đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của mặt trận tổ quốc việt nam và các đoàn thể chính trị xã hội trong thời kỳ mới - Pdf 49

MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................1
MỞ ĐẦU..............................................................................................................2
NỘI DUNG...........................................................................................................3
I. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và yêu cầu về sự lãnh đạo của
Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội...........................3
1.1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta........3
1.2. Yêu cầu về sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức chính trị - xã hội hiện nay.........................................................................7
II. Thực trạng sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức chính trị - xã hội........................................................................................8
2.1. Ưu điểm trong sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội trên những mặt chủ yếu sau đây:..................................................8
2.2. Những hạn chế..............................................................................................15
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế:................................................................17
III. Tính tất yếu khách quan của việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động
của mặt trận tổ quốc việt nam và các đoàn thể chính trị-xã hội trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước...................................................17
3.1. Những yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển đất nước................................17
3.2. Xuất phát từ nhu cầu của quần chúng, của đoàn viên, hội viên đối với việc
đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể
chính trị-xã hội....................................................................................................19
IV. Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động của mặt trận tổ quốc việt nam và các đoàn thể chính trị xã hội trong thời kỳ mới......................................................................................20
4.1. Quan điểm....................................................................................................20
4.2. Mục tiêu........................................................................................................20
4.3. Nhiệm vụ và những giải pháp......................................................................20
KẾT LUẬN........................................................................................................26
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................27

1

nhiên, Đảng ta cũng thẳng thắn chỉ ra rằng: “Phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trên một số
nội dung chưa rõ, chậm đổi mới”.
Thực tiễn đang đặt ra một cách cấp thiết phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn
thể nhân dân ở nước ta hiện nay.

2


NỘI DUNG
I. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và yêu cầu về sự lãnh
đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc trước kia cũng như trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, việc phát huy sức mạnh toàn dân tộc
bằng con đường tập hợp, lãnh đạo mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ trong Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chinh trị - xã hội luôn luôn là chủ trương nhất quán
của Đảng Cộng sản Việt Nam, là kinh nghiệm lớn của Đảng trong quá trình lãnh đạo
nhân dân ta kể từ khi thành lập Đảng cho đến nay.
Ngày nay, trong công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế lại càng cần tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức này.
Điều lệ Đảng CSVN khoá XI khẳng định “Đảng lãnh đạo, tôn trọng và phát
huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã
hội".
Các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta bao gồm Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức chính trị - xã hội khác như: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội
nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam.
Khái niệm tổ chức chính trị - xã hội được dùng đồng nghĩa với khái niệm

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
* Tính chất của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội
- Tính xã hội:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội không phải là
đảng chính trị, cũng không phải là tổ chức quyền lực nhà nước, mà là tổ chức xã
hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phải tìm tòi nội
dung, phương thức phong phú, mở rộng môi trường hoạt động rộng rãi và tạo
điều kiện để phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.
- Tính chính trị:
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đều hoạt động theo
đường lối chính trị do Đảng đề ra chịu sự lãnh đạo về chính trị của Đảng nên
mang tính chính trị. Tình ái hữu - cộng đồng: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
tổ chức chính trị - xã hội tập hợp các tầng lớp nhân dân cùng nhau tự nguyện
tiến hành các hoạt động theo mục tiêu chung của tổ chức và đoàn thể mình. Tính
ái hữu - cộng đồng thể hiện ờ tính tự nguyện cùng nhau hành động, không vì
mục tiêu vụ lợi.
- Tính nghiệp đoàn:
Tính nghiệp đoàn là tính đặc thù của đoàn thể nhân dân gắn với xu thế
phát triển của kinh tế thị trường. Không thể coi các tổ chức chính trị - xã hội chỉ
gắn với mục tiêu chính trị, mà nó còn gắn với thị trường trong tình hình mới
hiện nay.
* Vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
trong nền kinh tế thị trường
Trong điều kiện một nền kinh tế thị trường, Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức chính trị - xã hội có vai trò xã hội rất quan trọng, đó là:
- Thứ nhất, vai trò tham gia bảo vệ và phát triển chế độ xã hội.
+ Trong nền kinh tế thị trường, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội đều đóng vai trò tập hợp mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ nhằm xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, tham gia bảo vệ và phát triển xã hội.


