BÀI THU HOẠCH BDTX TIỂU HỌC MODULE 21, 22, 29 , 15 - Pdf 49

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ……….

BÀI THU HOẠCH
BDTX NỘI DUNG 3
(Mô đun TH 12, 22, 29 ,15 )

GIÁO VIÊN: ……………………………..

Năm học:

1


PHÒNG GD&ĐT …….
TRƯỜNG TH …….

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh Phúc

BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN …………..
Năm học
Họ và tên: ……………….
Đơn vị công tác: Trường tiểu học ………
Chức vụ : Giáo viên ………..
Căn cứ Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên tiểu học ban
hành kèm theo Thông tư số 32/2011/TT-BGDĐT ngày 08/8/2011 của Bộ trưởng
Bộ giáo dục và Đào tạo; Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non,
phổ thông và giáo dục thường xuyên ban hành kèm theo Thông tư số
26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo;

tai nghe, trí óc suy nghĩ... trong khi học và luyện tập, nhờ đó dễ dàng hiểu rõ,
nắm vững kiến thức và đạt được các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết. PMDH cũng cho
phép giáo viên lựa chọn các tài liệu trực quan cần cho từng phần của bài học và
sử dụng chúng rất thuận tiện trong giảng dạy.
Với những PM "mở" GV có thể tự mình xây dựng, thiết kế những bài giảng, bài
tập... để làm tư liệu giảng dạy. Các tài liệu trong PM có thể sao chép ra đĩa mềm
hay in ra giấy một cách dễ dàng, ít tốn kém, tiết kiệm được nhiều thời gian và
công sức chuẩn bị để tạo điều kiện cần thiết cho các hoạt động tự học của HS.
PMDH có thể giúp HS tự tìm kiếm tri thức mới, tự ôn tập, luyện tập theo nội
dung tuỳ chọn, theo các mức độ nông sâu, tuỳ thuộc vào năng lực của bản thân.
Như vậy, việc sử dụng PMDH làm phương tiện dạy học các môn
học, giúp cho việc học tập của HS như là một công cụ hỗ trợ cho
việc dạy và học nhằm góp phần rèn luyện kỹ năng tư duy sáng
tạo, kỹ năng giao tiếp, độc lập giải quyết các vấn đề, kỹ năng
tìm kiếm và xử lý thông tin nhằm góp phần củng cố tư tưởng
học suốt đời cho tất cả mọi người. Phát triển rộng rãi việc ứng
dụng CNTT trong nhiều môn học, mọi trường học, mọi cấp học
và mọi ngành học thông qua các loại PM khác nhau ( PMDH, tự
học, PM kiểm tra đánh giá...) dẫn đến việc xây dựng nội dung và
phương pháp đào tạo thích hợp, phát triển việc kiểm tra đánh
giá trong một môi trường giàu thông tin.
1. Các yêu cầu sư phạm về các mặt: Hình thức, nội dung, phương pháp của
một phần mềm dạy học ở tiểu học:
Nhu cầu sử dụng các phần mềm dạy học trong trường tiểu học ngày càng lớn,
hiện nay có nhiều phần mềm dạy học nhưng điểm lại, ta thấy giáo viên và các
bậc phụ huynh không quan tâm sử dụng chúng để giúp trẻ em học. Điều đó
chứng tỏ các phần mềm trên phần nào chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sư
phạm mặc dầu kỹ thuật để thể hiện khá cao. Các yêu cầu sư phạm đối với phần
mềm dạy học bậc tiểu học:
1.1. Phần mềm dạy học phải phù hợp với chương trình và sách giáo khoa bậc

dễ dàng, cần taoj giao diện thân thiện với trẻ, với lớp trẻ 1, 2 thì sử dụng chủ yếu
là các hình tượng, với lớp 3, lớp 4, lớp 5 có sử thêm các dòng menu thông báo
bằng chữ.
Có sự giúp đỡ cách sử ndụng một cách thường xuyên. Các dòng hướng dẫn này
cần gắn gọn với cỡ chữ to và lên kèm theo hình ảnh mô tả lại quá trình sử dụng
như một mẫu.
Việc tạo ra các tiểu xảo kỹ thuật như nhấp nháy, chữ đậm, âm thanh phải sử
dụng đúng chỗ: tập trung chú ý vào thông tin định truyền đạt cho trẻ.
1.4. Phần mềm phải phù hợp đặc điểm lao động dạy của người thầy và lao động
học tập của học sinh.
Một đặc điểm của giáo viên tiểu học là không thích các công việc quá phức tạp,
phải đầu tư nhiều công sức cho mỗi bài học tren lớp. Như vậy phần mềm dạy
học không đựoc quá cồng kềnh, mà phải được tổ chức theo các đơn vị môđun
gọn, tương đối độc lập, mỗi môđun tương ứng với một đơn vị kiến thức trong
4


