ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MỚI CHO XUẤT KHẨU - Pdf 49

BỘ THƯƠNG MẠI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MỚI CHO XUẤT KHẨU
MÃ SỐ: 2002-78-08

HÀ NỘI NĂM 2004


BỘ THƯƠNG MẠI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MỚI CHO XUẤT KHẨU
MÃ SỐ: 2002-78-08

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Vũ Bá Phú, Vụ Kế hoạch và đầu tư - Bộ Thương mại
Thư ký đề tài: CN. Phạm Xuân Anh, Vụ thị trường châu Mỹ - Bộ Thương mại
Với sự tham gia của:
TS. Hoàng Thịnh Lâm, Vụ Kế hoạch và đầu tư - Bộ Thương mại
CN. Nguyễn Trung Khoa, Vụ Xuất, nhập khẩu - Bộ Thương mại
ThS. Phạm Hồng Tú, Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Thương mại

HÀ NỘI NĂM 2004


LỜI CẢM ƠN


Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách và giải pháp nhằm khuyến khích xuất
khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ cho hàng hoá Việt Nam, tiêu biểu là chính sách
thưởng xuất khẩu được thực hiện từ năm 1998(1). Tuy nhiên, trên thực tế, việc phát
triển thị trường mới còn nhiều hạn chế: còn mang tính tự phát, thương nhân làm tự do
là chủ yếu, các chính sách giải pháp hỗ trợ của Nhà nước rộng mà chưa sâu nên kém
hiệu quả... Trước những bỡ ngỡ của doanh nghiệp, Nhà nước cần có những chính sách,
giải pháp hợp lý hơn nhằm hướng dẫn, tạo điều kiện và hỗ trợ các nhà xuất khẩu đạt
được hiệu quả cao nhất trong quá trình tiếp cận, phát triển thị trường mới thông qua đó
góp phần củng cố lợi ích quốc gia. Thực trạng trên đặt ra yêu cầu nghiên cứu tìm ra
những chính sách và giải pháp cụ thể, nhằm vào những đối tượng được lựa chọn (theo
tiêu thức) trong chương trình khuyến khích phát triển thị trường mới nói chung và thị
trường mới đối với mặt hàng nói riêng. Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu đó cũng
có những khuyến nghị đối với các doanh nghiệp trong công tác tiếp cận, xâm nhập thị
trường mới nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho các doanh nghiệp. Việc triển khai và
thực hiện đề tài “Một số chính sách và giải pháp phát triển thị trường mới cho
xuất khẩu” tập trung giải quyết những vấn đặt ra ở trên.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Đề tài sẽ tập trung làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn về thị trường mới cho
xuất khẩu hàng hoá, trong đó nêu lên được thế nào một thị trường được xem là thị
trường mới, thị trường mới gồm có những loại nào, vai trò ý nghĩa của thị trường mới
đối với xuất khẩu, theo đó chỉ ra được vai trò của Nhà nước và doanh nghiệp trong
phát triển thị trường mới, về cách thức phân đoạn thị trường mới. Trong phạm vi
nghiên cứu của Đề tài, Nhóm nghiên cứu mong muốn tìm hiểu một số kinh nghiệm về
công tác phát triển thị trường mới cho xuất khẩu hàng hoá của một số nước trên thế
giới, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong thời gian tới.
1

Năm 2003 giá trị thưởng xuất khẩu là 19,532 tỷ đồng cho 233 doanh nghiệp


quảng bá thương hiệu sản phẩn để kích thích kênh lưu thông của hàng hoá xuất khẩu.
Ngoài ra, đề tài cũng đề xuất một số hướng đi trong phát triển thị trường mới cho một
số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, nhất là đối với một số mặt hàng chủ lực mới. Tuy
nhiên, để những nhóm chính sách hỗ trợ trên của Nhà nước có thể triển khai và có hiệu
quả thì bản thân các doanh nghiệp cũng phải tự hoàn thiện mình, đó là những khuyến
nghị được nêu ra tại phần cuối của đề tài nghiên cứu này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