sử, xã hội đã tồn tại chức năng điều tiết của tôn giáo, đạo đức và dư luận, khi
nhà nước ra đời đã hình thành chức năng điều tiết của pháp luật. Trong xã hội ta
ngày nay, vai trò điều tiết xã hội của Mặt trận Tồ quốc và các đoàn thể xã hội
ngày càng tăng lên, thông qua các hoạt động giám sát và phản biện xã hội. Xã
hội phát triển đi lên ngày càng có nhu cầu và có thêm nhiều khả năng để thực
hiện giám sát và phản biện xã hội.
+ Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính
trị - xã hội sẽ góp phần hoá giải các mâu thuẫn, điều tiết các quan hệ xã hôi, tạo
nên sự đồng thuận và đoàn kết ngày một cao hơn. Đây là một công cụ của nhân
dân để thực hiện vai trò làm chủ xã hội, giám sát quyền lực, góp phần ngăn ngừa
sự tha hoá quyền lực.
* Một số đặc điểm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội ở nước ta

5


Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta có những đặc
điểm riêng do hoàn cảnh lịch sử tạo nên. Những đặc điểm đó là:
- Một là, được thành lập từ rất sớm gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản và có truyền thống đấu tranh cách mạng lâu dài.
+ Các tổ chức này ở nước ta ra đời từ rất sớm trong cuộc đấu tranh của dân
tộc đang bị áp bức nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thế lực
đế quốc, phong kiến ngay từ đầu thế kỷ XX. Những tổ chức chính trị của những
thanh niên yêu nước như Việt Nam Quang phục hội, sau đổi thành Tâm tâm xã
đã hoạt động ở nước ngoài..., tổ chức tiền thân của Đảng cũng là một tổ chức
của Thanh niên. Như vậy là một số tổ chức yêu nước của quần chúng ở nước ta
đã ra đời trước khi thành lập Đảng Cộng sản.
+ Ngay từ khi mới ra đời Đảng Cộng sản đã đặt trọng tâm hoạt động của
mình vào công tác xây dựng và lãnh đạo các tổ chức quần chúng. Đa số các tổ


đứng trên các thành viên khác. Sự tinh tế của đặc điểm này chính là nét riêng có
của Mặt trận Tổ quốc.
+ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức cộng sản trẻ tuổi,
là đội hậu bị của Đảng. Điều lệ Đảng có một chương riêng nói về quan hệ giữa
Đảng và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Đảng trực tiếp lãnh đạo
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, không thông qua tổ chức Đảng đoàn.
1.2. Yêu cầu về sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hiện nay
Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu đặt ra về sự lãnh đạo của Đảng với Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội rất cao, đó là:
Một là, Đảng phải coi lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức chính trị - xã hội là con đường cơ bản để tập hợp lực lượng quần chủng
trong xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
Đe phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, phải tập hợp nhân dân thành
các tổ chức, vì sức mạnh của tổ chức sẽ nhân lên nhiều lần sức mạnh của cá
nhân riêng rẽ. Đó là con đường cơ bản để Đảng tập hợp lực lượng quần chúng
trong bảo vệ và xây dựng đất nước. Kinh nghiệm đó chẳng những đúng trong
thời kỳ đấu tranh cách mạng trước đây mà cũng rất cần thiết trong tình hình hiện
nay khi nhân dân ta đang phải phát huy cao độ sức mạnh toàn dân tộc để trờ
thành động lực chủ yếu cho sự phát triển đất nước.
Hai là, Đảng cần phải lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
chính trị - xã hội bằng phương pháp dân chủ, đi theo đường lối quần chúng.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội là tổ chức của
dân, phục vụ cho dân, bênh vực quyền lợi của dân. Muốn cho dân tôn trọng
Đảng thì Đảng trước hết phải tôn trọng dân. Đảng tôn trọng dân thì tất yểu phải
tôn trọng các tổ chức của dân. Phương pháp lãnh đạo của Đảng đối với các tổ
chức là phương pháp dân chủ, đi theo đường lối quần chúng, tôn trọng Điều lệ
của các tổ chức quần chúng. Đảng khuyến khích và phát huy cao độ tính chủ
động sáng tạo của các tổ chức này. Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, áp đặt hoặc bao

