ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƢỜNG ĐH KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP.HCM
----------o0o----------
LƢU HỒNG SƠN
ĐÀO UYÊN MINH Ở VIỆT NAM
– NHÌN TỪ LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN
Chuyên ngành: Lýluận Văn học
Mãsố: 62.22.32.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
TP.HCM - năm 2018
Công trình đƣợc hoàn thành tại:
Trƣờng Khoa học Xãhội và Nhân văn TP.HCM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Nguyễn Đình Phức
2. PGS.TS. Trần LêHoa Tranh
Phản biện 1:………………………………………………
Phản biện 2:………………………………………………
Phản biện 3:…………………………………………………
Luận án sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo họp tại:
…………………………………………………………………………………………..
vào hồi………….. giờ………… ngày…………. tháng……………. năm……….
Cóthể tìm hiểu luận án tại thƣ viện:
2.1.1. Bối cảnh ra đời ................................................................................7
2.1.2. Cơ sở lýluận ...................................................................................7
2.1.3. Những đặc điểm lýluận chủ yếu ....................................................7
2.2. Hai khuynh hƣớng lýluận .....................................................................7
2.2.1. Lýthuyết tiếp nhận của Hans Robert Jauss .................................... 7
2.2.1.1. Cuộc đời vàhoạt động học thuật ..............................................7
2.2.1.2. Những luận điểm cơ bản.......................................................... 7
2.2.1.2.1. Ngƣời đọc làm nên lịch sử văn học ...................................7
2.2.1.2.2. Kinh nghiệm thẩm mỹ làvấn đề trung tâm .......................8
2.2.1.2.3. Giải thích học văn học .......................................................8
2.2.1.2.4. Lịch sử văn học là quá trình giao lƣu ................................8
2.2.2. Lýthuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser ...........................................8
2.2.2.1. Cuộc đời vàhoạt động học thuật .............................................9
2.2.2.2. Các luận điểm cơ bản .............................................................. 9
2.2.2.2.1. Hành động đọc ...................................................................9
2.2.2.2.2. Hành động hƣ cấu ............................................................10
Tiểu kết .......................................................................................................10
Chƣơng 3: Những tiếp xúc đầu tiên của văn nhân Việt Nam với Đào
Uyên Minh ..............................................................................11
3.1. Khảo sát qua sử liệu .............................................................................12
3.1.1. Sử liệu về khoa cử ........................................................................12
3.1.2. Sử liệu về việc truyền nhập kinh Phật ..........................................12
3.2. Khảo sát qua văn liệu ...........................................................................12
3.2.1. Văn liệu - Tác phẩm .....................................................................12
3.2.2. Văn liệu - Thƣ mục tác phẩm, Tuyển bản ....................................12
3.2.3. Văn liệu - Thi luận ........................................................................13
Tiểu kết .......................................................................................................13
Chƣơng 4: Đào Uyên Minh với nhân sinh quan và tinh thần nghệ
Đông Á trên cả hai bình diện: nhân sinh quan và sáng tác, quan niệm nghệ
thuật. Ở Việt Nam, Đào Uyên Minh xuất hiện từ thời kỳ đầu của nền văn học
viết vàduy trìảnh hƣởng của mình trong suốt nghìn năm lịch sử văn học trung
đại. Ông đã góp phần làm thay đổi diện mạo văn học Việt Nam vàquan niệm
nhân sinh của văn nhân Việt Nam.Vìvậy Đào Uyên Minh không chỉ là một
hiện tƣợng văn học đặc biệt, màcòn làmột hiện tƣợng văn hóa thực sự quan
trọng cần đƣợc nghiên cứu lýgiải, thế nhƣng thực tế cho đến nay vẫn chƣa xuất
hiện một công trình quy mô nào nghiên cứu về quan hệ giữa Đào Uyên Minh
và văn học Việt Nam. Đề tài này ra đời mong muốn góp một phần vào việc bổ
khuyết ấy.
0.2. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu tập trung của luận án là quá trì
nh tiếp nhận Đào
Uyên Minh trong văn học trung đại Việt Nam. Cùng với bình diện vĩ mô theo
lịch đại, luận án đồng thời kết hợp với nghiên cứu vi mô, chúývào một số vấn
đề đặc biệt: Thời điểm và con đƣờng Đào Uyên Minh du nhập Việt Nam; mối
liên hệ giữa Đào Uyên Minh và nhân sinh quan của văn nhân Việt Nam thông
qua khảo sát sâu hai biểu tƣợng “hoa cúc” và “Đào nguyên”; mối liên hệ giữa
Đào Uyên Minh và quan niệm nghệ thuật của các văn nhân Việt Nam thông
qua nghiên cứu những ýkiến đánh giá về văn học cóliên hệ trực tiếp hoặc gián
tiếp với Đào Uyên Minh.
0.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi vấn đề về lý luận: Luận án giới thiệu lý thuyết tiếp nhận trƣờng
phái Konstanz (Đức) dựa vào những công trình thu thập đƣợc vàchọn lọc ra,
phần quan trọng trong đó là các tài liệu do ngƣời Trung Quốc dịch và các
nghiên cứu về trƣờng phái Konstanz ở Trung Quốc.