chương trình và có đầy đủ các hướng dẫn trợ giúp dễ hiểu trong đó. Môđun này
bao gồm từ việc ôn luyện kiến thức mới đến các bài tập rèn luyện kỹ năng và
cách đánh giá đã được sắp xếp sẵn theo một trình tự nhất định. Việc lựa chọn các
đơn vị cụ thể đó phải thật dễ dàng, không tốn thời gian.
Phần mềm cho phép người sử dụng được quay lại hoặc tiến lên phía trước hoặc
bỏ qua một bài tập, thoát khỏi chương trình vào thời điểm bất kỳ.
Chẳng hạn khi lớp học đến phần “Đo khối lượng và hệ đơn vị đo khối lượng”
môn toán thì có sẵn một hệ bài tập mẫu để cho học sinh làm bài tập theo trình tự
và cách dữ liệu đã chọn. Phụ huynh và giáo viên có thể chọn luôn hệ bài tập mẫu
này mà không phải gia công gì thêm.
Tuy vậy phầm mềm không chỉ đóng kín cứng nhắc, nó có thể cho phép giáo viên
và phụ huynh học sinh sáng tạo hệ bài tập mang dấu ấn cá nhân, sáng tạo ra các
đối tượng mới với các số liệu mới để ra bài tập cho học sinh, có điều kiện phát

dạy học khác.
Quá trình sử dụng phần mềm dạy học diễn ra trong bối cảnh dạy và học trên lớp
và ở nhà. Cần xem xét các khả năng sử dụng phần mềm với các hình thức dạy
học đồng loạt trên lớp, hình thức dạy học theo nhóm, hình thức dạy học theo cấp
và hình thức học tập cá nhân.
ở trên lớp cần chú trọng các hình thức hoạt động theo nhóm, làm việc theo cấp
và cá nhân. ở nhà cần quan tâm tới làm bài tập cá nhân.
Khi xây dựng phần mềm dạy học phải xem xét tới việc sử dụng các phương tiện
dạy học khác trong môí quan hệ thống nhất như video, catset,phim nhựa ... Có
như vậy, máy tính mới trở thành một yếu tố máu thịt trong quá trình dạy và học.
1.8. Về ngôn ngữ dùng trong giao tiếp.
Ngôn ngữ sử dụng phải là tiếng mẹ đẻ, có như vậy các phần mềm mới có cơ hội
để các nhà trường và phụ huynh học sinh chấp nhận sử dụng rộng rãi.
1.9. Yêu cầu về đánh giá
Phần mềm phải đảm bảo đánh giá theo quá trình, phải đánh giá được tức thời
các sai lầm để có các phương thức điều chỉnh hành động của học sinh.
Các đánh giá cần chi tiết hơn là đánh giá trong một bài kiểm tra viết thông
thường: không chỉ cho điểm hoặc xác định đúng sai mà cần phân tích những chỗ
còn yếu trong kiến thức và kĩ năng của học sinh.
Cần lưu giữ được các kết quả đánh giá này trong suốt quá trình các năm học ở
nhà trường tiểu học. Trong trường hợp hàng năm thay đổi thày dạy, người thày
năm học sau có thể dựa vào đánh giá qua phần mềm ở các năm học trước mà có
một phương án giúp đỡ học sinh một cách phù hợp và có hiệu quả nhất.
2. Thực hành một số phần mềm dạy học ở tiểu học:
a.Thiết kế phần mềm dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học
Phần mềm dạy học thuộc lớp các phần mềm ứng dụng, là phần mềm được sử
dụng hỗ trợ cho quá trình dạy học. [1]
2.1.Phần mềm dạy học dùng cho môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học được
chúng tôi thiết kế dựa trên 6 nguyên tắc chính sau đây:
-(1) Quán triệt mục đích dạy học theo chương trình hiện hành