nước và nhân dân, song cấp cơ sở hiện nay cũng đang còn nhiều yếu kém và gặp
rất nhiều khó khăn, trong đó có cả khó khăn do các cấp trên cơ sở tạo ra.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội ở
cơ sở giữ vai trò quan trọng. Đó chính là sự lãnh đạo của chi bộ, Đảng bộ cơ sở
nhằm giữ vững mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị
vững mạnh, thúc đẩy các phong trào hành động thực hiện vai trò lảm chủ của
người dân.
II. Thực trạng sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
Gần một thế kỷ, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức nói riêng không ngừng được giữ vững và đổi mới.
Đó là nhờ Đảng có đường lối chính trị đúng đắn và phương thức lãnh đạo phù
hợp đã biến đường lối, quan điểm của Đảng thành hiện thực, thành hành động
cách mạng của toàn dân, tạo nên những thắng lợi vẻ vang. Tuy nhiên, ngày nay
khi có chủ trương phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đã đặt ra
nhiều vấn đề mới về sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức
chính trị - xã hội.
2.1. Ưu điểm trong sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và
các tổ chức chính trị - xã hội trên những mặt chủ yếu sau đây:
2.1.1. Đổi mới quan điểm lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
- Đảng nhất quán khẳng định “Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì
dân”. Thực tiễn công cuộc đổi mới đã chứng minh sự nhất quán quan điểm đó.
Quan điểm này được thể hiện trong mọi chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta, nhằm mục tiêu vì cuộc sống ấm no và hạnh phúc của nhân dân.

8


Trong khi xây dựng và thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và

thức tập hợp nhân dân cho phù hợp với những thay đổi trong xã hội.
+ Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế thị trường, cơ cấu xã hội và cơ
cấu giai cấp đã có nhiều thay đổi, nhu cầu về lợi ích của các tầng lớp xã hội, nhu
cầu liên minh, liên kết xã hội rất đa dạng và phong phú. Vì vậy, để phát huy sức
mạnh của nhân dân trong xây dựng cuộc sống mới cần phải có nhiều hình thức
tập hợp mới.
+ Trình độ mọi mặt của các tầng lớp nhân dân ngày nay đã thay đổi và
không đồng nhất, các hình thức tập hợp nhân dân cần đa dạng cho phù hợp với
các đổi tượng khác nhau. Theo tinh thần đó, trong những năm qua, việc đa dạng
9


hoá các hình thức tập hợp nhân dân thể hiện trên nhiều mặt: đa dạng hoá về tổ
chức, ngoài việc tập hợp và tổ chức quần chúng theo các tổ chức truyền thống,
đã tập hợp mọi tầng lớp nhân dân vào các hình thức dân sự mới như các hội,
hiệp hội, câu lạc bộ, các loại quỹ, các ban liên lạc, các hoạt động tham quan, du
lịch, văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao... Việc tập hợp quần chúng theo nghề
nghiệp, nguyện vọng, sở thích... đã và đang phát triển rất nhanh chóng. Đến nay,
theo thống kê chưa đầy đủ, đã có trên 300 hội quần chúng ở quy mô toàn quốc,
hàng ngàn hội ở địa phương và khoảng hơn 200 hội và hiệp hội ngành nghề.
Chưa bao giờ các tổ chức dân sự phát triển nhiều như những năm qua và đang
có xu hướng ngày càng gia tăng trên khắp mọi miền, mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội.
- Xác định trách nhiệm lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức chính trị - xã hội của cả hệ thống chính trị các cấp.
+ Theo quan niệm truyền thống, lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội thường được coi chỉ là của Đảng, nhưng hiện nay trong điều
kiện đảng cầm quyền, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân chủ yếu phải thông
qua Nhà nước, bằng hệ thống luật pháp, chính sách và được thể hiện bằng trình
độ, năng lực và đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.