Phạm vi nghiên cứu ứng dụng: Luận án nghiên cứu tiếp nhận Đào Uyên
Minh trong văn học Việt Nam từ thời Lý đến thời Nguyễn cuối thế kỷ XIX trên
các vấn đề cụ thể: Những giao lƣu tiếp xúc đầu tiên của văn nhân Việt Nam với
Đào Uyên Minh, quan hệ biện chứng giữa văn nhân Việt Nam thời trung đại và
đặc điểm lýluận của trƣờng phái Konstanz màcác học giả trên thế giới đã tổng
kết vàchỉ ra; (2) Giới thiệu một số lý luận, quan điểm trong nghiên cứu tiếp
nhận của H.R. Jauss và W. Iser về tầm đón đợi, kinh nghiệm thẩm mỹ, giải
thích học văn học, giao lƣu văn học, hành động đọc, xử lý văn bản, hƣ cấu
nghệ thuật. Đồng thời chọn lọc ứng dụng một số luận điểm phùhợp vào nghiên
cứu thực tiễn tiếp nhận Đào Uyên Minh trong văn học trung đại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, luận án đặt ra vàgiải quyết một vấn đề thiết yếu nhƣng
chƣa đƣợc chú ý là mối quan hệ giữa Đào Uyên Minh và văn học truyền
thốngViệt Nam. Nghiên cứu quátrình tiếp nhận Đào Uyên Minh ở Việt Nam sẽ
góp phần hữu ích vào việc lýgiải mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn
học Trung Quốc trên nhiều bình diện quan trọng của việc độc giả Việt Nam đã
tiếp nhận vàxử lý tác giả tác phẩm ngoại lai nhƣ thế nào. Đào Uyên Minh là
một vấn đề học thuật mang tính quốc tế, vìvậy nghiên cứu đề tài này cũng là
một cách thức tốt để tiếp cận và giao lƣu học thuật với thế giới.
0.6. CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận án đƣợc chia thành 4
chƣơng nhƣ sau:
Chương 1. Nghiên cứu Đào Uyên Minh trên thế giới và ở Việt Nam: Giới
thiệu những thành tựu tiêu biểu trong nghiên cứu Đào Uyên Minh trên thế giới
vàở Việt Nam. Từ đó cho thấy những điểm kế thừa từ các nghiên cứu cũ và
hƣớng đi mới của luận án.
Chương 2. Lýthuyết tiếp nhận trường phái Konstanz: Giới thiệu cơ sở lý
luận của luận án. Phần thứ nhất trình bày một số thông tin về bối cảnh ra đời,
3
quátrình phát triển và đặc điểm lýluận của trƣờng phái Konstanz. Phần thứ hai
giới thiệu những đóng góp, thành tựu lýluận của hai ngƣời sáng lập đồng thời
lànhân vật tiêu biểu trong suốt quátrì
Số lƣợng công trì
nh nghiên cứu Đào Uyên Minh ở Trung Quốc và Đài
Loan tính từ đầu thế kỷ XX đến nay hiện đã lên đến hàng nghìn khó thống kê
chi tiết, “Đào học” trở thành một ngành nghiên cứu thu hút đƣợc sự quan tâm
của học giới vàphát triển liên tục theo nhiều đƣờng hƣớng phƣơng pháp khác
nhau và đều cónhững thành tựu đáng chú ý. Riêng về các công trình tiêu biểu
nghiên cứu Đào theo hƣớng tiếp nhận gần đây ở Trung Quốc, thấy: Lịch sử tiếp
nhận Đào trước thời Nguyên 元前陶渊明接受史 của LýKiếm Phong, Nghiên
cứu tiếp nhận Đào thời Đường 唐代陶渊明接受研究 của Lƣu Trung Văn, Đào
4
Uyên Minh và văn học điền viên sơn thủy cổ điển Hàn Quốc 陶渊明与韩国古
典山水田园文学 của Thôi Hùng Quyền, Nghiên cứu tiếp nhận Đào ở Trung
Quốc và nước ngoài thời hiện đại 中外现代陶渊明接受之研究 của Điền Tấn
Phƣơng, Nghiên cứu Đào trong thế giới Anh ngữ 英语世界的陶渊明研究 của
NgôPhục Sinh. Ở Đài Loan là các công trình: Nghiên cứu Đào học thời Tống –
một phân tích về trường hợp lịch sử tiếp nhận văn học 宋代陶學研究: 一個文
學接受史個案的分析 của La TúMỹ, Thi học nhân cảnh của Đào 陶淵明的人
境詩學 của Thái Du. Đài Loan là nơi dịch các nghiên cứu tiêu biểu của nƣớc
ngoài về Đào Uyên Minh sớm hơn Trung Quốc, vídụ: Đào Uyên Minh – thế
tục và siêu tục 陶淵明--世俗と超俗 của Okamura Shigeru (Nhật), Reading
Tao Yuanming của Wendy Swartz (Mỹ).
