Củng cố và phát triển năng lực viết phần mở bài của học sinh lớp 12 trong bài văn nghị luận ( Luận án tiến sĩ) - Pdf 49

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN THỊ THU THUỶ

CỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
VIẾT PHẦN MỞ BÀI CỦA HỌC SINH LỚP 12
TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Lê A

Thái Nguyên - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

/>

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các nội dung nêu trong luận
văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác.
Luận văn đã được chỉnh sửa theo ý kiến của hội Đồng bảo vệ.
Thái Nguyên, ngày 4 tháng 6 năm 2014
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Thuỷ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

THCS

: Trung học cơ sở

SGK

: Sách giáo khoa

SGV

: Sách giáo viên

HS

: Học sinh

GV

: Giáo viên

NL

: Nghị luận

NXB

: Nhà xuất bản

G.S


1.1. Phần mở bài trong văn bản nghị luận .................................................................... 9
1.1.1. Đặc trưng của phần mở bài ................................................................................. 9
1.1.2. Chức năng của phần mở bài .............................................................................. 10
1.1.3. Yêu cầu của phần mở bài .................................................................................. 13
1.1.4. Các phương pháp mở bài trong bài văn nghị luận .......................................... 17
1.2. Năng lực viết phần mở bài trong văn bản nghị luận .......................................... 21
1.2.1. Về khái niệm năng lực ....................................................................................... 21
1.2.2. Năng lực viết phần mở bài nghị luận ............................................................... 22
1.2.3. Tinh thần thái độ khi viết phần mở bài trong văn bản nghị luận ................... 28
Chương 2. TỔ CHỨC CỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC MỞ BÀI
TRONG VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CỦA HỌC SINH ................................................30
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

/>

2.1. Thực trạng dạy học phần mở bài trong văn bản nghị luận ................................ 30
2.1.1. Tài liệu dạy học .................................................................................................. 30
2.1.2. Năng lực viết phần mở bài của học sinh .......................................................... 32
2.1.3. Việc tổ chức dạy học của giáo viên .................................................................. 34
2.2. Tổ chức dạy học lý thuyết phần mở bài .............................................................. 35
2.2.1. Những tri thức học sinh cần chiếm lĩnh ........................................................... 35
2.2.2. Các phương pháp dạy học ................................................................................. 36
2.3. Rèn luyện viết phần mở bài qua các bài tập ....................................................... 41
2.3.1. Giới thiệu chung về hệ thống bài tập................................................................ 41
2.3.2. Miêu tả các bài tập ............................................................................................. 43
2.3.3. Hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập vào thực tiễn ........................................ 68
Chương 3. THIẾT KẾ VÀ DẠY THỰC NGHIỆM.....................................................71
3.1. Mục đích và yêu cầu thực nghiệm ....................................................................... 71
3.1.1. Mục đích thực nghiệm ....................................................................................... 71
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm ......................................................................................... 71


biểu hiện của nhận thức hạn chế và lối tư duy thiếu mạch lạc của người viết. Từ tâm lí tiếp
nhận không tốt, người đọc có thể mặc nhiên quy kết rằng nội dung bài văn này kém chất
lượng. Như vậy, phần mở bài là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành bài văn nghị
luận. Phần mở bài định hướng triển khai cho toàn bộ bài viết.
1.2. Phần mở đầu có tính khái quát cao, không dễ viết nên học sinh gặp rất nhiều
lúng túng và khó khăn khi viết phần này
Phần mở bài chứa đựng vấn đề cần giải quyết một cách khái quát và thông báo cho
người đọc phương thức giải quyết hoặc giới hạn của vấn đề. Vậy khái quát là gì? Theo Từ