cực tham gia giám sát và phản biện xã hội, góp phần đấu tranh với tham nhũng,
tiêu cực, tha hoá của những cán bộ trong hệ thống chính tri, làm mất lòng tin của
nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã lựa chọn, giới thiệu những người xứng
đáng để nhân dân bầu làm đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, giảm dần lối
bao biện làm thay của tổ chức Đảng và cơ quan chính quyền. Những tiến bộ
trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các đoàn thể nhân dân tác động tuy còn khiêm tốn, nhưng là những bước đổi
mới trong hoạt động thực tế của các tổ chức này. Đại hội XI đã đề ra chủ trương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội đối với
quá trình xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước, kể cả công tác tổ chức cán bộ. Đó là một bước tiến quan trọng
trong đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, mở ra
một triển vọng phát triển mới để phát huy vai trò, nhiệm vụ của tổ chức này
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta giai đoạn
hiện nay và những năm tiếp theo.
+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã đưa
hoạt động của tổ chức mình về cơ sở, chăm lo xây dựng tổ chức, bồi dưỡng cán
bộ, gắn bó hơn nữa với các tầng lớp nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đã tăng cường củng cố
tổ chức ở cơ sở và tích cực đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ, kiện
toàn các Ban Công tác Mặt trận ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố, triển khai cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ờ khu dân cư” và cuộc vận
động “Vì người nghèo” thiết thực góp phần nâng cao đời sống nhân dân ở cơ sở.
Các tổ chức chính trị - xã hội đã kiên trì phát triển tổ chức, khắc phục tình
trạng “trắng” về tổ chức, củng cố các cơ sở yếu kém, đẩy mạnh kết nạp đoản
viên, hội viên, tăng cường đầu tư đào tạo cán bộ, giúp đỡ, động viên đội ngũ cán
bộ cơ sở tích cực hoạt động. Các lớp bồi dưỡng, các hình thức tham quan học
tập mô hình thực tế, các cuộc thi tìm hiểu và thi tài năng của cán bộ cơ sở về
nghiệp vụ, về xử lý các tình huống công tác vận động quần chúng, đã tạo nên

động.
+ Các cấp chính quyền đã biết dựa vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức chính trị - xã hội để tổ chức các phong trào hành động của nhân dân, nổi lên là
phong trào thi đua yêu nước hoàn thành các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các
cuộc vận động rộng rãi của các tổ chức chính trị - xã hội để dộng viên giới mình tích
cực thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước, chấp hành pháp luật, góp
phần ổn định xã hội, nhất là trong những tình huống bất thường.
- Đa dạng hoá hoạt động lãnh đạo của tổ chức Đảng đối với Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
+ Quá trình đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhân dân là quá trình không ngừng khắc phục những hạn
chế, yếu kém của các tổ chức đảng để tìm ra cách lãnh đạo tốt nhất. Có thể nêu
lên một số đổi mới sau đây:
1. Ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết để cụ thể hoá đường lối đổi mới đối
với công tác quần chúng, đối với Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiều lần ra nghị quyết liên quan đến
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó phải kể
đến Nghị quyết số 8B của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (Khoá VI) ngày
27/3/1990 để “Đổi mới công tác quần chủng của Đảng, tăng cường mối quan hệ
giữa Đảng với nhân dân”, Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị (khoá VI) về Đại
đoàn kết dân tộc và Mặt trận Dân tộc thống nhất (17-11-1993) và đầu năm 2003
12


là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá IX) về Phát huy sức kết toàn dân
tộc, về Công tác dân tộc và Công tác tôn giáo. Đối với xây dựng giai cấp công
nhân trong giai đoạn mới, gắn với phát triền công nghiệp, công nghệ theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Trung ương Đảng đã có những nghị
quyết chuyên đề. Riêng đối với lực lượng thanh niên và Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Đảng đã có Nghị quyết 04 (khoá VIII). Đối

Đổi mới lãnh đạo, xây dựng tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng
còn tăng cường lãnh đạo phối họp, kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền với Mặt
trận và các đoàn thể nhân dân. Cùng với sự chuyển biến về công tác dân vận của
chính quyền, Đảng đã tăng cường lãnh đạo việc phối hợp giữa các cấp chính
quyền với Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác vận động
quần chúng. Nhiều văn bản liên tịch giữa Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể với cơ
13