1.1.2. Tại Hàn Quốc vàNhật Bản
- Tại Hàn: Nghiên cứu Đào Uyên Minh bắt đầu từ thập niên 1950, dịch
thuật từ thập niên 1970. Hiện có ít nhất 4 luận văn thạc sĩ và 4 luận án tiến sĩ
lấy Đào Uyên Minh là đề tài và hàng trăm bài viết liên quan đến Đào Uyên
Minh. Các công trì
nh mới nhất: Tì
5
Stephen Owen chú ý đến tính chất tự truyện trong sáng tác của Đào. Gần đây
có nghiên cứu đáng chú ý: Reading Tao Yuanming: Shifting Paradigms of
Historical Reception (427-1900) của Wendy Swartz (2008), The Transport of
Reading: Text and Understanding in the World of Tao Qian (365-427) của
Robert Ashmore (2010); đóng góp quan trọng của các nghiên cứu này làsự chú
ý đến việc kiến tạo Đào Uyên Minh cùng cơ chế kiến tạo đó của các độc giả,
mối quan hệ giữa văn hóa đọc vàgiải thích thời Ngụy Tấn và Đào Uyên Minh.
1.1.4. Tại Đức, Pháp, Nga
Đức, Pháp, Nga là những quốc gia có lịch sử nghiên cứu Hán học lâu đời,
tuy vậy chúng tôi không tìm thấy các nghiên cứu về Đào. Chỉ thấy một số
thông tin về Tau Yuean Ming: Leben und Dichtung (Đào Uyên Minh: cuộc đời
và thi ca) của Anna Bernhardi và Erwin von Zach (1912), Das Motiv der Wolke
in der Dichtung Tao Yuanmings của Maria Rohrer (1992) tìm hiều chủ đề ẩn cƣ
trong sáng tác của Đào qua hinh ành motip Mây Mây. Đào Uyên Minh lần đầu
tiên xuất hiện qua bản tiếng Pháp năm 1948, gần hơn thấy bài Esquisse d’une
poetique des nuages (Phác họa một áng mây thơ mộng, 1994), Jean Pierre
Diény đã đi ngƣợc lại dòng thơ ca Trung Quốc, tái lập lại một cách khái quát
lịch trình vàtính phức hợp đa nghĩa của hình ảnh Mây. Ngƣời có nhiều thành
tựu đáng chú ý trong nghiên cứu Đào Uyên Minh ở Nga là Eydlin với các tập:
Thơ trữ tình Đào Uyên Minh (1964), luận án tiến sĩ Đào Uyên Minh và thơ ca
(1969), Đào Uyên Minh thi ca tập (1972). tìm hiểu quan niệm của Đào Uyên
Minh đối với tự nhiên và thái độ của ông Đào đối với vấn đề sinh tử vàchỉ ra
tính phức tạp trong thế giới quan của Đào Uyên.
1.2. NGHIÊN CỨU ĐÀO UYÊN MINH Ở VIỆT NAM
Phần này gồm 2 tiểu mục:
1.2.1. Tì
nh hì
nh nghiên cứu Đào Uyên Minh của các học giả Việt Nam
dụng lý thuyết tiếp nhận trƣờng phái Konstanz vào nghiên cứu. Nhƣng đáng
chú ý làcác nghiên cứu này cũng chỉ mới dừng lại chủ yếu ở gợi ý của H.R.
Jauss về “tầm đón nhận”.
Thứ ba, việc nghiên cứu Đào Uyên Minh ở các quốc gia khác trong vùng
văn hóa chữ Hán nhƣ Hàn Quốc, Nhật Bản cũng đạt đƣợc nhiều kết quả quan
trọng về văn bản, giải thích, ảnh hƣởng. Việc nghiên cứu Đào Uyên Minh ở
Nhật Bản có nhiều điểm đáng chú ý, bởi các học giả Nhật đã đƣa ra đƣợc
những quan điểm và phƣơng pháp tiếp cận Đào Uyên Minh mới, tạo nên một
xu hƣớng chung khá nổi bật nhƣ là “trƣờng phái Nhật” trong Đào học, là
nghiên cứu sâu vào “tính hƣ cấu” trong cả con ngƣời vànghệ thuật sáng tác của
Đào Uyên Minh.
Thứ tư, việc nghiên cứu Đào Uyên Minh ở các quốc gia Âu, Mỹ cũng đạt
đƣợc nhiều thành tựu đáng kể cả về phƣơng diện dịch thuật, chú giải lẫn
phƣơng diện nghiên cứu chuyên sâu với nhiều cách tiếp cận mới mẻ, khám phá
nhiều khía cạnh, giátrị của Đào Uyên Minh. Trong số này, Mỹ là nƣớc cólịch
sử nghiên cứu Đào Uyên Minh muộn nhất nhƣng hiện tại đang có nhiều đóng
góp đáng chú ý, nhất làvề phƣơng diện nghiên cứu văn bản cũng nhƣ phƣơng
diện nghiên cứu độc giả.
Thứ năm, việc nghiên cứu Đào Uyên Minh ở Việt Nam so với tất cả quốc
gia khác kể trên, đều cómột khoảng cách rất lớn. Cho đến nay, việc nghiên cứu
Đào Uyên Minh ở nƣớc ta mới chỉ ở bƣớc khởi đầu.
Đề tài này kế thừa thành quả của các nhànghiên cứu đi trƣớc, trên cơ sở
đó, nỗ lực tìm kiếm một phƣơng hƣớng mới trong nghiên cứu Đào Uyên Minh
ở Việt Nam trên một số gợi ýtừ lýthuyết tiếp nhận Konstanz Đức. Từ đó góp
phần chỉ ra những đặc điểm cũng nhƣ phát hiện, đóng góp của độc giả Việt
Nam đối với việc tiếp nhận Đào Uyên Minh.