giải tốt. Âm thanh không bị lẫn tạp âm. Cỡ chữ khi chiếu trên màn hình tivi (25
inches) cho vài người xem hay dùng máy chiếu Projector chiếu lên màn cho
khoảng 30-50 người xem thì cỡ chữ thích hợp phải từ cỡ 28 trở lên.
- (4)Phát huy tốt các giác quan của người học
Phần mềm dạy học có khả năng tích hợp đa phương tiện (văn bản, âm
thanh, hình ảnh, hoạt hình,...) nên cần phải tận dụng những ưu điểm này để phát
huy tối đa các giác quan của học sinh trong quá trình học tập như sử dụng mắt
để quan sát các hình ảnh, đoạn phim. Sử dụng tai để lắng nghe một đoạn nhạc.
Sử dụng tay để điều khiển bàn phím hay con chuột của máy tính; Hoặc sử dụng
phối hợp nhiều giác quan.
-(5)Hiệu quả trong việc tạo vật đại diện, vật thay thế cho đối tượng nhận thức
Trong môn Tự nhiên và Xã hội, vật thật (cơ thể người, động vật, thực
vật,..) là đối tượng của hoạt động nhận thức của học sinh. Học sinh có thể quan
sát cá nhân hoặc theo nhóm và thảo luận để trả lời câu hỏi mà giáo viên nêu ra.
Khi xây dựng phần mềm, chúng tôi chú ý đến hình ảnh sử dụng là vật đại diện,
vật thay thế cho cho đối tượng hoạt động nhận thức mà học sinh không thể tiếp
xúc trực tiếp với chúng được. Nghĩa là để tìm hiểu một sự vật, một hiện tượng
hay một quá trình, học sinh lại nhận thức một vật khác, vật thay thế nó, và qua
vật thay thế này học sinh nắm được chính đối tượng cần phải lĩnh hội. Ví dụ
trong bài Hoạt động tiêu hóa thuộc chủ đề Con người và sức khỏe ở lớp 2, học
sinh không thể quan sát hoạt động tiêu hóa thức ăn diễn ra trong cơ quan tiêu
hóa của con người. Thông qua hình ảnh động được mô phỏng bằng phần mềm
7


Macromedia Plash MX về quá trình tiêu hóa thức ăn trong cơ thể người, học
sinh có thể hiểu được kiến thức mà bài học yêu cầu, ví dụ ở miệng, thức ăn được
răng nghiền nhỏ, lưỡi nhào trộn và nước bọt tẩm ướt. Ở dạ dày, thức ăn được
tiếp tục nhào trộn, một phần thức ăn biến đổi thành chất bổ dưỡng...
-(6)Thuận tiện khi tương tác giữa người và máy


2

8

Giai đoạn

Hoạt động dạy
Hoạt động học
Hướng dẫn bằng
Định
hướnglời hoặc bằng
hoạt động
kênh hình hay
kênh chữ.
-tiếp thu
Tổ chức dạy học
cá nhân bằng
phiếu học tập, câu
Tự học
hỏi,…
-tiến hành độc lập

Sản phẩm,
Tri thức

Lời giải
của cá nhân



Kiểm tra,
Đánh giá
Liên hệ thực tế
-hoạt động sáng tạo Kỹ năng sống

Ví dụ: Trong bài 2 - Bộ Xương (Tự nhiên và Xã hội lớp 2)
Mục tiêu của bài học:
1. Nói tên một số xương và khớp xương của cơ thể
2. Hiểu rằng cần đi, đứng, ngồi đúng tư thế và không mang, xách vật nặng để cột
sống không bị cong vẹo
Cách tiến hành
Từ các slide trình chiếu giáo viên có thể tiến hành dạy:

Giai
đoạn

Định
hướng
hoạt
động

Tự học

9

Trang trình chiếu

Hoạt động
dạy


theotra đáp án trên
nhóm đôi máy tính

Học với
giáo
viên

-Đặt câu hỏi -trình
bày
-Tổ chức trảquan điểm
lời
-tự điều chỉnh,
-Kết luận

Vận
dụng 1
Vận
dụng 2

10

Liên hệ thực-Trả lời
tế
Tổ chức làmTiến
hành
thí nghiệmtheo nhóm
nhỏ


Nhận

Một số tính năng thiết kế cơ bản
Sử dụng phần mềm thiết kế trình chiếu không phải là mục đích của giáo trình
này. Ở đây chỉ giới thiệu một số tính năng cơ bản nhất có thể khai thác nhằm
mục đích thiết kế bài thuyết trình khoa học. Để theo học phần này dễ dàng,
người học cần biết sử dụng ở mức độ căn bản một phần mềm thiết kế trình
11


chiếu. Các hướng dẫn sau đây là dành cho phần mềm Microsoft PowerPoint XP,
bản tiếng Anh, chạy dưới hệ điều hành Windows XP. Nhấn lên siêu liên kết để
xem hình minh hoạ.
Tạo hình nền
Hình nền là một yếu tố có thể tạo ra ấn tượng lâu dài cho người nghe, nếu sử
dụng đúng cách trong thiết kế. Thường hình nền là một hình ảnh có liên quan
chặt chẽ đến nội dung trọng tâm hoặc chủ đề của bài thuyết trình. Hình nền nên
có độ đồng đều về màu sắc để không ảnh hưởng đến độ rõ nét của các thành
phần nội dung khi thuyết trình. Nên cân nhắc về màu sắc giữa chữ viết và các
thành phần khác đối với hình nền sao cho phù hợp.
Các bước tạo hình nền như sau:

vào trình đơn View. Master, chọn Slide Master (quản lí bản phim), nền
bản phim sẽ được hiện ra cùng với các thông số định dạng các thành phần;

không thay đổi gì các thông số đó, vào trình đơn Insert. Picture,
chọn From File(chèn hình ảnh từ thư mục cá nhân);

chọn đường dẫn về thư mục lưu hình ảnh cần lấy làm nền, chọn đúng tên
tập tin đó và nhấn nút Insert (chèn hình vào bản phim mẫu);

thay đổi kích thước hình ảnh bằng cách dùng chuột nhấn và kéo các biên,

trực tiếp chuỗi ngày giờ vào ô trống bên cạnh;

chọn Slide number nếu muốn cho hiển thị số thứ tự bản phim;

chọn Footer để cho hiển thị thông tin ở chân bản phim, và gõ chuỗi văn
bản trực tiếp vào ô trống bên cạnh;
12


nếu chọn Don't show on title slide thì phần thiết lập đầu và chân như trên
sẽ không áp dụng cho bản phim đầu tiên (dành cho tên bài thuyết trình);

nhấn nút Apply để chỉ áp dụng cho bản phim đang xem xét, hoặc
nút Apply to Allđể áp dụng cho tất cả các bản phim.


Định dạng phông nền
Nếu không sử dụng hình nền, việc định dạng phông nền có vai trò quan trọng
giúp trình bày nội dung thuyết trình được rõ ràng, dễ theo dõi. Các bước chèn
hình nền như sau:

vào trình đơn Format. Background (định dạng phông nền);

nhấn lên danh sách cuốn, chọn:

một màu (đồng nhất) trong danh sách các màu vừa sử dụng,

More Colors để chọn được nhiều màu khác (đồng nhất)

Fill Effects để chọn các kiểu phông nền không có màu đồng nhất

chọn Send to Back để cho hiển thị ở lớp dưới cùng,

chọn Bring Forward để đưa lên lớp liền trên,

chọn Send Backward để đưa xuống lớp liền dưới.
Chèn các yếu tố
Để trình bày bản phim, mọi yếu tố nội dung đều phải được chèn vào thông qua
trình đơn Insert. Các loại yếu tố có thể chèn vào bản phim đều được bố trí thành
một mục trong trình đơn này: Picture (hình ảnh), Diagram (sơ đồ), Text
Box (khung chữ),Movies and Sounds (các tập tin âm thanh và
13