học sinh nhưng trong quá trình giảng dạy nhiều giáo viên chưa chú trọng, việc dạy học còn
bộc lộ nhiều hạn chế. Hạn chế dễ nhận thấy là trong giờ dạy học lý thuyết về phần mở bài,
một bộ phận giáo viên vẫn còn nhiều lúng túng. Biểu hiện rõ nhất của thái độ trên là cách tổ
chức hoạt động hình thành kiến thức, nhất là kiến thức về vị trí, vai trò của phần mở bài;
chức năng của phần mở bài; yêu cầu về nội dung và hình thức của phần mở bài… Sự lý giải
kiến thức, khái quát thành các bước thực hiện của giáo viên chưa thoả đáng. Giáo viên chưa
tạo được hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập.
Mặt khác, việc rèn luyện kỹ năng viết phần mở bài cho các em chưa được quan tâm,
chú trọng. Các giờ thực hành được giáo viên tổ chức theo tinh thần ôn tập kiến thức và học
sinh làm các bài tập có trong sách giáo khoa. Giáo viên chưa mạnh dạn lựa chọn những bài
tập bên ngoài sách để rèn luyện kỹ năng viết phần mở bài cho học sinh. Chính điều đó dẫn
tới kỹ năng viết phần mở bài của các em chưa tốt. Hơn nữa, một số giáo viên còn coi nhẹ các
giờ lập dàn ý, trả bài khiến cho học sinh không có thói quen sửa chữa những lỗi còn hay mắc
phải trong khi viết. Viết văn là quá trình luôn cần uốn nắn, chỉ dẫn để nâng cao kỹ năng bởi
"văn ôn võ luyện". Do cách nhìn nhận chủ quan, phần đông giáo viên tự bằng lòng với tư
tưởng rằng các em đã được học ở lớp dưới những kiến thức về mở bài, giáo viên coi phần
mở bài đơn giản chỉ là sự gợi mở vấn đề, nên không chú trọng đến việc cung cấp lý thuyết
và hướng dẫn thực hành cho học sinh. Chính thế đã dẫn đến tình trạng có nhiều mở bài
không đạt yêu cầu. Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng viết phần mở bài cho học sinh
phổ thông? Đó là những câu hỏi của rất nhiều giáo viên dạy bộ môn Văn đang đặt ra và
mong muốn tìm hướng giải quyết.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: "Củng cố
và phát triển năng lực viết phần mở bài của học sinh lớp 12 trong bài văn nghị luận".
Qua luận văn chúng tôi mong muốn giúp cho học sinh lớp 12 có thêm kỹ năng làm văn
nghị luận bên cạnh nhiều kỹ năng khác trong việc tổ chức bài nghị luận vốn là rất khó
đối với các em.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

/>


- Xác định vấn đề
- Xác định phần dẫn dắt, chuyển tiếp vấn đề
- Nêu tầm quan trọng, ý nghĩa của vấn đề, phương hướng giải quyết vấn đề.
Cuốn sách tiếp theo dành sự quan tâm tới phần mở bài là Kĩ năng làm văn nghị luận phổ
thông của Nguyễn Quốc Siêu giới thiệu kĩ năng viết phần mở bài với các cách sau: Từ một sự
kiện tương đồng của vấn đề, từ việc trình bày bối cảnh mà xác định luận đề, qua cách vấn thiết
mà nêu vấn đề, dẫn danh ngôn đã nêu luận đề, qua đối chiếu phải trái đã nêu vấn đề.
Một cuốn sách khác đã đóng góp không nhỏ trong việc hình thành kĩ năng viết phần
mở bài là 150 bài tập rèn kĩ năng dựng đoạn văn (Nguyễn Quang Ninh) qua việc đưa ra hệ
thống bài tập luyện dựng đoạn theo chức năng:
- Mở bài trực tiếp có hai cách: mở thẳng vấn đề và mở trực tiếp có thêm phần dẫn dắt
(thời gian, không gian và hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm).
- Mở bài gián tiếp: mở bằng câu chuyện, mở bằng cách nêu câu hỏi, mở bằng cách nêu
sự kiện, con số.
Cuốn sách Văn bồi dưỡng học sinh giỏi Trung học phổ thông, Nguyễn Đăng Mạnh đã
bàn luận khá kĩ về việc viết phần mở bài hay: "Trước hết muốn mở bài hay cần hiểu rõ mục
đích và nhiệm vụ của mở bài. Mục đích của mở bài là giới thiệu với bạn đọc về vấn đề mà
mình sẽ viết, sẽ bàn bạc, trao đổi hay miêu tả, kể lại. Viết mở bài thực chất là trả lời câu hỏi:
ở bài viết này, mình định viết về điều gì ?"…"Các cách mở bài khác nhau chủ yếu ở phần
dẫn dắt. Phần nêu vấn đề và giới hạn vấn đề thường không thay đổi vì mở bài theo kiểu gì
thì ai cũng phải nêu được phần này. Như thế cũng có nghĩa là, muốn viết được các mở bài
khác nhau thì người viết chỉ cần xác định rõ ba phần của đoạn mở bài, giữ lại hai phần sau
và thay đổi phần đầu là có thể có một mở bài khác. Nói gọn lại cứ thay đổi phần dẫn dắt ta