quan Nhà nước đã được ký kết và triển khai thực hiện, góp phần tạo điều kiện
cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò, chức năng,
nhiệm vụ của mình.
3. Củng cố tổ chức Đảng nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo đối với Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội: Việc thành lập và củng
cố các Đảng đoàn, Hội đồng công tác quần chúng Trung ương là bước tiến về tổ
chức của Đảng để tăng cường sự lãnh đạo của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể
nhân dân.
Ban Dân vận Trung ương là cơ quan tham mưu cho Ban Chấp hành Trung
ương Đảng về công tác dân vận, ra đời từ sau Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (10-1930) và sau đó đã có nhiều
tên gọi khác nhau. Từ ngày 17-3-1981, do nhu cầu tăng cường công tác tham
mưu cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác dân vận, Ban Dân vận
Trung ương được lập ra và có hệ thống Ban Dân vận cho tới huyện, thị (ở cơ sở
xã, phường thì lập khối dân vận).
Đảng đã cử cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong cấp ủy phụ trách công tác
dân vận. Ở cấp Trung ương là một ủy viên Bộ Chính trị hoặc ủy viên Ban Bí
thư, còn ở các cấp, thường là một ủy viên Ban Thường vụ được giao đảm
nhiệm công tác này. Tuỳ theo số lượng cấp ủy viên ở mỗi cấp, trong Đảng
đoàn Mặt trận và một số đoàn thể nhân dân đều cử một cấp ủy viên làm Bí
thư Đảng đoàn hoặc trực tiếp giữ chức vụ lãnh đạo cao nhất của tổ chức này.

Văn phòng cấp ủy với Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cũng từng bước
được thực hiện, làm cho công tác xây dựng Đảng gắn bó hơn với xây dựng Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
5. Coi trọng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về sự lãnh đạo của
Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Trước những biến đổi về cơ cấu xã hội và công tác vận động quần chúng,
hoạt động nghiên cứu khoa học về tình hình quần chúng và công tác quần chúng
đã được chú ý nhằm tập họp khai thác thông tin cần thiết trong khi đánh giá tình
hình và tìm tòi những chủ trương, giải pháp mới. Ban Dân vận Trung ương đã
lập Vụ Nghiên cứu sau đổi tên là Trung tâm Nghiên cứu khoa học dân vận. Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và 5 tổ chức chính trị - xã hội đã lập ra các tổ chức làm
công tác nghiên cứu lý luận của mình. 61/63 trường chính trị tỉnh, thành phố đã
thành lập Khoa Công tác dân vận để giảng dạy về lý luận và thực tiễn công tác
dân vận trong hệ thống chính trị. Nhiêu đê tải nghiên cứu khoa học cấp Nhà
nước, cấp Bộ, cấp địa phương, nhiều luận án khoa học Tiến sĩ và luận văn thạc
sĩ về công tác dân vân, công tác mặt trận và các đoàn thể nhân dân đã tìm tòi con
đường đổi mới phương thức lãnh đạo cảu Đảng đối với Mặt trận và các đoàn thể
nhân dân.
2.2. Những hạn chế.
- Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là một nội
dung quan trọng trong toàn bộ sự lãnh đạo của Đảng, nhưng việc đổi mới sự
lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội nói
riêng còn chậm. Các cấp ủy Đảng vẫn lãnh đạo Mặt trận và các tổ chức chính trị
- xã hội theo những quan điểm và phương thức truyền thống. Trong giai đoạn
mới hiện nay, khi tình hình và nhiệm vụ cách mạng đã thay đổi, cơ cấu xã hội đã
biến đổi, nền kinh tế thị trường đang hình thành và phát triển trong bối cảnh hội
nhập quốc tế sâu, rộng thì các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng vẫn còn chung
chung nội dung thiếu cụ thể. Việc tổ chức thực hiện Nghị quyết còn nhiều thiếu
sót. Cấp dưới thường mô phỏng nghị quyết của cấp trên; chưa kịp thi hành nghị
quyết cũ đã vội ban hành nghị quyết mới. Qua các cuộc điều tra, 65,5% số người

nóng” vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức giảm sút và lu mờ.
Hoạt động của Mặt trận Tô quốc và các tổ chức chính trị - xã hội chủ yếu
là hội họp, nặng về phổ biến sự chỉ đạo một chiều từ trên xuống, ít có ý kiến
tranh luận, nội dung thường trùng lặp và tràn lan, việc gì cũng tham lam ôm đồm
nhưng đều không mang lại kết quả rõ rệt. Cán bộ Mặt trận và các đoàn thể nhân
dân ít có thời gian đi sâu tìm hiểu thực tế, đối thoại với dân, lắng nghe ý kiến
của dân. Bệnh hành chính hoá, nhà nước hoá, bệnh hình thức, bệnh thành tích
đang tồn tại và phát triển trong hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân.
Công tác thông tin, báo cáo công khai, minh bạch còn yếu. Thông tin
thiếu đa dạng, nhất là ít thông tin nhiều chiều và thông tin phản hồi. Không ít
trường hợp lãnh đạo không nắm được thông tin, do việc tổ chức thông tin chưa
khoa học, do bệnh thành tích, sợ khuyết điểm nên bưng bít thông tin với cấp
trên. Tình trạng “nhiễu thông tin” còn khá phổ biến. Chế độ báo cáo của cấp
dưới lên cấp trên, của cơ quan Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể cho các cấp có
thẩm quyền và việc trả lời những kiến nghị, đề xuất của cấp dưới, của cơ quan
Nhà nước, Mặt trận và đoàn thể không kịp thòi và chưa thành nền nếp.