phim), Table (bảng), Chart (biểu đồ),Object. Microsoft Equation 3.0 (công thức
toán học), Hyperlink (siêu liên kết đến một tập tin khác, bản phim khác trong
cùng bài, một địa chỉ thư điện tử hay một địa chỉ mạng),...
Chèn các nút hành động
Khi đang trình bày, bài thuyết trình được chiếu lên máy chiếu ở chế độ chiếu,
chỉ có các hiệu ứng đã thiết lập hoạt động theo lệnh từ chuột hoặc bàn phím.
Nếu cần di chuyển đến một vị trí khác trong bài, hoặc nếu cần thêm một số hành
động khác mà không phải chờ trình diễn hết các yếu tố trong bản phim đang
chiếu, cũng không cắt ngang chế độ chiếu, thì công cụ hữu hiệu nhất là chèn các
nút hành động.
Các nút hành động đã được thiết kế sẵn trong phần mềm, chỉ cần chèn vào bằng
cách vào trình đơn Slide Show, chọn Action Buttons. Sau đó sẽ có một danh sách
mở ra để lựa chọn, chỉ cần rà chuột lên các nút để xem nhãn và chọn nút nào phù
hợp với nhu cầu: Home (về trang tiếp đón); Back or Previous (về bản phim
trước); Forward or Next (qua bản phim sau); Beginning (về bản phim
đầu); End (về bản phim cuối);Return (quay trở lại vị trí đang trình
diễn); Sound (mở một tập tin âm thanh); Movie(mở một tập tin phim),...

bạn tạo một cách có thứ tự và để chạy bạn chỉ cần kích chuột hoặc hoặc ấn một
nút.
Để xem một Slide Show từ slide đầu tiên
14


- Từ menu View, kích vào Slide Show
Để xem một Slide Show từ slide hiện hành
- Kích vào biểu tượng Slide Show ở phía bên trái của màn hình PowerPoint
hoặc nhấn phím Shift + F5
Để chuyển sang một slide tiếp theo trong khi trình chiếu
- Ấn phím Enter
Để chuyển về một slide trước đó trong khi trình chiếu
- Ấn phím Backspace
Để chuyển đến một slide đặc biệt trong khi trình chiếu
- Kích chuột phải vào slide hiện hành và chọn Go to Slide
- Chọn slide bạn muốn
Tạm dừng trình chiếu Slide
- Kích chuột phải vào slide hiện hành (trong khi đang trình chiếu) và lựa
chọn Pause
Trở về một màn hình đen
- Kích chuột phải vào slide hiện hành (trong khi đang trình chiếu)
- Trỏ vào Screen và chọn Black Screen
Trở về một màn hình trắng
- Kích chuột phải vào sile hiện hành (trong khi đang trình chiếu)
- Trỏ vào Screen và chọn White Screen.
Các tùy chọn con trỏ
Automatic Pointer là con trỏ mặc định trong trình chiếu slide. Khi thiết lập tự
động, con trỏ sẽ biến mất sau 15 phút.
Sử dụng con trỏ mũi tên

những hành vi, thói quen tiêu cực.
l KNS giúp HS có khả năng ứng phó phù hợp và linh hoạt trong các tình huống
của cuộc sống hàng ngày.
l KNS giúp HS vận dụng tốt kiến thức đã học, làm tăng tính thực hành.
l Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và
phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức
l - Nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực”, đồng thời có sự thống nhất cao việc tăng cường giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh tiểu học trong toàn cấp học; trang bị cho học sinh những hành
vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực
trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày; giúp các em có
khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử, ứng phó phù hợp, tích cực trước
tình
huống
cuộc
sống.
- Giúp GV soạn và dạy được KNS cho học sinh TH.
* yêu cầu:
- Việc bố trí sắp xếp bàn ghế trong phòng học, vị trí trưng bày sản phẩm của học
sinh….
- Chuẩn bị thiết bị đồ dùng dạy học, các loại phiếu học tâp sử dụng cho các hoạt
động trong giờ học.
- Giáo viên mạnh dạn, tích cực trong việc tổ chức các hoạt động dạy học, vận
dụng các phương pháp dạy học, các kỹ thuật dạy học phù hợp…
- Tạo được sự thân thiện, hợp tác, các giao tiếp ứng xử trong giờ học giữa giáo
viên và học sinh, học sinh và học sinh, động viên, tạo cơ hôị cho mọi đối tượng
học sinh cùng tham gia
Ngoài việc GDKNS cho HS TH thông qua các kĩ thuật dạy học, tổ chức các hoạt
động GDNGLL, phối hợp với gia đình, PGD&ĐT chỉ đạo các lớp đưa nội dung
GDKNS vào dạy trong tiết SHTT(1 tiết/2 tuần, bắt đầu từ tuần đầu tiên của

sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
- Nội dung GD KNS được thể hiện ở tất cả các nội dung học tập của môn học.
- Những KNS chủ yếu đó là: KN giao tiếp; KN tự nhận thức; KN suy nghĩ sáng
tạo; KN ra quyết định; KN làm chủ bản thân.
Kết luận:
*/ Các yêu cầu cần thiết phải đưa GD KNS váo môn Tiếng Việt:
- Xuất phát từ Thực tế cuộc sống: sự phát triển của KHKT, sự hội nhập, giao
lưu, những yêu cầu và thách thức mới của cuộc sống hiện đại
- Xuất phát từ mục tiêu GDTH: GD con người toàn diện
-Xuất phát từ đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học
- Xuất phát từ thực tế dạy học Tiếng việt: cung cấp KT và KN sử dụng Tiếng
việt thông qua thực hành ( hành dụng)
- Các loại KNS :
* KN cơ bản : gồm kỹ năng đơn lẻ và kỷ năng tổng hợp
* KN đặc thù : + KN nghề nghiệp
+ KN chuyên biệt
NỘI DUNG GD KNS TRONG MÔN T.VIỆT
- KNS đặc thù, thể hiện ưu thế của môn TV : KN giao tiếp
- KN nhận thức (gồm nhận thức thế giới xung quanh, tự nhận thức, ra quyết
định,...) là những KN mà môn TV cũng có ưu thế vì đối tượng của môn học này
là công cụ của tư duy.
- Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc,... giữa các thành
viên trong xã hội. Gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin), ký mã (phát thông
tin) qua : nghe, nói và đọc, viết.
- Các KNS này của HS được hình thành, phát triển dần, từ những KN đơn lẻ đến
những KN tổng hợp.
B. Môn Đạo đức:
17



l Kĩ năng diễn đạt cảm xúc và phản hồi.
l Kĩ năng làm việc nhóm (làm việc đồng đội)
c)Nhóm kĩ năng quản lý bản thân:
l Kĩ năng làm chủ.
l Quản lý thời gian
l Giải trí lành mạnh
d)Nhóm kĩ năng xã hội:
l Kĩ năng quan sát.
l Kĩ năng làm việc nhóm.
l Kĩ năng lãnh đạo (làm thủ lĩnh).
đ)Nhóm kĩ năng giao tiếp
l Xác định đối tượng giao tiếp
l Xác định nội dung và hình thức giao tiếp
18


e)Nhóm kĩ năng phòng chống bạo lực:
l Phòng chống xâm hại thân thể.
l Phòng chống bạo lực học đường.
l Phòng chống bạo lực gia đình.
l Tránh tác động xấu từ bạn bè.
Thông qua môn Đạo đức, kiến thức được hình thành trên cơ sở từ việc quan
sát tranh, từ một truyện kể, một việc làm, một hành vi, chuẩn mực nào đó, sau
đó rút ra bài học. Từ bài học đó các em liên hệ thực tế xung quanh, bản thân, gia
đình và xã hội và môi trường tự nhiên. Chỉ khác hơn là GV viên cố gắng trong
phạm vi có thể khi soạn và giảng từng phần của bài học phải tạo một điểm nhấn
cụ thể, rõ ràng, nhằm khắc sâu những kĩ năng sống đã có sẵn trong từng bài học
và những kĩ năng sống chúng ta lồng ghép trong quá trình soạn –giảng.
c. Môn Khoa học:
C. Địa chỉ giáo dục kĩ năng sống trong môn khoa học:

hiểu biết của HS, GV dẫn vào bài mới: Để biết vì sao nươc bị ô nhiễm, thầy
cùng các em đi tìm hiểu qua bài: nguyên nhân làm nước bị ô nhiễm….
+ Kết nối: Kết nối nội dung mới của bài. Giải quyết tất cả những kiến thức
mới.
+ Thực hành: Đưa ra những tình huống, những nội dung, những trò chơi
để vận dụng kiến thức đó.
+ Vận dụng: Tùy ở từng hoàn cảnh từng em, chúng ta có bài vận dụng
(các em nắm được thông tin nào về bài học).
* Tóm lại: Qua 1 tiến trình, đảm bảo giáo dục được KNS.
* Thống nhất quan điểm khi soạn bài:
Quan điểm của Bộ giáo dục: Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng cho rằng
+ Đây là 1 tài liệu cho giáo viên tham khảo.
+ Giáo viên là người hoạt đông thực tiễn, biết được giá trị quyển
sách này là gì? Có thể dùng từ này, không dùng từ này.
+ Có ma trận: Nhiều địa chỉ tăng cường các kĩ năng sống, không
cứng quá, có thể tìm 1 địa chỉ khác. Đây là những bài minh họa, không phải nhất
thiết tuân theo.
+ Càng ngày, việc chỉ đạo dạy học linh hoạt, phát huy tính độc lập,
sáng tạo của các thầy cô. Các thầy cô thích làm gì thì làm, dạy phương pháp gia
không biết miễn là khi đánh giá theo chuẩn kiến thức kĩ năng đạt là được.(Tránh
lệch chuẩn KTKN)
3. Các phương pháp và kỹ thuật tích hợp lồng ghép giáo dục kỹ năng sống
vào môn học:
*Sự khác biệt giữa dạy các môn học (VD: Đạo đức) với GDKNS:
Chương trình giáo dục môn Đạo đức ở cấp tiểu học có một số nội dung trùng
hợp với nội dung của giáo dục kỹ năng sống. Tuy nhiên, mục đích và phương
pháp dạy các môn này không giống nhau hoàn toàn.
Ví dụ: Trong chương trình môn Đạo đức lớp 1, tuần 19 có bài: “Lễ phép,
vâng lời thầy cô giáo”. Trong dạy kỹ năng sống, không có khái niệm “vâng lời”,
chỉ có khái niệm “lắng nghe”, “đồng cảm”, “chia sẻ”. Mục tiêu của giáo dục kỹ

toàn giao thông .... để những giờ học sao cho các em được làm để học, được trải
nghiệm như trong cuộc sống thực.
Trong chương trình môn Tiếng Việt có nhiều bài học có thể giáo dục kĩ năng
sống cho các em, đó là các kĩ năng giao tiếp xã hội, như: Viết thư, Điền vào giấy
tờ in sẵn, Giới thiệu địa phương, Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia,...
được lồng cụ thể qua các tình huống giao tiếp. Bản thân chỉ gợi mở sau đó cho
các em tự nói một cách tự nhiên hoàn toàn không gò bó áp đặt. Để hình thành
những kiến thức và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh qua môn Tiếng Việt,
người giáo viên cần phải vận dụng nhiều phương pháp dạy phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh như
Ở môn Đạo đức, để các chuẩn mực đạo đức, pháp luật xã hội trở thành tình
cảm, niềm tin, hành vi và thói quen của học sinh. Cần sử dụng các phương pháp,
kĩ thuật dạy học tích cực , học sinh sẽ được tạo cơ hội để thực hành, trải nghiệm
nhiều kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi. Đó là lối sống lành mạnh, các
hành vi ứng xử phù hợp với nền văn minh xã hội. Lối sống, hành vi như gọn
gàng, ngăn nắp, nói lời đẹp, chăm sóc bố mẹ, ông bà, hợp tác, giúp đỡ, chia sẻ
với bạn…
Ở môn Khoa học: Chương “Con người và sức khỏe”các bài: “Con người
cần gì để sống? Vai trò của các chất dinh dưỡng có trong thức ăn; Phòng một số
bệnh do thiếu chất dinh dưỡng; Phòng bệnh béo phì; Phòng tránh tai nạn đuối
nước;...” giáo dục các em hiểu rằng ăn uống đủ chất và hợp lí giúp cho chúng ta
khoẻ mạnh, biết phòng tránh một số bệnh lây qua đường tiêu hóa, biết những
việc nên làm và không nên làm để phòng tránh tai nạn đuối nước, có ý thức tự
giác làm vệ sinh cá nhân hằng ngày, tự giác thực hiện nếp sống vệ sinh, khắc
phục những hành vi có hại cho sức khoẻ. Biết tham gia các hoạt động và nghỉ
ngơi một cách hợp lí để có sức khoẻ tốt.
I . Mục tiêu : 1 . Kiến thức: - Hiểu được khái niệm, chu trình, khung nghiên
cứu và các phương pháp của nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
21


