TRƯỜNG ĐH SPKT HƯNG YÊN
KHOA KINH TẾ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hưng Yên, ngày 15 tháng 9 năm 2017
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
1. Người hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỵ
Đơn vị công tác: Trường Đại học Hải Phòng.
2. Học viên thực hiện: Nguyễn Đức Thông
Mã học viên: H0916055
3. Tên đề tài luận văn: “Tăng cường quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc
tại Bảo hiểm xã hội quận Dương Kinh, Thành phố Hải Phòng”.
4. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội, khi định hướng
phát triển các lĩnh vực về chính sách giải quyết một số vấn đề xã hội. Từ Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định quan điểm phải giải
quyết tốt việc "Thực hiện và hoàn thiện chế độ Bảo hiểm xã hội, bảo đảm đời
sống người nghỉ hưu được ổn định, từng bước được cải thiện", đến nay khi luật
số 58/2014/QH13 thông qua và có hiệu lực sẽ giữ vai trò trụ cột, bền vững
trong hệ thống an sinh xã hội, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành
viên trong xã hội, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong
một thể chế chính trị - xã hội bền vững.
Qua các năm thực hiện số lao động tham gia BHXH tăng hàng năm
khoảng 7,5%, số thu BHXH tăng bình quân khoảng 10% và hình thành quỹ
BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.Hiện nay, trong khu vực doanh nghiệp
đặc biệt là doanh nghiệp ngoài nhà nước thì số lượng lao động, đơn vị sử dụng
lao động tham gia BHXH còn hạn chế nếu không muốn nói là chiếm tỷ lệ rất
mặt còn hạn chế để đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý
thu BHXH trong hiện tại và tương lai để đạt mục tiêu mọi người lao động thuộc
2
diện phải tham gia BHXH bắt buộc được tham gia BHXH và đảm bảo thực hiện
các quy định của Nhà nước về BHXH có hiệu quả.
* Câu hỏi nghiên cứu
- Trong những năm qua chính sách quản lý công tác thu bảo hiểm xã hội
bất buộc tại quận Dương Kinh có những ưu điểm và hạn chế gì?
- Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng nợ đọng và tỷ lệ phát triển đối
tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không ổn định trong quản lý thu bảo
hiểm xã hội bắt buộc tại quận Dương Kinh ?
- Bảo hiểm xã hội quận Dương Kinh cần phải có những giải pháp nào để
hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời gian tới.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.Đánh giá thực trạng công tác thu bảo hiểm
xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Dương Kinh.
Chương 3: Biện pháp tăng cường quản lý công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc
trên địa bàn quận Dương Kinh.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁCTHU BẢO HIỂM XÃ HỘI
BẮT BUỘC
1.1. Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.1.1. Lịch sử ra đời, quan niệm về BHXH và BHXH bắt buộc
- Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm xã hội
Trong quá trình tồn tại và phát triển, nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết
chủ cũng yên tâm phát triển sản xuất, tránh được tình trạng mất ổn định.
Những mối quan hệ giữa giới chủ và người làm thuê được thể hiện trong
mối quan hệ chặt chẽ nêu trên được thế giới quan niệm là bảo hiểm xã hội cho
người lao động. Điều này chứng tỏ BHXH ra đời là một yếu tố tất yếu khách
quan.
- Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc
4
a. Một số khái niệm về bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm nói chung và Bảo hiểm xã hội nói riêng đã hình thành rất sớm
trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và đã được nhiều nhà khoa học đề
cập và nghiên cứu một cách sâu sắc dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về BHXH. Bởi lẽ,
BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế,
xã hội, pháp lý,... Do đó, hiện nay còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về
BHXH, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu của các nhà khoa học.
Theo từ điển Bách khoa: "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp
một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp,
tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên
tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo,
an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm
bảo an toàn xã hội".
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như sau:
“BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông
qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về
kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây
ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và
chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”.
xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động bắt
buộc phải tham gia.
b. Quỹ BHXH bắt buộc
+ Nguồn hình thành: Người sử dụng lao động đóng theo quy định; Người
lao động đóng theo quy định; Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ; Hỗ trợ
của Nhà nước; Các nguồn thu hợp pháp khác.