Chƣơng 2
LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN TRƢỜNG PHÁI KONSTANZ
Lý thuyết tiếp nhận trƣờng phái Konstanz ra đời cuối thập niên 1960 tại
đại học Konstanz ở Tây Đức do các nhànghiên cứu, giáo sƣ đại học nhƣ H.R.
trò trung tâm của lý luận Konstanz. Thứ ba, trong quá trình tiếp nhận
Konstanz đề cao vai trò mang tính quyết định của độc giả, nhƣng vẫn lƣu ý
đến sự chế ƣớc từ phía văn bản tác phẩm.
2.2. Hai khuynh hƣớng lýluận
2.2.1. Lýthuyết tiếp nhận của Hans Robert Jauss
2.2.1.1. Cuộc đời vàhoạt động học thuật
Jauss làchuyên gia về văn học Pháp, là ngƣời lập thuyết cho trƣờng phái
tiếp nhận Konstanz. Ông tập trung nghiên cứu tính lịch sử của văn học. Tác
phẩm tiêu biểu: Was heißt und zu welchem Ende studiert man Literaturgeschichte? thành Literaturges-chichte als Provokation der Literaturwissen-schaft
(Lịch sử văn học nhƣ là sự thách thức khoa học văn học, 1967-1970),
Ästhetische Erfahrung und literarische Hermeneutik (Kinh nghiệm thẩm mỹ
vàgiải thích học văn học, 1977 -1982).
2.2.1.2. Những luận điểm cơ bản của Jauss
2.2.1.2.1. Người đọc làm nên lịch sử văn học. Jauss cho rằng dựa vào
nghiên cứu độc giả làcách tốt nhất để kiến tạo môhình nghiên cứu mới. Theo
ông, tính lịch sử của văn học không phải đƣợc quyết định bởi sự sắp xếp các
sự thực văn học đối với “quá khứ thần thánh”, mà đƣợc quyết định bởi kinh
8
nghiệm vốn cócủa độc giả đối với tác phẩm văn học. Nghĩa là, Jauss dựa vào
tầm đón đợi của độc giả vàsự thay đổi khái niệm này để miêu tả lịch sử văn
học theo lịch sử tiếp nhận. Tại đây, khái niệm “tầm đón đợi” đã đƣợc Jauss
dẫn dụng vàthông qua khái niệm này nối kết tác giả, tác phẩm và độc giả lại
với nhau, đồng thời nối kết diễn biến của văn học với diễn tiến xãhội.
2.2.1.2.2. Kinh nghiệm thẩm mỹ làvấn đề trung tâm trong nghiên cứu
lịch sử tiếp nhận. Từ diễn giải của Jauss, chúng ta có thể nói rằng, "Kinh
nghiệm thẩm mỹ” là trải nghiệm sinh ra từ sự tác động qua lại giữa chủ thể
với đối tƣợng, nhƣng cách hiểu này mang tính phổ biến, không phải phát hiện
thông qua trung gian giao lƣu văn học. Nhƣ vậy, giao lƣu theo Jauss là một
khâu thuộc về môi giới nhƣng có ý nghĩa quan trọng trong việc kết nối giữa
khâu sáng tác vàkhâu tiếp nhận, tạo nên sự vận hành cho lịch sử văn học. Ông
đã xây dựng môhình kết cấu giao lƣu trong tiếp nhận văn học gồm 5 lớp: Kết
hợp (associative), Ngƣỡng mộ (admiring), Đồng cảm (sympathetic), Thanh
tẩy (cathartic), Mỉa mai (ironic). Mô hình này làkết quả từ những khái quát
tổng kết lịch sử tiếp nhận, nó cung cấp một khung lý thuyết nghiên cứu mối
quan hệ giữa độc giả vàtác phẩm.
2.2.2. Lýthuyết tiếp nhận của Wolfgang Ise
9
2.2.2.1. Cuộc đời vàhoạt động học thuật
Iser làchuyên gia về văn học Anh – Mỹ, đồng thời là ngƣời lập thuyết thứ hai
của trƣờng phái Konstanz. Ông quan tâm đến những phản ứng của độc giả và
mối quan hệ biện chứng giữa văn bản – độc giả. Tác phẩm tiêu biểu:
Die Appellstruktur der Texte: Unbestimmtheit als Wirkungsbedingung
literaris-cher Prosa (Kết cấu vẫy gọi của văn bản: Tí
nh bất xác định nhƣ là
điều kiện cho văn xuôi sinh ra hiệu quả, 1970); Der implizite Leser:
Kommunikations formen des Romans von Bunyan bis Beckett (Độc giả hàm
ẩn: Phƣơng thức giao lƣu từ Bunyan đến tiểu thuyết Beckett, 1972); Der Akt
des Lesens. Theorie ästhetischer Wirkung (Hành động đọc: Lýluận phản ứng
thẩm mỹ, 1976), ); Das Fiktive und das Imaginäre. Perspektiven literarischer
Anthropologie (Hƣ cấu và tƣởng tƣợng: ranh giới của nhân học văn học,
1991).