iii


- i tng nghiờn cu(1):
+ C ch, chớnh sỏch v gii phỏp nhm phỏt trin th trng mi cho xut khu
hng hoỏ Vit Nam thi k 1991-2001.
+ Nhng gii phỏp dng hiu qu i vi phỏt trin th trng mi cho xut khu
hng hoỏ Vit Nam thi k 1991-2001.
- Phm vi nghiờn cu:
+ Gii hn ni dung: c ch, chớnh sỏch v gii phỏp ca Nh nc v doanh
nghip nhm phỏt trin th trng mi cho xut khu hng hoỏ Vit Nam.
+ Khụng gian v thi gian: Cụng tỏc phỏt trin th trng mi cho xut khu
hng hoỏ ca Nh nc v doanh nghip Vit Nam thi k 1991 2001. Cỏc kin ngh
c ch, chớnh sỏch v gii phỏp phỏt trin th trng mi cho xut khu hng hoỏ Vit
Nam thi k n 2010.

Phng phỏp nghiờn cu
hon thnh quỏ trỡnh nghiờn cu, cỏc tỏc gii ó s dng mt s phng phỏp
nghiờn cu nh so sỏnh, thng kờ - d bỏo, phng phỏp tng hp phõn tớch, tng
hp v ly ý kin chuyờn gia.


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATC
AFTA
APEC
ASEAN
ASEM
CEPT
CNH
ĐTNN
EU
EIU
FDI
GDP
GATT
GTGT
HĐH
IMF
MFN
MNC
NAFTA
NDT
NICs
NIEs
NT
OECD
FAO
FTA
TNC
XTTM
WB

Xúc tiến thương mại
Ngân hàng thế giưói
Tổ chức Thương mại thế giới
Dollar Mỹ

v


MỤC LỤC
Chương I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG MỚI CHO XUẤT KHẨU HÀNG HÓA__________________1
I.

KHÁI NIỆM THỊ TRƯỜNG MỚI CHO XUẤT KHẨU VÀ PHÂN LOẠI____________________1

1.
2.
II.

Một số khái niệm____________________________________________________1
Phân loại__________________________________________________________3
VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA THỊ TRƯỜNG MỚI CHO XUẤT KHẨU_______________________4

1.
2.
III.

Đối với phát triển kinh tế_____________________________________________4
Đối với phát triển doanh nghiệp________________________________________6
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ DOANH NGHIỆP TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG


THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA
THỜI KỲ 1991-2003_____________________________________________________________24

1.
2.
3.
4.
II.

Số lượng, quy mô thị trường và chuyển dịch cơ cấu thị trường_______________24
Chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu_________________33
Khả năng tiếp cận thị trường mới của thương nhân Việt Nam________________35
Cơ sở thực tiễn về mặt hàng__________________________________________36
CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH, GIẢI PHÁP CỦA NHÀ NƯỚC VÀ DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MỚI CHO XUẤT KHẨU HÀNG HÓA THỜI KỲ 1991-2003___37

1.
2.
3.
III.

Mặt được_________________________________________________________38
Những mặt hạn chế_________________________________________________41
Nguyên nhân của tồn tại_____________________________________________42
MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
THỊ TRƯỜNG MỚI CHO XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI____45

1.
2.


1.
2.
3.
II.

Mục tiêu phát triển thị trường hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam
đến năm 2010_____________________________________________________56
Những quan điểm cơ bản về phát triển thị trường cho hàng hóa xuất khẩu
của Việt Nam thời kỳ 2001-2010______________________________________57
Một số phương hướng lớn về phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa
của Việt Nam thời kỳ 2001-2010______________________________________59
DỰ BÁO THƯƠNG MẠI, CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA MỘT SỐ HÀNG HOÁ
VIỆT NAM CÓ LỢI THẾ SO SÁNH ĐẾN NĂM 2010_________________________________60

1.
2.
3.
III.

Những xu hướng chung về thương mại thế giới ảnh hưởng đến thị trường
hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam______________________________________60
Dự báo các xu hướng phát triển thị trường thế giới trong những năm tới_______62
Dự báo sự phát triển thị trường hàng hoá thế giới thời kỳ đến năm 2010_______64
DỰ BÁO VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HÀNG HOÁ
XUẤT KHẨU VIỆT NAM TRÊN CÁC THỊ TRƯỜNG MỚI_____________________________70

1.
2.
IV.

cung-cầu thị trường_________________________________________________86
Về thông tin, dự báo thị trường và xúc tiến thương mại_____________________86
GIẢI PHÁP VỀ THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG VÀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI_______________87

1.
2.
3.
VII.

