ
xếp ở vị trí thứ hai [46, tr. 22 - 23]. Tác giả xem xét tính cách dân tộc gần đồng
học về tính cách dân tộc [16. tr 214]. Công trình nghiên cứu này kết hợp với các
công trình nghiên cứu của Morris Ginberg và Oa Klineberg nhằm xây dựng một
phương pháp nghiên cứu liên ngành, khoa học và mới mẻ về tính cách dân tộc.
8
Tuy nhiên, các nghiên cứu này lại mang tính kinh nghiệm nhiều là xây dựng
một lý thuyết mang tính hàn lâm về lý luận liên quan đến tính cách dân tộc.
Hai tác giả là Erich Fromm và David Riesman ( 1941) đã đưa ra mô hình về
“tính cách xã hội”. Ở đây, các tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của các nhân tố
xã hội – lịch sử và vai trò của các nhân tố xã hội – kinh tế trong sự hình thành cá
tính tập thể trong xã hội. Tính cách tập thể mà các tác giả này nói tới là biểu hiện
quan trọng của tính cách dân tộc.
Erich Fromm (1941) là người đã áp dụng khái niệm tính cách xã hội để chỉ
đặc điểm tâm lý cơ bản của các cá nhân tham gia cùng một văn hóa. Tác giả giải
thích sự thống nhất của ý thức xã hội bằng tính cách xã hội: “Để đảm bảo sự vận
hành suôn sẻ của một xã hội nhất định, các thành viên của nó phải đạt tới một kiểu
tính cách khiến cho họ muốn hành động với tư cách là thành viên của xã hội ấy
hay của giai cấp nhất định”. Theo nghĩa này, tác giả đã xem tính cách xã hội tạo
ra một tập hợp những nét cá tính và những giá trị văn hóa, được thành viên của
nhóm nhập tâm, mà tác giả chưa tách rõ tính cách xã hội và tính cách dân tộc.
David Riesman nhà nghiên cứu người Mỹ đã có cách tiếp cận xã hội – lịch
sử về tính cách dân tộc Trong tác phẩm “Đám đông cô đơn” (1950), D.Riesman
đã dùng thuật ngữ “tính cách dân tộc” để chỉ tất cả các thành tố của cá tính mà các
cá nhân đạt tới nhờ quá trình tập luyện trong cuộc đời và đóng một vai trò quyết
định trong sự duy trì các cấu trúc xã hội. Tác giả phân biệt ba kiểu tính cách xã hội
chủ yếu, mỗi kiểu tính cách xã hội quy định một kiểu xã hội, một kiểu cá tính: cá
tính truyền thống, cá tính hướng nội và cá tính hướng ngoại [78. tr 22 - 25]. Như
vậy, tác giả thông qua tính cách xã hội để đề cập đến tính cách dân tộc và chỉ ra
vai trò của tính cách dân tộc quy định kiểu xã hội. Có thể nói tác giả đã nhấn mạnh
vấn đề kiểu xã hội và kiểu cá tính khi đề cập đến tính cách dân tộc.
Trường phái nghiên cứu về những hình ảnh dân tộc và “khuôn mẫu dân
trong cư dân người lớn của một xã hội và quan niệm mỗi dân tộc đều có nhiều nét
cá tính đặc thù, nhưng để phân biệt tính cách dân tộc giữa các xã hội phải được
dựa vào phương thức phân bố những nét cá tính căn bản. Nghiên cứu của các tác
10
giả này đã mang lại một nền tảng tâm lí xã hội học cho sự xác định khái niệm cá
tính dân tộc và mở ra những triển vọng mới trong nghiên cứu tính cách dân tộc
của các xã hội hiện đại ngày nay. Trường phái này đưa ra hai loại khuôn mẫu dân
tộc là khuôn mẫu bên ngoài (nhìn nhận tính cách dân tộc từ bên ngoài) và khuôn
mẫu bên trong (nhìn nhận tính cách dân tộc từ bên trong). Các khuôn mẫu dân tộc
là những biểu tượng tinh thần tập thể có quan hệ với các nhóm dân tộc, được diễn
đạt bằng lời hoặc những xét đoán khuôn mẫu; Các tác giả đồng thời đặt ra những
trình độ phân tích khác nhau đối với mô hình chủ thể về cá tính dân tộc, đưa ra
nhiều phương pháp nghiên cứu khuôn mẫu dân tộc. Đối với những khuôn mẫu tập
thể lưu hành trong các phương tiện thông tin và truyền thông, họ sử dụng các
phương pháp phân tích về nội dung, còn đối với các khuôn mẫu cá nhân được các
thành viên của nhóm lưu hành và thể hiện thì họ sử dụng ba phương pháp: phương
pháp danh mục về phẩm chất (D.Katz, K. Braly; H.Esysenck và B.Crown),
phương pháp đối chiếu (W. Buchanan và H.Cantrill) và phương pháp các trường
ngữ nghĩa) (C.E. Osgood) [78. tr. 29, 39, 40, 41].