+ Các quỹ thành phần: Quỹ ốm đau và thai sản; Quỹ tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp; Quỹ hưu trí và tử tuất.
+ Sử dụng quỹ: Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo
quy định; Đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc
6
hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng, thất nghiệp; Chi
phí quản lý; Chi khen thưởng theo quy định; Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng
quỹ theo quy định.
c. Một số khái niệm về thu BHXH và quản lý thu BHXH
- Thu BHXH là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối
tượng tham gia BHXH bắt buộc phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc
cho phép một số đối tượng tự nguyện tham gia lựa chọn mức đóng và phương
thức đóng phù hợp với thu nhập của mình. Trên cơ sở đó hình thành một quỹ
tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho an sinh xã hội.
- Quản lý thu BHXH là quy trình thu của cơ quan BHXH, xác nhận chính
xác số lao động, số tiền phải thu, số tiền đã nộp, số tiền lãi, số tiền nợ, số tiền
nộp thừa của người sử dụng lao động; các dữ liệu vê nhân thân, thời gian nộp,
mức tiền lương, tiền công nộp BHXH của người lao động, đồng thời xác nhận
việc thực hiện chính sách, chế độ BHXH của cơ quan BHXH đối với đơn vị sử
dụng lao động và người tham gia BHXH từng thời điểm và theo yêu cầu quản
lý. Tình hình chấp hành các nguyên tắc, quy định của Nhà nước về thu BHXH
và một số nội dung khác.
tinh thần.
BHXH bắt buộc có những đặc điểm sau:
Một là, Mục đích hoạt động của BHXH không vì lợi nhuận mà vì quyền
lời của người lao động và của cả cộng đồng. BHXH bắt buộc hình thành là do
mối quan hệ giữa người chủ sử dụng lao động và người lao động. Người chủ sử
dụng lao động và người lao động cùng tham gia và cùng được hưởng các chế độ
BHXH.
Hai là, trong BHXH bắt buộc, việc phân phối sử dụng quỹ được chia thành
2 phần
+ Phần thực hiện chế độ hưu trí mang tính chất bồi hoàn. Mức bồi hoàn
phụ thuộc vào mức đóng góp vào quỹ BHXH.
+ Các chế độ còn lại vừa mang tính chất bồi hoàn vừa không bồi hoàn.
Nghĩa là người lao động trong quá trình tham gia không bị ốm đau, tai nạn thì
không được bồi hoàn và ngược lại.
8
Ba là, BHXH bắt buộc hoạt động theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số
đông bù cho số ít" tức là dùng số tiền đóng góp nhỏ của số đông người tham gia
BHXH để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng
góp của từng người trong trường hợp họ gặp rủi ro.
Bốn là, hoạt động BHXH bắt buộc là một loại hoạt động dịch vụ công,
mang tính xã hội cao; lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Đây là điểm
khác biệt rõ rệt của BHXH bắt buộc so với các loại hình BH mang tính kinh
doanh khác.
- Nguyên tắc của BHXH bắt buộc
BHXH bắt buộc có những nguyên tắc hoạt động mang tính phổ biến và
nhất quán đó là:
Thứ nhất, Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian
đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH.
gia BHXH có nghĩa tinh thần rất lớn cho người lao động, giúp họ yên tâm công
tác, lạc quan trong cuộc sống, dồn hết tâm sức trong công việc.
1.1.3.2. Vai trò của BHXH bắt buộc đối với xã hội
Thứ nhất, mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân nói chung cũng như
giữa Nhà nước và người sử dụng lao động, người lao động không ngừng được
tăng cường, gắn kết chặt chẽ.
Thứ hai, BHXH giúp cho mọi người có điều kiện đảm bảo cuộc sống, đặc
biệt đối với những người có hoàn cảnh bất hạnh. BHXH thể hiện chủ nghĩa
nhân văn mình vì mọi người.
Thứ ba, BHXH đã giúp cho xã hội phát triển bền vững, thể hiện tinh thần
chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau, lá lành đùm lá rách, thể hiện truyền thống tương thân
tương ái.
Thứ tư, BHXH bắt buộc chính là một trong những công cụ giúp cho việc
bình đẳng xã hội. Vì bên cạnh việc tạo điều kiện cho người lao động yên tâm
công tác, đảm bảo cuộc sống thì BHXH bắt buộc còn là công cụ để phân phối
lại thu nhập trong cộng đồng.