Đổi mới và nâng cao chất lượng thông tin, dự báo thị trường________________87
Về xúc tiến thương mại nhằm giữ vững và mở rộng các thị trường mới
cho xuất khẩu hàng hóa______________________________________________89
Tạo dựng thương hiệu, nhãn hiệu thương mại cho hàng hoá xuất khẩu_________90
CHÍNH SÁCH, GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI MỘT SỐ HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU CHỦ YẾU______91

1.
2.
3.
VIII.

Nhóm sản phẩm sơ cấp khoáng sản____________________________________91
Nhóm nông sản____________________________________________________91
Nhóm các sản phẩm gia công, chế biến_________________________________96
NHỮNG KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP_________________________________98

1.
2.

Những khuyến nghị chung___________________________________________98
Những khuyến nghị cụ thể___________________________________________98

hng hoỏ, dch v gia ngi mua, ngi bỏn hoc mt bờn th ba (thng gi l mụi
gii); phng tin trao i cú th l tin (i din cho cỏc phng tin thanh toỏn ngang
giỏ, ch yu l tin mt), cú th bng hng (vt ngang giỏ - hỡnh thc mua bỏn hng i
hng) v thng theo phng thc giao ngay (spot market).
Theo ngha rng, ng trờn gúc marketing, nhúm nghiờn cu cho rng, th trng liờn
quan ti nhng ngi tiờu dựng hay cỏc t chc (gi tt l ngi mua) quan tõm n
nhúm hng hoỏ, dch v c th ca nh cung cp; h cú quyn, cú cỏc ngun lc v tin
hnh cỏc giao dch mua cỏc hng hoỏ, dch v ú (mua nhng hng hoỏ, dch v m
phỏp lut khụng cm)2.
Theo khỏi nim ny, th trng khụng nht thit phi l mt a im c th, ú ngi
mua, ngi bỏn (hoc nh cung cp), ngi mụi gii trung gian gp g trc tip trao
i hng hoỏ, dch v. õy, th trng gn vi nhng ngi mua cỏc hng hoỏ, dch v
c th (ngi ta thng gi l th trng tiờu th hng hoỏ, dch v ca cỏc nh cung cp
- hay cũn gi l th trng ca mt loi hng hoỏ, dch v no ú nh th trng go, th
trng c phờ, th trng hng dt may....). Phng thc v phng tin trao i cng rt
phong phỳ, a dng: phng thc trao i cú th bng phng thc kinh doanh in t
(buụn bỏn qua mng hay cũn gi l thng mi in t), giao dch k hn...; phng tin
1

Trích trong giáo trình Maketting cơ bản của Trờng Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội.
Trích và tổng hợp từ một một số tài liệu: Basic Marketting của Mc Cathey, trang web www.
europe-economics.com, bộ tài liệu của công ty Internet Center for management and
Business Administration.
2

/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/esv1526360035-1276199-15263600351995/esv1526360035.doc

1



Thị trờng
mục tiêu

Thị trờng
đã xâm
nhập

Biu trờn cho thy, th trng mi i vi mt hng G ca nc V (gi tt l G(V) ) cú
th cỏc dng l: th trng tim nng, th trng kh dng, th trng kh dng xỏc
nh, th trng mc tiờu1. õy l nhng th trng m ú mt hng G (V) c ngi
mua quan tõm, h cú kh nng thanh toỏn v khụng b phỏp lut cm khi thc hin cỏc
giao dch mua hng2. Khi giỏ tr ca mt hng G(V) ó c thc hin ti th trng M
(th trng M ó nhp khu mt hng G(V)) thỡ th trng M c xem l th trng ó
1
2

Theo Internet Center for Management and Business Administration, Inc (Net MBA.com).
Đờng đứt nét biểu hiện các thị trờng đó là mới đối với mặt hàng G(V).