16


Việc kiểm tra các hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân chưa kịp
thời, nên không phát hiện được nhân tố mới và uốn nắn những lệch lạc. Việc sơ kết,
tổng kết đạt chất lượng thấp, nặng về báo cáo thành tích, chưa có tính khái quát và
chưa rút ra được các bài học kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế:
- Công tác quần chủng của Đảng chưa được coi trọng khi Đảng Cộng sản
trử thành đảng cầm quyền. Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội không được xác định đúng đắn, những tổ chức này chưa thoát
khỏi tình trạng phụ thuộc trong hệ thống chính trị. Việc đổi mới sự lãnh đạo của

thấy, huy động vốn đầu tư phát triển, huy động tiềm năng công nghiệp mà đất
nước đã xây dựng trong những năm qua, huy động tiềm lực con người mà đặc
17


biệt là huy động và tạo dựng đội ngũ lao động có kỹ năng và trí tuệ, thích ứng
nhanh với khoa học công nghệ hiện đại; bảo đảm môi trường hoà bình, ổn định
của đất nước để dồn sức cho sự phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững định hướng
xã hội chủ nghĩa trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh đòi hỏi phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.
2. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi không ngừng
hoàn thiện và phát huy sức mạnh của toàn hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam. Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh về chính
trị, tư tưởng và tổ chức. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động; nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
trong sinh hoạt Đảng; nâng cao chất lượng đảng viên và hoạt động của tổ chức
Đảng ở cơ sở; đổi mới công tác tổ chức, cán bộ… đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp
cách mạng hiện nay. Từng bước hoàn thiện và nâng cao năng lực quản lý của
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước của dân, do dân, vì
dân. Nhà nước của chúng ta lấy mục tiêu phục vụ nhân dân, làm công bộc của
nhân dân, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của dân, chịu sự
giám sát của nhân dân, bảo vệ quyền con người, các quyền công dân… đưa đất
nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước thực hiện quản lý
xã hội bằng pháp luật phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra pháp luật và
tổ chức quản lý mọi mặt của xã hội bằng pháp luật. Mặt trận tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức, động viên,
phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện

1. Điều kiện khách quan của kinh tế, xã hội, nhu cầu và lợi ích của đoàn
viên, hội viên đã thay đổi, nhưng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể chưa thay đổi kịp. Trên thực tế, khá đông tổ chức cơ sở của Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể vẫn tồn tại hình thức, chưa có hoạt động đủ sức thu hút
quần chúng, đoàn viên, hội viên, sinh hoạt chiếu lệ, tham gia miễn cưỡng; không
ít cán bộ không quan tâm, không muốn gắn bó và làm công tác Mặt trận, Đoàn
thể. Nhìn chung, hình thức hoạt động chưa thiết thực, không đáp ứng kịp thời
những vấn đề đặt ra trong đời sống của đoàn viên, hội viên. Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân chưa thật là “ chất keo” để đoàn viên, hội viên gắn bó.
Nội dung các hoạt động, sinh hoạt của các đoàn thể mới dừng lại ở việc phổ biến
nội dung chủ trương, nghị quyết của cấp trên, phân công thực hiện, ít bàn bạc
đến các vấn đề nẩy sinh từ công tác, cuộc sống đặt ra hàng ngày, hàng giờ đối
với đoàn viên, hội viên. Người đoàn viên, hội viên chưa thấy ý nghĩa của việc
vào tổ chức để sinh hoạt và hoạt động đem lại lợi ích gì cho mình, cho gia đình
và xã hội.
2. Nền kinh tế hàng hoá, với cơ chế thị trường đã tạo nên sự phát triển đa
dạng. Mọi người năng động hơn trong việc tính toán, làm ăn, đòi hỏi hoạt động
của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phải thay đổi cho phù hợp.
Trong điều kiện của cơ chế thị trường người dân quan tâm đến thu nhập để sống,
lợi ích kinh tế được đặt lên hàng đầu. Lợi ích kinh tế hàng ngày là cơ sở để
người lao động có thể đảm bảo và cải thiện dần điều kiện ăn, ở, đi lại, học hành,
bảo vệ sức khoẻ, vui chơi, giải trí, nâng cao dần chất lượng cuộc sống…Quần
chúng chỉ gắn bó với đoàn thể của mình, khi họ tìm thấy ở đó những lợi ích
chính đáng và được đoàn thể bảo vệ những lợi ích đó. Lợi ích đó gắn liền với
trách nhiệm công dân trước pháp luật và không đối lập với lợi ích cộng đồng và
dân tộc.
3. Hiệu quả là yêu cầu luôn đặt ra cho mọi hoạt động của Mặt trận và các
đoàn thể nhân dân trong kinh tế thị trường; quần chúng, đoàn viên, hội viên phê
phán, loại trừ các cách làm hình thức, kém hiệu quả. Họ có thể tham gia hoặc
không tham gia tổ chức, không thể ép buộc, chỉ có thể vận động, thu hút bằng sự