Hai yếu tố quan trọng của NCKHSP ƯD là tác động và nghiên cứu:
- Thực hiện những giải pháp thay thế nhằm cải thiện hiện trạng trong phương
pháp dạy học, chương trình, sách giáo khoa hoặc quản lí.
- So sánh kết quả của hiện trạng với kết quả sau khi thực hiện giải pháp thay
thế bằng việc tuân theo quy trình nghiên cứu thích hợp.
Hoạt động NCKHSP ƯD là một phần trong quá trình phát triển chuyên môn
của giáo viên – CB QLGD trong thế kỷ 21. Với NCKHSP ƯD, giáo viên –
CBQL giáo dục sẽ lĩnh hội các kỹ năng mới về tìm hiểu thông tin, giải quyết vấn
đề, nhìn lại quá trình, giao tiếp và hợp tác. “Trong quá trình NCKHSP ƯD nhà
giáo dục nghiên cứu khả năng học tập của học sinh trong mối liên hệ với
phương pháp dạy học. Quá trình này cho phép những người làm giáo dục hiểu rõ
hơn về phương pháp sư phạm của mình và tiếp tục giám sát quá trình tiến bộ của
học sinh”. Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng trong lớp học. “Ý tưởng về
NCKHSP ƯD là cách tốt nhất để xác định và điều tra những vấn đề giáo dục tại
chính nơi vấn đề đó xuất hiện: tại lớp học và trường học. Thông qua việc thực
22


hiện NCKHSP ƯD vào các bối cảnh này và để những người đang hoạt động
trong môi trường đó tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, các phát hiện sẽ
được ứng dụng ngay lập tức và vấn đề sẽ được giải quyết nhanh hơn”. Đánh giá
phát triển chuyên môn.
III. Vì sao cần nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng?
NCKHSP ƯD, khi được áp dụng đúng cách trong trường học, sẽ đem đến rất
nhiều lợi ích, vì nó:
- Phát triển tư duy của giáo viên một cách hệ thống theo hướng giải quyết
vấn đề mang tính nghề nghiệp để hướng tới sự phát triển của trường học.
- Tăng cường năng lực giải quyết vấn đề và đưa ra các quyết định về chuyên
môn một cách chính xác
- Khuyến khích giáo viên nhìn lại quá trình và tự đánh giá.

kê.
7. Kết quả:
23


Giáo viên - người nghiên cứu đưa ra câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu, đưa ra
các kết luận và khuyến nghị.
* Tóm lại : Khung NCKHSP ƯD này là cơ sở để lập kế hoạch nghiên cứu. Áp
dụng theo khung NCKHSP ƯD, trong quá trình triển khai đề tài, người nghiên
cứu sẽ không bỏ qua những khía cạnh quan trọng của nghiên cứu.
* Khuyến nghị :
Đối với các cấp lãnh đạo: cần quan tâm về cơ sở vật chất như trang thiết bị
máy tính, máy chiếu Projector hoặc màn hình ti vi màn hình rộng có bộ kết nối...
cho các nhà trường. Mở các lớp bồi dưỡng ứng dụng CNTT, khuyến khích và
động viên GV áp dụng CNTT vào dạy học.
Đối với GV: không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để hiểu biết về CNTT, biết
khai thác thông tin trên mạng Internet, có kĩ năng sử dụng thành thạo các trang
thiết bị dạy học hiện đại.
Với kết quả của bài thu hoạch này, tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp quan
tâm, chia sẻ và đặc biệt là đối với GV cấp tiểu học có thể ứng dụng bài viết này
vào việc dạy học môn bồi dưỡng thường xuyên được tốt hơn.
TH15 - Một số phương pháp dạy học tích cực ở tiểu
học
I. Đặt vấn đề:
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều
nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới
việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là
tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung
vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương

chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước
những tình huống khó khăn…
c. Phương pháp dạy học tích cực:
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều
nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của người học.
"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ
động, PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận
thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học
chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên
để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy
theo phương pháp thụ động.
Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò,
sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công.
d. Mối quan hệ giữa dạy và học, tích cực với dạy học lấy học sinh làm
trung tâm.
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương
như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học
hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh
hoạt động học và vai trò của học sinh trong qúa trình dạy học.
Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích
cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân
cách, không ai làm thay cho mình được. Vì vậy, nếu người học không tự giác
chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc
dạy sẽ rất hạn chế.
Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì
đương nhiên phải phát huy tính tích cực chủ động của người học. Tuy nhiên,dạy
học lấy học sinh làm trung tâm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể.
Đó là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi
phối tất cả qúa trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status