/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/esv1526360035-1276199-15263600351995/esv1526360035.doc

2


c mt hng G(V) xõm nhp. Lỳc ny, th trng M khụng cũn l th trng mi i
vi mt hng G(V)1.
Xut phỏt t cỏc khỏi nim v cỏch tip cn trờn, theo nhúm nghiờn cu, th trng mi
i vi mt hng xut khu ca mt nc cú th c hiu l th trng cha tng nhp
khu trc tip mt hng ú.
Trong khỏi nim ny, mt s cm t cú th c hiu nh sau:


Mt hng mi

Cú kh nng NK cỏc mt hng mi
ca nc XK (M3)

Cú kh nng NK cỏc mt
hng mi ca nc XK
(M4)

Da trờn c s ny, cú th phõn loi th trng nh sau:
T gúc quan h thng mi:
- Th trng mi ó cú quan h thng mi: l cỏc th trng ó cú quan h thng mi
vi nc xut khu nhng cha tng nhp khu trc tip mt s mt hng hin ti v mt
hng mi ca nc xut khu. (M1 v M3 trong khung trờn)
1

2

Đờng liền nét biểu hiện thị trờng M lúc này không còn là mới đối với mặt hàng G(V).
Cách phân loại theo cơ sở này sẽ đợc chúng tôi sử dụng xuyên sốt cả đề tài.

/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/esv1526360035-1276199-15263600351995/esv1526360035.doc

3


- Thị trường mới chưa có quan hệ thương mại: do chưa có quan hệ thương mại nên các
thị trường này chưa từng nhập khẩu trực tiếp bất cứ hàng hoá nào từ nước xuất khẩu (M2
và M4 trong khung trên). Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với hầu hết (trên


1.

Đối với phát triển kinh tế

Bất kỳ một quốc gia hay vùng lãnh thổ nào đều đặc biệt quan tâm đến việc phát triển thị
trường hiện có và mở rộng thị trường mới. Tuy nhiên, khi thị trường hiện có đối với một
hoặc một số mặt hàng đã trở nên bão hòa thì việc thúc đẩy sự tăng trưởng kim ngạch của
các mặt hàng trong thời kỳ tiếp theo vào các thị trường này sẽ rất khó khăn, thậm chí chi
phí cho việc áp dụng các biện pháp để tăng kim ngạch và thị phần của thị trường mặt
hàng sẽ gia tăng nhanh chóng so với mức lợi ích thu lại. Vì vậy, việc mở rộng thị trường
/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/esv1526360035-1276199-15263600351995/esv1526360035.doc

4


mới đối với mặt hàng hiện có hoặc mặt hàng mới sẽ là hướng đi thích hợp nhất để nâng
cao kim ngạch xuất khẩu cho các mặt hàng, đóng góp vào mức tăng tổng kim ngạch và
hiệu quả của hoạt động xuất khẩu.
Bên cạnh yếu tố về dung lượng thị trường đối với mặt hàng, chúng ta đều thấy rằng, việc
tập trung quá mức xuất khẩu mặt hàng nào đó sang một hoặc một số thị trường trong một
thời kỳ liên tục tuy có thể đem lại những kết quả nhất định về mức tăng trưởng nhanh và
tính hiệu quả nhưng sẽ gặp nhiều khó khăn từ phía thị trường xuất khẩu như: sự phụ
thuộc quá mức vào những thị trường đó có thể tạo nên tính bị động trong việc thực hiện
kế hoạch xuất khẩu; những rào cản được dựng lên từ phía thị trường nhập khẩu (áp dụng
thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng, tăng cường kiểm dịch…). Việc mở rộng thị
trường mới sẽ là một giải pháp tổng thể khắc phục được những hạn chế nêu trên, đồng
thời đa dạng hóa thị trường cho các mặt hàng xuất khẩu, mở ra những tiềm năng cho các
mặt hàng xuất khẩu tiếp cận và có cơ hội cọ xát với nhiều thị trường, đáp ứng được các
loại và các lớp nhu cầu khác nhau.

2.