2.2.2.2. Các luận điểm cơ bản
2.2.2.2.1. Hành động đọc
Iser quan niệm: “Chỉ khi đƣợc đọc, văn bản văn học mới sinh ra hiệu quả,
động cơ ngoài văn bản, còn văn bản chỉ đƣợc xem nhƣ phƣơng tiện để thực
hiện ý đồ, động cơ ấy.
2.2.2.2.2. Hành động hƣ cấu
Bản chất của văn bản văn học theo Iser không phải chỉ là hƣ cấu vàlàthứ
hƣ cấu đối lập với hiện thực nhƣ ngƣời ta vẫn nghĩ và tin. Vìthế, Iser đề nghị
vứt bỏ quan điểm đối lập hƣ cấu – hiện thực, mà thay vào đó là quan điểm
thống nhất giữa ba nhân tố hiện thực, hƣ cấu và tƣởng tƣợng, ông cho rằng
đây mới là đặc trƣng cơ bản của văn bản, đồng thời cũng là cơ sở tồn tại của
văn bản văn học. Bởi theo Iser, ba nhân tố này có chức năng tác dụng riêng,
nhƣng có sự giao thoa hòa trộn thống nhất để tạo nên văn bản. Iser cho rằng,
trong “bộ ba” kể trên, thì hƣ cấu lànhân tố đóng vai trò quan trọng nhất, bởi
nósiêu việt hiện thực và định hình tƣởng tƣợng.
Trên cơ sở phân tí
ch những đặc tí
nh của văn bản vàvai trò của hƣ cấu
nhƣ thế, Iser đã đƣa đến những kết luận quan trọng trả lời cho vấn đề màông
đặt ra khi nghiên cứu nhân học văn học là: Tại sao con ngƣời lại cần đến văn
học và yêu thí
ch nó, dù biết nó là thứ hƣ cấu? Đó là: “Hành vi hƣ cấu của
chúng ta đƣa chúng ta đi thật xa khỏi thế giới này cũng nhƣ trạng thái vốn có
của chúng ta, đến một thế giới tƣởng tƣợng”.
Tiểu kết Chƣơng 2
Đóng góp quan trọng nhất của trƣờng phái Konstanz làchuyển trung tâm
chú ý trong nghiên cứu văn học từ tác giả, văn bản sang độc giả, xem ngƣời
tiếp nhận có vai trò mang tí
nh quyết định trong việc tạo nên cuộc đời vàsức
sống, giátrị của văn học. Trên cơ sở kế thừa thành tựu của nhiều lýthuyết lý
luận triết học, mỹ học, văn nghệ khác, các nhàKonstanz đã xây dựng đƣợc
một hệ thống lý thuyết riêng, có đóng góp mang tính quốc tế về nghiên cứu
văn bản trong hoạt động tiếp nhận.
Thời kỳ đầu, lýluận của của Iser tập trung vào việc tìm hiểu quá trình đọc
cũng nhƣ quá trình xử lý văn bản của độc giả. Ở đây không chỉ có vấn đề
ngƣời đọc cải tạo văn bản mà đồng thời với nócòn cóvấn đề văn bản cải tạo
ngƣời đọc, tức làmột mối quan hệ hai chiều, một quá trình mang tính biện
chứng tác động qua lại lẫn nhau giữa ngƣời tiếp nhận và văn bản. Cũng có
nghĩa là đồng thời với vấn đề độc giả đã đọc văn bản nhƣ thế nào? vàvấn đề
văn bản đã “đọc” (cải biến) độc giả ra sao?
Trong thời kỳ thứ hai, Iser tập trung nghiên cứu nguyên nhân cũng nhƣ
mục đích con ngƣời tìm đến với văn học vàphát hiện ra vai tròquan trọng của
hành động hƣ cấu, tƣởng tƣợng trong vấn đề này. Theo đó, hƣ cấu và tƣởng
tƣợng giúp con ngƣời mở rộng, siêu việt những giới hạn trong hiện thực, tự
sáng tạo nên chính mình vàthế giới, từ đó tìm thấy tự do, thoát khỏi những
trói buộc vàbất mãn ở thực tại.
Mặc dù còn nhiều ý kiến bất đồng và phê phán, nhƣng đến nay lý thuyết
tiếp nhận Konstanz vẫn thể hiện đƣợc vai trò vàgiátrị quan trọng của mình
trong đời sống văn học, trên cả phƣơng diện lý thuyết và phƣơng diện thực
tiễn vận dụng lýthuyết vào nghiên cứu các trƣờng hợp, vấn đề văn học cụ thể.
Đây cũng là những cơ sở lýthuyết, những luận điểm cơ bản màtrong các
chƣơng sau sẽ ứng dụng triển khai vàlý giải các vấn đề cụ thể của luận án:
Các văn nhân Việt Nam đã tiếp xúc với Đào Uyên Minh nhƣ thế nào?, Tại sao
văn nhân Việt Nam lựa chọn và yêu thích Đào Uyên Minh và tác phẩm của
ông?.