nước bền vững và hội nhập quốc tế.
4.2. Mục tiêu
1. Tạo sự chuyển biến thực sự, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong
công tác tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân, thực hiện phong trào thi đua
yêu nước; hướng mạnh về cơ sở, sát với dân, nắm được dân, hiểu được dân,
phục vụ dân, được dân tin cậy; khắc phục bằng được tình trạng hành chính hoá,
phô trương, hình thức trong hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
2. Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy vai trò đoàn kết, tập hợp
quần chúng của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, tăng cường sự đồng thuận xã
hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết
giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện
thắng lợi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
4.3. Nhiệm vụ và những giải pháp
1. Đổi mới công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục đoàn viên, hội
viên và quần chúng nhân dân nhận thức đầy đủ, đúng đắn về vị trí, vai trò,
chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính
20


trị-xã hội
- Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục đoàn viên,
hội viên về trách nhiệm xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vững mạnh;
về ý thức, năng lực làm chủ, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống cách mạng của
dân tộc, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao nhận thức về
quyền và nghĩa vụ công dân, sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
- Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể coi trọng công tác tuyên truyền,
giáo dục chính trị tư tưởng, văn hoá, nghề nghiệp, chính sách, pháp luật xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho đoàn viên, hội viên và quần chúng
nhân dân. Giác ngộ, tập hợp quần chúng vào tổ chức và tự nguyện hoạt động
vì tổ chức đoàn thể; động viên, cổ vũ những nhân tố tích cực, phê phán các

21


tập thể, cá nhân, cộng đồng, doanh nghiệp, doanh nhân có những cống hiến,
đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp phát triển của đất nước.
- Tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm để có kế hoạch phối hợp, lồng
ghép các mục tiêu và nội dung hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể,
tránh chồng chéo và có phân công rõ trách nhiệm để Mặt trận Tổ quốc giữ vai
trò chủ trì, các đoàn thể thành viên giữ vai trò phối hợp.
- Chủ động phát hiện, xây dựng các mô hình phù hợp để tập hợp các đối
tượng quần chúng như: mô hình chuyển giao khoa học, kỹ thuật; xây dựng mô
hình VAC, VACR, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tín chấp ngân hàng để vay vốn
phát triển sản xuất. Thành lập các câu lạc bộ theo sở thích, nghề nghiệp, diễn
đàn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể
thao,... đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống của đoàn viên,
hội viên và nhân dân.
- Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các đoàn thể chính trị-xã hội chủ động
phối hợp với các cơ quan thông tin, tuyên truyền của Đảng và Nhà nước để
tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội, phản ánh, nắm bắt tư tưởng và khuyến
khích cách làm hay, sáng tạo của đoàn viên, hội viên và nhân dân trong các
phong trào cách mạng của quần chúng.
- Chú trọng tổng kết các phong trào, các cuộc vận động, tìm ra những
nhân tố mới để tham mưu, kiến nghị với Đảng, Nhà nước bổ sung, hoàn chỉnh
chủ trương, chính sách về công tác vận động quần chúng; xây dựng lực lượng
cốt cán, phát huy vai trò những người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng, gia
đình, dòng họ trong công tác vận động quần chúng.
3. Đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân và tập trung hướng
mạnh các hoạt động về cơ sở; phát huy tính năng động sáng tạo của Mặt
trậnTổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị- xã hội các cấp trong công
tác vận động quần chúng, phù hợp với đặc điểm từng địa phương, cơ sở