3.2. Tình hình nghiên cứu việc rèn luyện kỹ năng mở bài của học sinh trong bài văn
nghị luận
Với nhu cầu đổi mới việc dạy và học văn trên tất cả các bình diện, môn Làm văn cũng
có nhiều điểm chuyển biến. Các nhà nghiên cứu đã đi tìm và xác lập những cơ sở lý luận và
hình thành kỹ năng làm văn nghị luận cho học sinh. Song do đề tài nghiên cứu, các công
trình nghiên cứu về làm văn nói chung ít quan tâm đến vấn đề củng cố và phát triển năng lực
viết phần mở bài trong bài văn nghị luận cho các em. Tuy nhiên cũng có thể kể ra đây một
số tài liệu ít nhiều đề cập đến vấn đề này. Đầu tiên phải kể đến sự đóng góp của Ngữ văn 12
(Sách học sinh và sách giáo viên). Bộ sách này đã giới thiệu cho học sinh và giáo viên vai trò
và mục đích của việc viết mở bài, các thành phần của phần mở bài, những lưu ý khi viết
phần mở bài, các cách mở bài…
Ngoài ra có thể kể đến các bài tập bổ sung trong các sách tham khảo cho giáo viên và
học sinh như: Bài tập Ngữ văn 12, Nguyễn Minh Hùng (chủ biên), nhà xuất bản Đại học Sư
phạm; Thiết kế dạy học Ngữ văn 12, Hoàng Hữu Bội, nhà xuất bản Giáo dục 2008; Các
dạng đề và hướng dẫn làm bài nghị luận xã hội môn Ngữ văn 10, 11, 12, Lê A, Nguyễn Thị
Ngân Hoa (đồng chủ biên), nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2009; Thực hành Làm văn
12, Phan Huy Dũng, Trần Đình Sử, Lê Quang Hưng, nhà xuất bản Giáo dục, 2001; Cách
làm bài tập làm văn nghị luận (dùng cho học sinh thi tốt nghiệp PTTH và tuyển sinh Đại
học, cao đẳng), Phan Huy Đông, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003; Hướng dẫn
học và làm bài Ngữ văn 12, PGS. TS Phan Mậu Cảnh (chủ biên), Lê Bảo, Lê Đình Mai, nhà

- Đề ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng viết phần mở bài trong bài văn
nghị luận cho học sinh.
- Thực nghiệm để kiểm tra khả năng thực thi và hiệu quả của các giải pháp đề xuất
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí thuyết
Sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết trên cơ sở tập hợp, phân loại và phân tích
tài liệu; tổng hợp và tiếp thu các thành tựu nghiên cứu. Phương pháp này chủ yếu được sử
dụng trong việc phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn kỹ năng viết phần
mở bài cho học sinh trong bài làm văn nghị luận mà luận văn đưa ra.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra khảo sát thực tiễn dạy và học viết phần mở bài trong bài làm văn nghị luận ở
trường THPT. Khảo sát hệ thống bài tập rèn kỹ năng viết phần mở bài của SGK lớp 12 để
nắm bắt được tình hình dạy học làm văn nghị luận trong nhà trường đặc biệt là vấn đề rèn kỹ
năng viết phần mở bài trong làm văn nghị luận. Từ đó có cơ sở để nghiên cứu đề tài một
cách tích cực.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

/>

5.3. Phƣơng pháp thống kê
Sử dụng để tổng hợp, xử lý số liệu trong quá trình khảo sát thực tế và tiến hành
thực nghiệm.
5.4. Phƣơng pháp thực nghiệm dạy học
Phương pháp này được thực hiện trên những phương diện đó là:
- Thiết kế nội dung dạy học theo hướng nghiên cứu của đề tài và tổ chức dạy học
ở nhà trường THPT cho học sinh lớp 12 trên địa bàn huyện Hoa Lư, huyện Kim Sơn,
tỉnh Ninh Bình.
- Rút ra nhận xét, kết luận về kết quả quá trình thực nghiệm nói riêng cũng như quá
trình nghiên cứu nói chung. Kết quả thực nghiệm là căn cứ để khẳng định mức độ thành