Chƣơng 3
NHỮNG TIẾP XÚC ĐẦU TIÊN CỦA VĂN NHÂN VIỆT NAM
VỚI ĐÀO UYÊN MINHH
Thông qua việc khảo sát các thông tin từ sử liệu cổ (Việt sử lược, An Nam
chí lược, Đại Việt sử ký toàn thư) và văn liệu qua các thời kỳ, chúng tôi chỉ ra
những sự tiếp xúc đầu tiên giữa văn nhân Việt Nam và Đào Uyên Minh thông
qua việc khảo sát vấn đề thời điểm, con đƣờng và phƣơng thức Đào Uyên Minh
thời Lývới hình ảnh “ly hạ trùng dƣơng cúc” (hoa cúc bờ rào tiết Trùng dƣơng)
thế kỷ XI, đƣợc ghi chép lại trong sách Thiền uyển tập anh. Và đến thời Trần,
việc tiếp nhận Đào Uyên Minh trong văn học Việt Nam đã thể hiện rõqua hình
ảnh hoa cúc trong các bài thơ vịnh hoa cúc của Đỗ Khắc Chung và Huyền
Quang cuối thế kỷ XIII – đầu thế kỷ XIV. Phân tích văn liệu tác phẩm cũng
cho biết, đến thời Trần các văn nhân Việt Nam đã đƣa Đào Uyên Minh vào
sáng tác cụ thể, nhƣng đến thời Hồ và đầu thời Lêmới thấy rõ khả năng văn
nhân Việt Nam tiếp xúc trực tiếp với văn bản tác phẩm Đào nhƣ qua điển hình
Nguyễn Phi Khanh vàNguyễn Trãi. Tức làviệc đọc Đào lúc này đã bƣớc vào
giai đoạn cóchọn lọc vàsáng tạo rõràng.
3.2.2. Văn liệu - Thƣ mục tác phẩm, Tuyển bản
Khảo sát văn liệu tuyển bản (Cổ văn hợp tuyển 古文合選 do Vũ Tông
Phan soạn, Lịch đại thi tuyển 歷代詩選 do Nguyễn Miên Thẩm soạn) và thƣ
mục (Bắc thư Nam ấn bản thư mục 北書南印版書目, Tân thư viện thủ sách 新
書院守册, Nội các thủ sách 內閣守册, Nội các thư mục 內閣書目, Tụ Khuê
thư viện tổng mục sách 聚奎書院總目册) cho thấy đến thời Nguyễn, văn bản
13
tác phẩm của Đào Uyên Minh và các tài liệu hỗ trợ, bổ sung cho việc đọc, lý
giải Đào Uyên Minh nhƣ chú, tiên, bình, giải Đào tập rất phổ biến ở Việt Nam.
3.2.3. Văn liệu – Thi luận
Khảo sát văn liệu thi luận cho thấy, chậm nhất là đến thế kỷ XVIII Đào
Uyên Minh đã đƣợc các nhàphêbình Việt Nam chú ý nhƣ một ngƣời có ảnh
hƣởng đáng kể đến tinh thần nghệ thuật cũng nhƣ quan niệm thẩm mỹ của văn
nhân nƣớc ta. Tài liệu khởi đầu cho thi luận Việt Nam có đề cập đến Đào Uyên
Minh hiện chúng tôi tìm đƣợc, là bài Tựa Mỹ đình thi tập của Ngô Thì Sĩ
(1726-1780).
Tiểu kết Chƣơng 3
Một điểm lƣu ý quan trọng khác, làviệc tiếp nhận Đào ở Việt Nam không
bắt đầu từ tri thức sơ nguyên bản địa, màngay từ thời kỳ đầu vẫn đƣợc sự “chỉ
14
dẫn”, “định hƣớng”, “chuẩn bị” từ các “độc giả quyền uy” Trung Quốc nhƣ
Tiêu Thống, TôThức, Chu Hi, các Thiền sƣ và từ thơ điền viên thời Đƣờng, từ
sử truyện nhƣ Tống sử, Nam sử, Bất nhập Liên xã chư hiền truyện. Điều này có
tác động quan trọng đến tầm đón nhận cũng nhƣ kinh nghiệm thẩm mỹ của văn
nhân Việt Nam.
Kết quả của chƣơng này sẽ lànền tảng cơ sở cho việc triển khai nghiên
cứu tiếp nhận Đào Uyên Minh trong văn học Việt Nam trên những bình diện
rộng hơn, sâu hơn ở chƣơng tiếp theo.
Chƣơng 4
ĐÀO UYÊN MINH VỚI NHÂN SINH QUAN
VÀ TINH THẦN NGHỆ THUẬT CỦA VĂN NHÂN VIỆT NAM
4.1. ĐÀO UYÊN MINH VÀ NHÂN SINH QUAN CỦA VĂN NHÂN
VIỆT NAM
Nếu nhƣ thời kỳ đầu, văn nhân trí thức Việt Nam chỉ xem Đào Uyên Minh
nhƣ một tác gia văn học cần phải biết cho nhu cầu khoa cử, hoặc nhƣ một hiền
nhân có mối quan hệ đặc biệt với Phật giáo cho nhu cầu thuyết pháp, thìsang
thời kỳ sau, từ cuối thời Trần trở đi, cả tƣ cách văn nhân và tƣ cách hiền nhân
của Đào Uyên Minh đều đƣợc xác nhận và đề cao. Từ đó, nhân sinh quan và
tinh thần nghệ thuật của ông Đào cũng dần dần đƣợc văn nhân Việt Nam khám
phávàkiến tạo lại trên cơ sở văn hóa và lịch sử mới.