tinh gọn ở cấp trung ương, cấp tỉnh; tổ chức hợp lý bộ máy cấp huyện; mở rộng
thành phần cán bộ bán chuyên trách cho cấp xã, phường, thị trấn. Coi trọng việc
kết hợp, phát huy có hiệu quả đội ngũ cán bộ: chuyên trách, bán chuyên trách
và cộng tác viên. Quan tâm việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể có phẩm chất, năng lực và kỹ năng vận động quần chúng,
được phát hiện từ trong phong trào quần chúng.
- Giải thể hoặc chuyển giao những tổ chức, cơ quan, đơn vị đang hoạt
động trong các lĩnh vực kinh tế không thuộc chức năng nhiệm vụ của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội. Thực hiện đúng tôn chỉ, mục
đích hoạt động của từng đoàn thể trong công tác vận động quần chúng.
- Xây dựng tiêu chuẩn, chức danh, cơ chế, chính sách phù hợp đối với
cán bộ dân vận, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; chú trọng bồi dưỡng, sử
dụng cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ công tác ở những vùng đặc
biệt khó khăn như vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân
tộc, đồng bào có đạo.
- Nâng cao trình độ kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ công tác vận động
quần chúng cho cán bộ mặt trận Tổ quốc, đoàn thể ở cơ sở và thôn, ấp, làng,
bản, khu phố,... nơi trực tiếp triển khai ra dân để thực hiện các chủ trương, nghị
quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của
địa phương, cơ sở.
- Do đặc điểm cán bộ Đoàn thanh niên luân chuyển rất nhanh, cho nên
cần quan tâm bố trí khoảng 5% biên chế cán bộ nguồn (hưởng lương và chế độ
từ cơ quan Trung ương Đoàn hoặc tỉnh Đoàn) để thực hiện việc đào tạo, bồi
dưỡng, luân chuyển cán bộ chủ chốt của Đoàn thanh niên.
- Đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo Ban Tổ chức Trung ương,
Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục-Đào tạo và các đoàn thể xây dựng đề
án, sắp xếp và tổ chức lại các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn thể ở Trung
ương. Thành lập Khoa Dân vận ở Học viện Xây dựng Đảng, thuộc Học viện
23


- Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các đoàn thể chính trị-xã hội, phù hợp với thực tiễn công tác vận động quần
chúng. Cần nghiên cứu để hình thành cơ chế Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
xây dựng “quỹ hoạt động” thông qua các chương trình, dự án, góp vốn và tiếp
nhận sự ủng hộ của các tổ chức, doanh nghiệp phù hợp với chủ trương của Đảng
và quy định của pháp luật để chủ động trong hoạt động phong trào. Không thực
hiện việc khoán kinh phí hoạt động với số lượng biên chế của Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể như các cơ quan, đơn vị hành chính.
- Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đồng bộ với các thiết chế văn
hoá cơ sở phục vụ nhu cầu hoạt động học tập, vui chơi, giải trí cho thanh, thiếu
nhi và sinh hoạt cộng đồng của nhân dân.
6. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc đổi mới nội dung,
24


phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể
chính trị-xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước và hội nhập quốc tế
- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp uỷ đảng và hệ thống
chính trị về nhiệm vụ lãnh đạo, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn
thể chính trị-xã hội vững mạnh. Các cấp uỷ đảng tiến hành kiểm điểm sâu sắc
việc tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã ban hành về công tác
Dân vận, công tác Mặt trận và các Đoàn thể. Đưa nội dung lãnh đạo xây dựng
Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể vững mạnh thành một trong những tiêu chuẩn
đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức đảng các cấp.
- Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tính tiền phong gương mẫu của
cán bộ, đảng viên, phát huy tính năng động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và
các Đoàn thể phù hợp với tôn chỉ, mục đích và tính chất chính trị-xã hội của mỗi
tổ chức trong công tác tập hợp quần chúng.
- Chú trọng lãnh đạo phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status