1.1.3.3. Vai trò BHXH bắt buộc đối với nền kinh tế thị trường
10
Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường, việc phân hóa giàu nghèo càng trở
nên rõ nét, kèm theo đó là sự bất bình đẳng trong thu nhập, trong các ngành
nghề khác nhau giữa các tầng lớp trong xã hội. Có một thực tế là, trong cuộc
sống đôi khi những rủi ro sẽ xảy ra bất kể lúc nào và đối với bất kể ai, đặc biệt
là rơi vào những người có hoàn cảnh khó khăn thì chính cuộc sống của họ sẽ
được chia sẻ, giúp đỡ bởi chính sách BHXH.
Thứ hai, về phía doanh nghiệp, những rủi ro mà người lao động gặp phải
đã được cơ quan BHXH chi trả, vì vậy doanh nghiệp sẽ không lo về vấn đề tài
chính. Với tình hình tài chính được ổn định, doanh nghiệp tập trung vào sản
xuất kinh doanh. Chính vì vậy, hệ thống BHXH đã tạo tiền đề cho phát triển
hưởng BHXH nhằm đạt mục tiêu quản lý của mình.
1.2.2.2 Công tác tổ chức thực hiện thu BHXH bắt buộc
a. Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Luật BHXH đã quy định cụ thể các đối tượng và các đơn vị thuộc diện
phải tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm người lao động là công dân Việt Nam
và người sử dụng lao động:
* Người lao động tham gia BHXH bắt buộc gồm:
- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp
đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một
công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp
đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo
pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
- Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến
dưới 03 tháng (áp dụng từ ngày 01/01/2018);
- Cán bộ, công chức, viên chức;
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác
trong tổ chức cơ yếu;
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan
nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người
làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
12
- Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân
dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được
hưởng sinh hoạt phí;
- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có
vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này tính trên mức
lương cơ sở.
Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc quy định tại điểm này bao gồm cả
hệ số chênh lệch bảo lưu theo quy định của pháp luật về tiền lương.
+ Người lao động là Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường,
thị trấn thì tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương cơ sở.
- Tiền lương do đơn vị quyết định
+ Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức lương và phụ cấp lương
(Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2017 theo quy định tại Khoản 1 và Điểm a
Khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 của
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về
HĐLĐ, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP
ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
nội dung của Bộ luật lao động)
Phụ cấp lương theo quy là các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về
điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ
thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong HĐLĐ chưa được tính đến
hoặc tính chưa đầy đủ như phụ cấp chức vụ, chức danh; phụ cấp trách nhiệm;
phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên; phụ cấp khu vực;
phụ cấp lưu động; phụ cấp thu hút và các phụ cấp có tính chất tương tự.
+ Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc không bao gồm các khoản chế
độ và phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật lao
động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện
14
thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có
thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người
lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng
tương đương, làm việc trong điều kiện lao động bình thường.
* Phương thức và mức đóng BHXH bắt buộc
Mức đóng BHXH không được thấp hơn mức lương tối thiểu chung và
không vượt quá 20 lần mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng.
- Đóng BHXH hàng tháng: Theo phương thức đóng BHXH này, chậm nhất
đến ngày cuối cùng trong tháng, đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm phải
đóng BHXH cho người lao động vào tài khoản của cơ quan BHXH
- Đóng 03 tháng hoặc 06 tháng một lần: Đơn vị là doanh nghiệp, hợp tác
xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì đóng
theo phương thức hằng tháng hoặc 03 tháng, 06 tháng một lần. Chậm nhất đến
ngày cuối cùng của phương thức đóng, đơn vị phải chuyển đủ tiền vào quỹ
BHXH.
Trong khoảng thời gian khi cơ quan BHXH thực hiện việc truy đóng
BHXH, người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm bồi hoàn chi phí cho
người lao động nếu người lao động bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp, mức truy đóng được tính theo mức lương tối thiểu tại thời điểm
truy đóng.
Trụ sở chính của đơn vị sử dụng lao động đóng ở địa bàn nào thì Đơn vị
đăng ký tham gia BHXH tại địa bàn đó. Chi nhánh của đơn vị đóng BHXH tại
địa bàn nơi cấp giấy phép hoạt động cho chi nhánh.