Đối với phát triển doanh nghiệp

Chiến lược phát triển sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp không thể tách rời chiến
lược phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trong một nền kinh tế mở, thị trường xuất
khẩu được xem là yếu tố sống còn đối với sự duy trì, mở rộng và phát triển hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì việc khai thác các thị trường mới, những thị trường
tiềm năng được xem là giải pháp thích hợp nhất cả trong ngắn hạn và dài hạn để giúp
doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu của mình, tăng khả năng tiếp cận các thị
trường hàng hóa, dịch vụ khác nhau của thế giới khi mà các thị trường truyền thống trở
nên "chật hẹp" đối với hàng hóa hiện có của doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận khác, việc
phát triển thị trường mới cũng có thể là các biện pháp doanh nghiệp phát triển chính
những thị trường truyền thống đang có bằng những hàng hóa mà doanh nghiệp chưa từng
xuất khẩu sang hoặc những mặt mới hoàn toàn mà doanh nghiệp chưa từng sản xuất, kinh
doanh.
Việc tiếp cận và xâm nhập các thị trường mới đối với loại hàng hóa mà doanh nghiệp sản
xuất, xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội được tham gia cạnh tranh
trên diện rộng hơn, qua đó, các doanh nghiệp tự hoàn thiện năng lực cạnh tranh của mình,
của sản phẩm, có điều kiện để xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, phát triển nhãn hiệu
sản phẩm trên thị trường mới.
Mở rộng thị trường mới đối với hàng hóa của doanh nghiệp sẽ song song với việc mở
rộng phạm vi quan hệ với các đối tác, đặc biệt là thiết lập quan hệ đối tác mới ở các thị
trường nhập khẩu. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh nghiệp trong
việc đàm phán ký kết hợp đồng, tránh bị phụ thuộc vào một vài thị trường, thường bị
khách hàng áp cấp, ép giá, từng bước đa dạng hóa bạn hàng xuất khẩu. Thông qua việc
phát triển sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu thị trường, từng bước sẽ tạo cơ hội cho
doanh nghiệp mở rộng các ngành hàng kinh doanh mới, đa dạng hóa hoạt động kinh
doanh, giảm những rủi ro khi phải tập trung quá mức vào một hoặc một vài thị trường
truyền thống của một số mặt hàng chủ đạo.

và giữ vị trí quan trọng trong việc thiếp lập cơ chế quản lý hoạt động sản xuất kinh
doanh, xuất khẩu một cách thông thoáng, một mặt vẫn đảm bảo nắm bắt được hoạt động
của các doanh nghiệp theo đúng luật pháp và theo định hướng phát triển, nhưng mặt khác
đảm bảo sự thuận lợi hóa cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo đó quyền kinh doanh được mở rộng tối đa cho
tất cả các thành phần kinh tế, khuyến khích thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
đi vào phát triển các thị trường xuất khẩu mới.
Song song với công tác quản lý, nhà nước còn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết
lập hệ thống chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường mặt
hàng mới để xuất khẩu. Những thị trường mặt hàng mới thường có nhiều tiềm năng để
phát triển, thu được nhiều lợi ích khi đã xâm nhập nhưng hoạt động xuất khẩu trong giai
đoạn đầu sang thị trường mới thường gặp nhiều rủi ro: chi phí vận chuyển, bạn hàng đối
tác, nhu cầu thực tế cần tiêu thụ mặt hàng được nhập khẩu đó trên thị trường mới… Vì
vậy, sự hỗ trợ của Nhà nước bằng các chính sách hỗ trợ trong giai đoạn đầu là hết sức cần
thiết, một mặt giảm rủi ro cho các doanh nghiệp nhưng mặt khác, quan trọng hơn là định
hướng các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến phát triển thị trường mới. Các hỗ trợ
ban đầu có thể bao gồm từ hỗ trợ đầu vào đến đầu ra, cơ chế về tài chính, tín dụng, chính
sách về hỗ trợ phát triển xúc tiến thương mại, chính sách về bảo hiểm rủi ro hàng xuất
khẩu, xây dựng các hệ thống hạ tầng thương mại phục vụ xuất khẩu, đặc biệt là sang các
thị trường mới, chính sách về gắn kết giữa sản xuất - xuất khẩu - thị trường. Tuy nhiên,
chính sách hỗ trợ trên không mang tính chất trợ cấp xuất khẩu, trợ giá hàng xuất khẩu để

/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/esv1526360035-1276199-15263600351995/esv1526360035.doc

7


xâm nhập thị trường, phần nhiều cần thể hiện tính tăng cường độ tin cậy cho các doanh
nghiệp khi tham gia xuất khẩu sang các thị trường mới.
Bên cạnh các hệ thống chính sách trên, Nhà nước còn là chủ thể tích cực trong việc thúc

gặp gỡ trao đổi thông tin thương mại với các nhà doanh nghiệp nước ngoài. Cần có nhiều
hình thức khuyến khích xuất khẩu thông qua việc phát triển quỹ hỗ trợ cho hoạt động
xuất khẩu của Nhà nước.