Những vấn đề bản sắc dân tộc, tính cách dân tộc cũng thu hút sự chú ý của
nhiều nhà lí luận Mac xit. I.X.Kon cho rằng, nếu hiểutính cách dân tộc là một bản
chất không thay đổi. Nó vốn sẵn trong tất cả mọi người của một dân tộc nhất
định. Bản chất ấy phân biệt họ với tất cả những nhóm tộc người khác và quyết
định một cách kín đáo hành vi xã hội của họ, thì theo khoa học đó chỉ có trong
huyền thoại. [46. tr 77, 78]. Tác giả đã phê phán cách nhìn nhận tính cách dân
tộc như một cái gì đó bất biến, có sẵn. Như vậy, tác giả dã thừa nhận tính cách
dân tộc không phải là một yếu tố tâm lý có sẵn nào của một dân tộc.
Một nghiên cứu khác về tính cách dân tộc là nghiên cứu của X.B.Luree
(1994). X.B.Luree có quan điểm về vùng trung tâm của tinh thần dân tộc. Điều
này đã gây ra được sự chú ý và tạo ra tiền đề nghiên cứu liên ngành. Luree đề
Montesquieu Chi (1689 – 1755) cho rằng con người bị quy định bởi vô vàn
12
các hiện tượng và sự vật: Khí hậu, tôn giáo, luật lệ, quản lí, phong tục, tập quán,
kinh nghiệm, quá khứ , và từ đó hình thành nên “tinh thần dân tộc”. [46 tr 15,
16]. Tác giả phát hiện ra đa yếu tố quy định đến tính cách dân tộc, nhưng chưa
nhìn nhận được mỗi dân tộc khác nhau chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố đặc
trưng khác nhau để hình thành nên tính cách của dân tộc đó.
Nhà triết học Đức J.G.Herder (1744 – 1803), đã đồng nhất các khái niệm
“tinh thần dân tộc”, “tâm hồn dân tộc”, “tính cách dân tộc” với nhau. Ông cho rằng,
tâm lí dân tộc hòa quyện với văn hóa và hình thành từ trong văn hóa [46, tr 16].
Ông nhấn mạnh sự phụ thuộc của thành tố tâm lí vào khí hậu, cảnh quan, nhưng bỏ
qua ảnh hưởng của lối sống và giáo dục, cấu trúc xã hội và lịch sử Theo ông, có
thể nhận biết tâm hồn dân tộc thông qua tình cảm dân tộc, ngôn ngữ, việc làm [73,
tr 47, 48]. Như vậy, Herder cho rằng đạo đức hay tính cách của mọi người trước hết
là sản phẩm của các điều kiện tự nhiên, cũng như của sự tiếp xúc của các dân tộc
với nhau, song tác giả đã bỏ qua điều kiện xã hội và yếu tố giáo dục.
A. Kardiner (1891 – 1981), nhà phân tâm học người Mĩ, nhấn mạnh mối
quan hệ giữa nhân cách và văn hóa, nhưng không đồng nhất chúng. Kardiner đưa
ra khái niệm nhân cách cơ bản và định nghĩa nó như là cấu trúc nhân cách chủ
yếu được hình thành bởi nền văn hóa cụ thể. Tác giả chưa chú ý đến điều kiện
địa lý, khí hậu, giáo dục gia đình cũng như những yếu tố tâm lý đặc trưng của
từng tộc người.
Năm 1953, M. Mead cho rằng “Những nghiên cứu về tính cách dân tộc là
một thử nghiệm nhằm tìm ra cách ứng xử văn hóa được nhận biết trong cấu trúc
nội tâm của các thành viên thuộc nền văn hóa ấy, bằng cách kết hợp lí thuyết văn
hóa và lí thuyết tâm lí thành một lí thuyết tâm lí – văn hóa mới để giải thích cách
thức con người chiếm lĩnh văn hóa, học tập và sống với nó” [78, tr 13].
Mặc dù những phân tích của G. Batason, G.Gorer, M. Mead về tính cách
dân tộc có sự khác nhau, song ba tác giả cho rằng tính cách dân tộc được hình
thành do môi truờng xã hội, tâm lý xã hội và niềm tin.
để nghiên cứu tính cách dân tộc.
c) Những nghiên cứu về tính cách dân tộc của các dân tộc khác nhau
Tính cách một số dân tộc như dân tộc Nga, dân tộc Mỹ, Anh, Nhật Bản
được một số nhà nghiên cứu quan tâm.
Nhà triết học Nga N.A. Beliaev cho rằng cơ sở hình thành tâm hồn Nga do
hai nguyên nhân đối lập nhau: Hiện tượng tự phát tự nhiên, ngôn ngữ và chính
thống giáo tu luyện khổ hạnh. Chính ở hình thức này ông nhìn thấy nguyên nhân
của việc dân tộc Nga có sự phân cực ở mức cao và sự pha trộn những yếu tố đối
lập: Chủ nghĩa vô chính phủ, tính tàn bạo, thiên hướng bạo lực – lòng tốt, tình
người, khiêm tốn – láo xược, trắng trợn, nô lệ – nổi loạn.