Người lao động thuộc đối tượng tự đóng BHXH thì thực hiện đóng BHXH
tại cơ quan BHXH quận, huyện nơi cư trú.
16
- Hàng tháng, người lao động đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ hưu trí và
tử tuất như sau:
+ Từ tháng 01 năm 2007 đến tháng 12 năm 2009 mức đóng bằng 5% mức
lao động đi làm việc ở nước ngoài. Doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người
lao động đi làm việc ở nước ngoài thu nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động
và đăng ký phương thức đóng với tổ chức bảo hiểm xã hội hoặc người lao động
đóng qua cơ quan, tổ chức, đơn vị mà người lao động đã tham gia bảo hiểm xã
hội hoặc đóng trực tiếp với tổ chức bảo hiểm xã hội nơi cư trú của người lao
động trước khi đi làm việc ở nước ngoài.
Trường hợp người lao động được gia hạn hợp đồng hoặc ký hợp đồng mới
ngay tại nước tiếp nhận lao động thì thực hiện đóng bảo hiểm xã hội theo
phương thức quy định tại Điều này hoặc truy nộp cho tổ chức bảo hiểm xã hội
sau khi về nước.
- Mức đóng và phương thức đóng của người sử dụng lao động: Hằng
tháng, người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng
bảo hiểm xã hội của những người lao động mà đơn vị sử dụng:
+ Mức đóng vào quỹ ốm đau và thai sản bằng 3%; Hằng quý, người sử
dụng lao động có trách nhiệm quyết toán với tổ chức bảo hiểm xã hội.
+ Mức đóng vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bằng 1% (Thực
hiện Luật BHXH sửa đổi năm 2014 số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014, Luật vệ
sinh an toàn lao động số 84/2015/QH13 ngày 26/6/2015 từ 01/7/2017 mức đóng
bằng 0.5%);
+ Mức đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất như sau:
Từ tháng 01 năm 2007 đến tháng 12 năm 2009 mức đóng bằng 11%;
Từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011 mức đóng bằng 12%;
Từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013 mức đóng bằng 13%;
Từ tháng 01 năm 2014 trở đi mức đóng bằng 14%.
+ Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng theo mức đóng quy định và
trích từ tiền lương, tiền công tháng của người lao động theo mức đóng để đóng
cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.
18
- Cơ quan BHXH: Nhận hồ sơ trực tiếp tại bộ phận 1 cửa cơ quan BHXH
Quận hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc giao dịch điện tử (nếu có). Kiểm tra giấy
tờ hồ sơ, kiểm tra số lượng, tính hợp pháp nếu đúng theo quy định thì tiến hành
hoàn thiện các thủ tục để trả cho đơn vị. Trường hợp có sai sót thì hướng dẫn
đơn vị sử dụng lao động hoàn thiện, bổ sung các chứng từ theo đúng quy định.
* Lập và giao kế hoạch thu BHXH bắt buộc
- Bảo hiểm xã hội quận, huyện: căn cứ vào tình hình thực hiện của năm
trước, 06 tháng đầu của năm và dựa vào khả năng mở rộng, phát triển đối tượng
trên địa bàn, lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN năm sau (Mẫu
K11-TS) gửi 01 bản đến BHXH thành phố trước ngày 10/6 hàng năm.
- Bảo hiểm xã hội thành phố: Phòng Thu lập 02 bản kế hoạch thu BHXH,
BHYT, BHTN; Phối hợp với các phòng có liên quan lập kế hoạch kinh phí hỗ
trợ công tác thu đối với các đối tượng do thành phố trực tiếp thu; tổng hợp toàn
thành phố, lập 02 bản kế hoạch thu BHXH, BHYT (Mẫu K01-TS), gửi BHXH
VN 01 bản trước ngày 15/6 hàng năm.
d. Công tác quản lý thu BHXH bắt buộc
BHXH tỉnh và BHXH quận, huyện không được phép sử dụng tiền thu
BHXH vào bất cứ mục đích gì. Trường hợp đặc biệt, nếu sử dụng thì phải có ý
kiến bằng văn bản của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam.