/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/esv1526360035-1276199-15263600351995/esv1526360035.doc

8


- Tín dụng xuất khẩu: Nhà nước sử dụng công cụ tín dụng như điều chỉnh lãi suất theo
hướng khuyến khích cho vay đối với các nhà kinh doanh xuất khẩu, hình thành quỹ hỗ
trợ xuất khẩu, đơn giản hóa các thủ tục hành chính cho các đối tượng vay làm hàng xuất
khẩu.
- Chính sách đầu tư: gồm chính sách khuyến khích đầu tư trong nước và chính sách thu
hút vốn đầu tư nước ngoài.
Chính sách khuyến khích đầu tư trong nước tạo ra một môi trường pháp lý, thể chế thuận
lợi, khuyến khích các doanh nghiệp trong nước thực hiện các hoạt động đầu tư mới, mở
rộng quy mô và ngành nghề kinh doanh. Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một
biện pháp quan trọng trong chiến lược tăng trưởng kinh tế, có những ảnh hưởng tích cực
đối với việc phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa nếu có những biện pháp khuyến
khích về mặt tài chính (miễn giảm thuế, hoàn thuế cho xuất khẩu), những ưu đãi về thủ
tục… đối với các doanh nghiệp FDI có đóng góp tích cực vào phát triển thị trường xuất
khẩu.
- Quy định hải quan: nhanh chóng thông quan hàng hóa xuất khẩu với các quy trình
nghiệp vụ hải quan ngày một hoàn thiện, áp dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, phân
loại hàng hóa theo mức độ quan trọng để thông quan nhanh những hàng hóa thông
thường.
* Cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tầng (kết cấu hạ tầng) cơ bản trong nền kinh tế như điện, hệ
thống giao thông - vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không) và các dịch
vụ hỗ trợ như dịch vụ kho, cảng, sân bay… có ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh

PHÂN ĐOẠN THỊ TRƯỜNG MỚI CHO XUẤT KHẨU HÀNG HÓA

Trong quá trình khai thác và phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa, các quốc gia có thể
phân chia thị trường hay phân đoạn thị trường thế giới theo các tiêu thức khác nhau. Việc
phân đoạn thị trường là một trong số những có sở để xác định thị trường mới. Dưới đây là
một số tiêu thức:
- Căn cứ vào vị trí địa lý: có thể chia thị trường thế giới thành các thị trường châu lục, thị
trường khu vực và thị trường quốc gia - vùng lãnh thổ.
- Căn cứ vào lịch sử quan hệ ngoại thương có thể chia thành thị trường truyền thống, thị
trường hiện có, thị trường mới và tiềm năng.
- Căn cứ vào mức độ quan tâm và tính ưu tiên trong chính sách phát triển thị trường của
nước xuất khẩu có thể chia thị trường thành các nhóm:
+ Thị trường xuất khẩu trọng điểm hay thị trường chính. Đối với loại thị trường này,
trong các quan hệ ngoại thương, nước xuất khẩu có thể phải chấp nhận một số thiệt thòi
về lợi ích trước mắt để có thể thu được lợi ích lâu dài (nhất là trong đàm phán ký kết các
hiệp định thương mại cấp Chính phủ). Đây là những thị trường mà một nước sẽ nhằm vào
khai thác chính và trong một tương lai lâu dài.
+ Thị trường xuất khẩu tương hỗ. Đối với loại thị trường này, nước xuất khẩu duy trì
quan hệ giao thương theo nguyên tắc tương hỗ - tức là hai nước có quan hệ ngoại thương
dành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng tương hỗ, có đi có lại, nhất là trong việc mở
rộng thị trường.
- Căn cứ vào dung lượng và sức mua của thị trường có thể phân loại thị trường thành thị
trường xuất khẩu có sức mua lớn, thị trường có sức mua trung bình, thị trường cso sức
mua thấp.
- Căn cứ vào trình độ phát triển, có thể phân loại thị trường thành các nhóm như nhóm
các nước công nghiệp phát triển, nhóm các nền kinh tế mới công nghiệp hoá (nhóm
NIEs) và nhóm những nước đang phát triển.
- Căn cứ vào kim ngạch xuất – nhâp khẩu có thể phân loại thị trường thành thị trường
xuất siêu và thị trường nhập siêu.
- Căn cứ vào mức độ mở cửa của thị trường, mức bảo hộ, tính chặt chẽ và khả năng thâm

hoá của nước xuất khẩu có thể tiếp cận hiệu quả nhất tới thị trường “đích”.
V.

KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MỚI CHO XUẤT KHẨU HÀNG

HOÁ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.

Kinh nghiệm của Nhật Bản

Sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế trong những năm 50 và 60 đã đưa Nhật Bản trở
thành một trong những nền kinh tế hàng đầu trên thế giới. Những yếu tố quan trọng tạo
nên sự thần kỳ của kinh tế Nhật Bản là việc thực thi các chính sách công nghiệp và
thương mại đúng đắn cộng với môi trường quốc tế thuận lợi, trong đó sự mở rộng thị
trường xuất khẩu mới cho hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản bên cạnh chiến lược chú
trọng phát triển thị trường xuất khẩu trọng điểm.
Theo tài liệu thống kê “Nippon: A Charted Survey of Japan”, trong thời kỳ 1960 - 1993,
kim ngạch xuất khẩu của Nhật bản đã tăng từ 4.1 tỷ USD (1960) lên tới 361 tỷ USD
(1993). Cán cân thương mại của Nhật Bản từ chỗ thâm hụt 0,4 tỷ USD năm 1960 đã

/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/esv1526360035-1276199-15263600351995/esv1526360035.doc

11


chuyển sang thặng dư từ cuối những năm 60 và đạt 120 tỷ USD vào năm 1993. Đến năm
2000, giá trị xuất khẩu của Nhật Bản là 479,3 tỷ USD, chiếm khoảng 7,6% tổng giá trị
xuất khẩu của thế giới, đứng hàng thứ 3 trên thế giới sau Hoa Kỳ, Đức và thặng dư
thương mại là 99,9 tỷ USD.

1.
2.
3.
B
4.
5.
6.
7.

Các hệ thống cho vay vốn ưu đãi
Hệ thống hoá đơn trước xuất khẩu
Hệ thống hoá đơn thương mại xuất khẩu
Hệ thống cho vay ngoại tệ được đảm bảo
Hệ thống cho vay trao đổi ngoại tệ
Hệ thống tái chiết khấu các hoá đơn trao đổi ngoại tệ
HTTCK các HĐ đến thời hạn TT bằng đồng Yên
Tín dụng T.mại dài hạn của ngân hàng XNK Nhật Bản
Miễn giảm thuế và trợ cấp xuất khẩu gián tiếp
Giảm thuế thu nhập từ xuất khẩu
Miễn thuế đối với phần thu nhập do tăng xuất khẩu
Hệ thống trợ cấp mất giá do tăng xuất khẩu
Miễn giảm thuế và trợ cấp xuất khẩu gián tiếp
Miễn thuế đối với thu nhập xuất khẩu kỹ thuật
Trợ cấp cho việc mở các chi nhánh ở nước ngoài
Quỹ dự phòng phát triển thị trường ở nước ngoài
Quỹ dự phòng tổn thất đầu tư ở nước ngoài

/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/esv1526360035-1276199-15263600351995/esv1526360035.doc