Các nghiên cứu về tích cách dân tộc Nga chủ yếu tập trung vào vấn đề
đồng nhất dân tộc. Họ quan tâm những điều kiện, hoàn cảnh thực tế dẫn đến ý
nghĩa của sự đồng nhất là khác nhau ở các nhóm người dân khác nhau. Sự đồng
nhất dân tộc ở Nga cũng có những biến đổi theo biến đổi của xã hội. [73, tr 134].
Năm 1942, Mead công bố một công trình nghiên cứu về tính cách dân tộc
Mỹ, đến năm 1944 bà công bố công trình tính cách dân tộc Anh qua phân tích
quan hệ giữa các nhóm quân đội Mỹ với người dân Anh và Năm 1946, Mead
công bố nghiên cứu của mình về xã hội Nhật Bản. Như vậy, tác giả nghiên cứu
khá kỹ về tính cách dân tộc của từng quốc gia riêng lẻ, tuy nhiên chưa khái quát
cao về tính đặc trưng của tính cách dân tộc dưới góc độ lý luận.
R. Benedict cũng có những công trình nghiên cứu về dân tộc Nhật và đã
giải thích tính cách của dân tộc Nhật trong tác phẩm nổi tiếng “Cây thánh giá và
thanh kiếm”. Bà cho rằng, một mặt, tồn tại ở người Nhật tình cảm tuyệt vời và
mặt khác, là sự phụng sự, sự hiến dâng cho nhà vua (tôn giáo). Benedict đưa ra ý
tưởng về sự tồn tại của bộ phận tích hợp bên trong nền văn hóa và gọi nó là
“Etocom của nền văn hóa” . Tác giả cho rằng nhân cách hoàn toàn được thành
hình bởi các khuôn khổ văn hóa, còn vấn đề mối liên hệ giữa văn hóa và nhân
cách như thế nào thì bà chưa đề cập đến.
15
Nhà nhân học Anh G. Gorer đã có nhiều công trình được công bố về tính cách
Năm 1913 – 1914, trên tờ Đông Dương tạp chí xuất hiện một loạt bài viết
của nhà nghiên cứu văn hóa Phan Kế Bính, sau gộp thành cuốn sách “Việt nam
phong tục” [5]. Tác giả phân tích về phong tục, tập quán của người Việt kèm theo
những bình luận về “tính tình” người Việt, chủ yếu về mặt đạo đức hơn là những
phân tích về các đặc điểm tâm lí, nhưng có liên quan ít nhiều đến tính cách dân tộc.
Tác giả Đào Duy Anh, trong tác phẩm “Việt Nam văn hóa sử cương”
(1943), có nhận xét về tinh thần người Việt với những nét tính cách cả tốt lẫn
xấu như: Lỗi lạc, phi thường, giàu trực giác, thích văn chương phù hoa, chịu
khó, chậm chạp, giỏi chịu đau đớn, tính khí hơi nông nổi, ưa hình thức, thường
thì nhút nhát nhưng khi ngộ sự cũng biết hy sinh vì đại nghĩa, trọng lễ giáo…
[2, tr 23]
Tác giả Trần Trọng Kim, trong cuốn “Việt Nam sử lược”, có bàn luận về
tính tình người Việt với cả những nét tính cách tích cực và hạn chế như cần cù
lao động, thông minh sáng tạo, khéo léo, ham học hỏi, tiết kiệm, đoàn kết và tư
hửu, du di, nói khích, khoe khoang, khôn vặt… [39.]. Tuy nhiên nghiên cứu của
tác giả mang nặng tính mô tả các nét tính cách hơn là hệ thống mang tính khẳng
định về tính cách của một dân tộc
Tác giả Nguyễn Văn Huyên, trong “Góp phần nghiên cứu Văn hóa Việt
Nam”, nhấn mạnh những đức tính quý báu như: Cần cù, nhẫn nại, nếp nghĩ nặng
về cảm tính, khả năng chịu đựng cao, đầu óc thực tế, dũng cảm, tế nhị, hài hước,
yêu chuộng độc lập, tự do, ý thức dân tộc mạnh mẽ. Song trong tính cách của
người Việt cũng có một số mặt xấu như: Tính tự ái bệnh, sĩ diện, lối học nhồi
nhét kiến thức, ưa danh vọng [33].
Các công trình này chủ yếu mô tả các biểu hiện cụ thể nói lên tính cách
của người Việt ở các khía cạnh tốt, xấu và các tác giả cũng đã khái quát thành
“tính chất”, “tinh thần” và “tính” – một cách diễn đạt về tính cách theo thuật ngữ
hiện đại.
17
Tác giả Bùi Quốc Châu, trong bài viết “Suy nghĩ về đặc tính dân tộc Việt
Nam” có liệt kê 46 nét tính cách của người Việt, trong đó có cả nét tính cách tích