Định kỳ hàng quý, BHXH tỉnh, thành phố ( Phòng Kế hoạch – Tài chính)
và BHXH quận, huyện gửi thông báo quyết toán cho Phòng Thu hoặc bộ phận
Thu.
Định kỳ 6 tháng hoặc hàng năm, BHXH Việt Nam tiến hành thẩm định số
thu BHXH đối với BHXH tỉnh.
* Phân cấp quản lý thu BHXH bắt buộc
- BHXH Việt Nam (Ban Thu BHXH) chịu trách nhiệm tổng hợp, phân loại
đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức, quản lý thu
20
- Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội được quy định như sau:
21
+ Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định, cụ thể
như sau:
Quỹ ốm đau và thai sản trả chế độ ốm đau, thai sản; Quỹ tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp trả chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Quỹ hưu trí và
tử tuất trả chế độ hưu trí, tử tuất.
+ Đóng bảo hiểm y tế từ các quỹ thành phần sau:
Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đóng bảo hiểm y tế cho người
nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng;
Quỹ hưu trí và tử tuất đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng lương
hưu.
Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi khen thưởng người sử dụng
lao động thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, phòng ngừa tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp.
+ Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội.
+ Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định.
+ Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc hàng năm được trích từ tiền
sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
Hằng năm, ngân sách Nhà nước cấp đủ, kịp thời cho Bảo hiểm xã hội Việt
Nam khoản kinh phí để thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế cho các đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội trước ngày 01
tháng 01 năm 1995, bao gồm các khoản: Lương hưu; Trợ cấp mất sức lao động;
Trợ cấp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; người phục vụ người
bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trang cấp dụng cụ cho người bị tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp; Trợ cấp công nhân cao su; Tiền tuất và mai táng
phí; Đóng bảo hiểm y tế theo chế độ; Lệ phí chi trả; Các khoản chi khác (nếu
có).
Đây là nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến cơ chế thu BHXH
và kết quả thu BHXH bắt buộc. Thực tế cho thấy, những nơi có nguồn thu
BHXH lớn là những địa phương có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn
so với nơi khác.
23
Mặt khác, nếu hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thì người sử
dụng lao động cũng sẽ tự giác, có trách nhiệm với nguồn nhân lực của doanh
nghiệp, nên sẽ có ý thức nộp đúng, nộp đủ nghĩa vụ đóng góp BHXH bắt buộc
của họ cho người lao động.
c. Năng lực tổ chức, quản lý, điều hành, thực hiện công tác thu BHXH bắt
buộc
Đây là nhân tố phản ánh trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác quản
lý, điều hành, khai thác nguồn thu của cơ quan BHXH; là quá trình vận dụng,
triển khai chủ trương, chính sách BHXH bắt buộc để tổ chức thực hiện vào mỗi
địa phương theo những mục tiêu đã định.
Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy được thiết lập hoàn chỉnh, vận hành đồng bộ,
từng bộ phận thực hiện tốt chức năng và quyền hạn trách nhiệm của mình thì
công tác thu BHXH sẽ đạt kết quả tốt.
d. Trình độ nhận thức và ý thức trách nhiệm của người tham gia BHXH bắt
buộc
Quỹ BHXH bắt buộc được hình thành từ việc đóng BHXH của người sử
dụng lao động và người lao động, được quản lý thống nhất, tập trung, độc lập
với ngân sách nhà nước và được Nhà nước bảo hộ. Thực tế cho thấy, số người
tham gia BHXH bắt buộc chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong tổng số lao
động xã hội.
Bên cạnh đó, nguồn thu BHXH còn chịu ảnh hưởng lớn từ ý thức trách
nhiệm của người sử dụng lao động. Hiện tượng trốn tránh đóng BHXH bắt buộc
cho người lao động và số tiền nợ đọng của các chủ doanh nghiệp lên tới con số
thu BHXH.
Đặc biệt, ngày 29 tháng 6 năm 2006, Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Bảo hiểm Xã hội; Mặt khác, để
phù hợp với tình hình kinh tế phát triển của đất nước Chính phủ tiếp tục quy
định đối tượng lao động hợp tác có thời hạn ở nước ngoài theo quy định tại
Nghị định số 152/2000/NĐ-CP; các chức danh thuộc xã phường, thị trấn theo
quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 20/10/2009
25