12

vừa mở rộng thị trường xuất khẩu mới, vừa tận dụng đến mức tối đa thị trường trong
nước.
Việc mở rộng thị trường xuất khẩu mới của Nhật Bản, cùng với sự thúc đẩy của hệ thống
các biện pháp khuyến khích xuất khẩu trên đây còn được hỗ trợ bằng việc thực hiện các
biện pháp chủ yếu, như: Trong thời kỳ tăng trưởng nhanh, khi thị trường tiêu thụ hàng
hoá, đặc biệt là các thị trường xuất khẩu mới, còn chưa phát triển, Chính phủ Nhật Bản
đã có những chính sách nhằm khuyến khích và thúc đẩy sự mở rộng của thị trường. Việc
mở rộng thị trường xuất khẩu mới được thực hiện bằng những nỗ lực tối đa để có thể
tham gia vào các tổ chức và các diễn đàn kinh tế quốc tế, kể cả việc phải nhượng bộ ở
mức độ nào đó mà sự thể hiện rõ nhất là trong mối quan hệ giữa Nhật Bản và GATT.
Thông qua đó, hàng hóa của Nhật Bản đã có nhiều cơ hội đặt chân vào các thị trường mà
trước đây rất khó có thể đặt chân bằng những biện pháp tiếp cận thị trường thuần túy.
Vấn đề đặt ra là tại sao Chính phủ Nhật Bản lại muốn tham gia vào các hiệp ước và các tổ
chức kinh tế - thương mại quốc tế (IMF, WB, GATT, OECD) trong khi triết lý thương
mại truyền thống cũng như hệ thống các chính sách kinh tế của Nhật Bản lại có những
khác biệt so với triết lý và những nguyên tắc cơ bản của các hiệp ước và các tổ chức quốc
tế này? Điều này được Ryutaro và Motoshige lý giải là: (1) các quan chức Nhật Bản
muốn phát triển thị trường xuất khẩu trên khắp thế giới bằng cách tham gia trực tiếp vào
các hiệp ước và các tổ chức quốc tế; (2) việc tự do hoá nhập khẩu và trao đổi ngoại tệ là
cái giá cần thiết hoặc ”sự hy sinh” mà Nhật Bản phải trả để có thể lợi dụng các khả năng
tài chính của IMF và WB.
Đối với Nhật Bản, vào cuối những năm 50, sản xuất trong nước đã được cải thiện một
cách đáng kể, khả năng xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp mới cũng ngày càng tăng
lên. Việc trở thành thành viên đầy đủ của GAAT đã giúp Nhật Bản được cư xử theo Điều
khoản Tối Huệ Quốc. Nhờ đó, năm 1955, khi Nhật Bản mới ra nhập GATT, xuất khẩu
của Nhật Bản chỉ chiếm khoảng 2,4% tổng xuất khẩu của các nước phương Tây, nhưng
đến năi8m 1970 đã tăng lên 6,9% và 1982 là 9,1%(1).
1

Sè liÖu cña Ng©n hµng NhËt B¶n

Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Hiện nay, Hàn Quốc là một trong những nền kinh tế được xếp vào hàng ngũ mới công
nghiệp hóa (NICs). Quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc có thể chia làm 3 thời kỳ:
một là, thời kỳ tái thiết đất nước và thực hiện công nghiệp hóa, thay thế nhập khẩu (1953
– 1961); hai là, thời kỳ chuyển từ định hướng phát triển thay thế nhập khẩu sang hướng
về xuất khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu (1962 – 1989); ba là, thời kỳ tự do hoá và toàn cầu
hoá nền kinh tế (từ 1990 đến nay).
Nhìn chung, nền kinh tế Hàn Quốc đã có sự thành công lớn nhờ bước chuyển từ thay thế
nhập khẩu sang hướng về xuất khẩu. Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của Hàn Quốc
trong thời kỳ chuyển hướng chính sách này (1962 – 1989) như sau: 1, tốc độ tăng trưởng
GDP, 1962 - 2,1%, 1971 - 8,5% và 1979 – 7,1%; 2, tỷ trọng xuất khẩu /GDP, 1962 2,4%, 1971 – 11,2% và 1979 – 24,4%; 3, GDP bình quân đầu người, 1962 – 87 USD,
1971 – 289 USD và 1979 – 1647 USD.
Quá trình đẩy mạnh xuất khẩu của Hàn Quốc thành công không chỉ xuất phát từ bối cảnh
kinh tế thế giới có phần thuận lợi, mà còn phải kể đến các chính sách hỗ trợ của Nhà

/storage1/vhost/convert.123doc.vn/data_temp/document/esv1526360035-1276199-15263600351995/esv1526360035.doc

14


nước trong quá trình hướng về xuất khẩu. Những kinh nghiệm của Hàn Quốc về chính
sách thúc đẩy xuất khẩu, như:
Về thể chế, trong thập kỷ 90, Hàn Quốc đã thành lập Uỷ ban kế hoạch kinh tế (EPB) để
điều phối các chiến lược phát triển kinh tế hướng ngoại do Phó Thủ tướng Chính phủ trực
tiếp điều hành. EPB không chỉ lập các kế hoạch phát triển tầm dài hạn và ngắn hạn, mà
còn tham gia trực tiếp vào quá trình thực hiện và kiểm soát hiệu quả các nguồn lực. Cùng
với cơ quan EPB, Hàn Quốc cũng đã thành lập Liên đoàn các nhà công nghiệp Hàn Quốc
(KFI) và Uỷ Ban thúc đẩy xuất khẩu Hàn Quốc (KOTRA) nhằm tạo mối liên kết chặt chẽ
giữa Chính phủ và doanh nghiệp. Đồng thời, Hiệp hội các nhà thương mại Hàn Quốc


15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status