MỞ BÀI VÀ NĂNG LỰC VIẾT PHẦN MỞ BÀI VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
1.1. Phần mở bài trong văn bản nghị luận
1.1.1. Đặc trƣng của phần mở bài
Phần mở bài trong văn nghị luận có đặc trưng đó là thống nhất với toàn bài về nội dung
và hình thức. Mặt khác, phần mở bài lại có tính hoàn chỉnh và độc lập tương đối với các
phần khác trong bài, cho phép nó tồn tại như một đoạn văn riêng, như một tiểu hệ thống nằm
trong hệ thống văn bản.
Phần mở bài có một số đặc trưng cơ bản như sau:
1.1.1.1. Nội dung
Về nội dung, phần mở bài phải tạo được tình huống có vấn đề tức là phải đề xuất được
vấn đề mà đề bài yêu cầu giải quyết. Phần mở bài nêu ra luận đề cho toàn bài, như vậy, vấn đề
đặt ra trong phần này ở dạng tổng quát, khái quát cần triển khai, giải quyết. Do đó, người viết
cần nắm vững yêu cầu của đề, từ đó, khái quát thành luận đề lớn cần giải quyết ở thân bài.
Phần mở bài gồm những nội dung:
+ Dẫn dắt vấn đề: Nêu một vài vấn đề liên quan đến vấn đề cần bàn, chuẩn bị tư
tưởng dẫn người đọc vào vấn đề.
+ Nêu vấn đề: Nêu vấn đề một cách ngắn gọn, nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài và
phải nêu một cách khái quát.
+ Nêu nhận định về tầm quan trọng của vấn đề, ý nghĩa của vấn đề đối với trước đó
và đương thời (phần này không nhất thiết phải có, tuỳ thuộc vào từng vấn đề cụ thể).
1.1.1.2. Hình thức
Về hình thức, phần mở bài luôn có sự tương ứng với đoạn kết bài về độ dài. Trong
trường hợp vấn đề quá phức tạp không thể nêu vấn đề trong một đoạn văn thì có thể viết
thành hai đoạn văn, khi đó, độ dài của phần mở bài được nới rộng hơn.
Phần mở bài có những đặc điểm về hình thức như sau:
+ Ngắn gọn: Từ khâu dẫn dắt vấn đề đến khâu nêu tầm quan trọng, ý nghĩa (nếu có)
chỉ ngắn gọn trong 6 – 8 câu. Nhưng vẫn cần đảm bảo được tính trọn vẹn của vấn đề và
tránh lan man không nêu được vấn đề trung tâm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


này vấn đề bàn luận đã có sẵn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

/>

Ví dụ:
Đề bài: Phân tích hình ảnh Thuý Kiều qua đoạn thơ Chị em Thuý Kiều. Qua đó nêu lên
nhận xét của em về nghệ thuật tả người của thi hào Nguyễn Du qua Truyện Kiều.
Phân tích: Ở đề bài trên đích phải đạt, phạm vi, cách thức triển khai đã được nêu
rất rõ ràng.
- Vấn đề nghị luận: nghệ thuật tả người của thi hào Nguyễn Du.
- Phạm vi nghị luận: đoạn thơ Chị em Thuý Kiều.
- Cách thức triển khai: phân tích hình ảnh Thuý Kiều.
Trên đây là dạng đề bài mà vấn đề đã "lộ thiên", tuy nhiên rất nhiều (nếu không muốn
nói là hầu hết) các đề bài thường ẩn vấn đề cần bàn bạc, người viết phải phân tích thì mới
thấy được.
Dạng chìm: Là dạng đề trong đó người ra đề không cho dữ kiện rõ về các yêu cầu của
nội dung cũng như cách thức, phạm vi... nghị luận. Bởi thế người viết phải phân tích, tổng
hợp, khái quát nội dung vấn đề từ chính nội dung của đoạn văn, đoạn thơ, hoặc tác phẩm,
câu trích…
Ví dụ:
Đề bài: Trẻ em lang thang cơ nhỡ với cộng đồng xã hội.
Phân tích: Ở đề bài trên vấn đề nghị luận, phạm vi, cách thức nghị luận không được
nêu ra một cách rõ ràng. Đề bài đưa ra một vấn đề "nóng" hiện nay của xã hội nhưng để làm
được buộc chúng ta phải đi vào phân tích sự suy thoái mái ấm gia đình nên đã dẫn đến hiện
tượng trẻ em lang thang cơ nhỡ đáng báo động; kêu gọi cộng đồng quan tâm góp sức để tạo
dựng cho các em những "ngôi nhà tình thương" thực sự.
Học sinh khi đọc đề cần xác định thật rõ ràng những yêu cầu của đề theo hướng: về nội
dung cần xem yêu cầu vấn đề cần nghị luận có giới hạn ở đâu? giai đoạn nào? tác phẩm hay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status