Việc tiếp nhận nhân sinh quan của Đào Uyên Minh thể hiện ở nhiều
phƣơng diện khác nhau trong sáng tác của văn nhân Việt Nam, song chúng tôi
thấy tập trung rõ nhất là thông qua hai biểu tƣợng: hoa Cúc và Đào nguyên.
Đây cũng là hai biểu tƣợng của Đào Uyên Minh đƣợc văn nhân đời sau yêu
cái chíthanh cao của mình, Võ Trƣờng Toản mƣợn để diễn tả thời gian dâu bể,
Nguyễn Khuyến mƣợn để gửi gắm và bày tỏ “khổ tiết” và “cao khiết trinh
tâm” của mình,…
Đó là xét ở lớp nghĩa xem Cúc nhƣ biểu tƣợng của kẻ sĩ quân tử, ẩn giả.
Nếu xét ở lớp nghĩa xem Cúc nhƣ biểu tƣợng của quê nhà, giấc mộng điền
viên sẽ thấy những biểu hiện cụ thể khác nhau trong một nét nghĩa chung là
nỗi tƣ hƣơng và chí điền viên trong thơ của Trƣơng Hán Siêu, Trần Nguyên
Đán, Nguyễn Trãi, Trịnh Hoài Đức. Ở một tầng nghĩa khác cho thấy, Cúc
trong thơ Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến thể hiện sự cô đơn của con ngƣời, còn
trong thơ Nguyễn Hữu Huân, Phan Văn Trị, cúc lại có sắc thái “vong quốc
cảm”.
4.1.1.2. Đào nguyên và nhân sinh quan của văn nhân Việt Nam
Nếu xét qua biểu tƣợng Đào nguyên, sẽ thấy đƣợc lý tƣởng xãhội của văn
nhân Việt Nam vàcách thức họ quan niệm, xây dựng xãhội lý tƣởng ấy cụ thể
nhƣ thế nào. Biểu tƣợng Đào nguyên vốn đƣợc các tăng nhân thời LýTrần đặc
biệt chúýsử dụng nhƣ một phƣơng tiện truyền bágiáo lýnhàPhật vừa sâu sắc
vừa có tí
nh thẩm mỹ cao, nhƣng sau đó do sự cƣờng thịnh của Nho giáo với
tinh thần nhập thế mạnh mẽ, biểu tƣợng Đào nguyên không đƣợc các văn nhân
quan tâm tiếp tục sử dụng vàphát triển khiến nó chìm khuất trong một thời
gian khádài, từ thế kỷ XV đến tận thế kỷ XVIII mới tái sinh ở Lư khê vãn của
nhóm Chiêu Anh Các phƣơng nam đất nƣớc, Lan trìkiến văn lục của Vũ Trinh;
rồi trong một số tác phẩm của Ngô Thế Lân, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hƣơng,
Trƣơng Quốc Dụng, Nguyễn Đăng Tuyển,...
Tuy nhiên, đó là nhìn nhận chung, còn nếu chỉ xét về quan hệ giữa biểu
tƣợng Đào nguyên với nhân sinh quan của văn nhân Việt Nam thể hiện cụ thể
trên lý tƣởng xãhội, thìphạm vi tác giả tác phẩm phù hợp còn hạn hẹp hơn.
Theo đó, Đào nguyên trong Lư khê vãn tƣợng trƣng cho một vùng thắng cảnh,
còn Đào nguyên trong Khán Vu Lai của NgôThế Lân vàSơn thôn của Nguyễn
Du chỉ một làng xóm xa xôi hoang sơ nhƣng yên bình vì không cóchiến tranh
điền viên Việt Nam đã định hình rõ và điều này liên quan mật thiết với việc
ông đã tiếp xúc trực tiếp văn bản tác phẩm Đào Uyên Minh.
4.2.2.2. Thời Lê– Mạc – Lê Trung Hƣng
4.2.2.2.1. Khảo sát trên phƣơng diện sáng tác
Đến Nguyễn Trãi đầu thời Lê, việc tiếp nhận Đào Uyên Minh chú ý đến
tinh thần “vong ngôn” trong sáng tác của Đào Uyên Minh. Ngoài thơ, Nguyễn
Trãi cũng mô phỏng tiểu truyện Đào Uyên Minh viết cho ngoại tổ, để viết
truyện về ông ngoại mình là Trần Nguyên Đán. Thời Mạc, Nguyễn Bỉnh
Khiêm có công đƣa hình ảnh “cửa sổ” và thẩm mỹ “vụng dại” từ Đào Uyên
Minh vào văn học Việt Nam. Cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, một số
truyện trong Lan Trìkiến văn lục của Vũ Trinh cũng có motif rất gần với Đào
nguyên của Đào Uyên Minh. Điều này có thể do sự phổ biến câu chuyện Đào
nguyên trong dân gian Việt Nam lúc ấy, hoặc truyện Đào nguyên của Đào
Uyên Minh đã đƣợc các văn nhân Việt Nam mƣợn để viết lại thành “chuyện
lạ”, nhƣng chúng có đặc điểm chung là khác với thế giới lý tƣởng nhƣ Đào
nguyên của Đào Uyên Minh.
4.2.2.2. 2. Khảo sát trên phƣơng diện phêbình (thi luận)
Cuối thời Lê, bắt đầu xuất hiện những phát biểu phê bình liên quan đến
Đào Uyên Minh, nhƣ thấy trong Tựa Mỹ Đình thi tập 美亭詩集序 của NgôThì
17
Sĩ, Tựa Hoa trình thi tập 華程詩集序 của Ninh Tốn, Tiểu dẫn Hoàng Việt thi
tuyển 皇越詩選 của Bùi Huy Bích.
Trong đó, Ngô Thì Sĩ chú trọng đề cao tính “trung hậu”, “khảng khái”,
“thanh nhã”; Ninh Tốn đề cao phong cách “phiêu dật 飄逸” của Đào; còn Bùi
Huy Bích chútrọng đến đặc điểm “xung đạm 冲淡” của Đào.
4.2.2.3. Thời Tây Sơn - Nguyễn
4.2.2.3.1. Khảo sát trên phƣơng diện sáng tác
và những văn nhân trí thức Việt Nam bắt chƣớc phong cách nghệ thuật của
Đào Uyên Minh trong sáng tác, tuy vậy ông cũng đề cao cái đẹp “hùng tƣ diệu
thú” trong thơ Đào. Trong hình thức “mộng thuyết”, Vũ Duy Thanh đề cao cái
đẹp “hƣ”, “mộng” của Đào trong Nhàn tình phú, Đào hoa nguyên ký. Miên
Trinh dùng hình thức vấn đáp đề cao cái đẹp “tĩnh”, “cổ phác” của Đào.
18
Tiểu kết Chƣơng 4
Khảo sát hoạt động tiếp nhận của các văn nhân Việt Nam đối với Đào
Uyên Minh (bao gồm con ngƣời vàtác phẩm), chúng tôi đều thấy rõvai tròcực
kỳ quan trọng của độc giả. Ngƣời tiếp nhận đã làm thay đổi cấu trúc tác phẩm
của Đào Uyên Minh thông qua việc chọn lựa vàtái kiến tạo các biểu tƣợng,
theo đó, biểu tƣợng Cúc và Đào nguyên đã đƣợc những độc giả đời sau chọn và
xây dựng lại theo nhu cầu của họ, Cúc trở thành tƣợng trƣng tiêu biểu cho giá
trị đạo đức nhân cách, còn Đào nguyên trở thành tƣợng trƣng tiêu biểu cho xã
hội lý tƣởng của tầng lớp văn nhân trí thức. Trong khi, Chim, Mây và Rƣợu –
những hình ảnh đƣợc Đào Uyên Minh nói đến nhiều nhất, tƣợng trƣng cho tinh
thần tự do, thìlại trở thành những hình ảnh ít đƣợc ngƣời tiếp nhận chú ý hơn.
Vậy có thể nói đến sự đảo chiều vị trícủa các biểu tƣợng trong văn bản tác
phẩm của Đào Uyên Minh và trong văn bản tác phẩm của ngƣời tiếp nhận.
Trên đây là nói về quá trình các văn nhân Việt Nam đã cải tạo văn bản Đào
Uyên Minh trong thực tiễn tiếp nhận nhƣ thế nào. Ở phƣơng diện ngƣợc lại, tức
quá trình Đào Uyên Minh cùng văn bản tác phẩm của ông làm thay đổi tƣ
tƣởng, quan niệm nhân sinh vàthực tiễn sáng tạo, quan niệm nghệ thuật của
văn nhân Việt Nam ra sao, chúng tôi nhấn mạnh vào hai điểm quan trọng.
Thứ nhất, về phƣơng diện nhân sinh quan, Đào Uyên Minh trở thành một
điểm tựa tinh thần vững chãi và đẹp đẽ cho các văn nhân Việt Nam khi lui về
cuộc sống ẩn dật, hay là nơi an ủi, làchỗ để gửi gắm tì
kiện của Nho gia; ngƣời ta cũng tìm thấy tƣ tƣởng tiêu dao, du tâm, nhàn tĩnh,
cái đẹp trong lặng xa mờ huyền diệu của Đạo gia. Màtất cả đều đƣợc thể hiện
một cách thật tài tì
nh, tinh tế, điều này lại đƣợc tô điểm thêm bằng hình ảnh
cao thƣợng về nhân cách của Đào Uyên Minh, khiến cho phong cách nghệ
thuật của Đào Uyên Minh đƣợc Nho, Đạo vàthậm chícả Phật đặt vào hàng lý
tƣởng nhất. Do đó, các nhà phê bình thƣờng nêu Đào Uyên Minh ra nhƣ là kiểu
mẫu cho sự thành công tiêu biểu trong sáng tạo nghệ thuật.
Thi luận Việt Nam không thể tránh khỏi ảnh hƣởng của thi luận Trung
Quốc, nhất làthi luận thời Minh – Thanh, với các thuyết Minh đạo 明道, Mỹ
thứ 美刺, Cách điệu 格調, Tính linh 性靈, Thần vận 神韻 thịnh hành bấy giờ.
Nhƣng qua các bài thi luận liên quan đến Đào Uyên Minh ở trên, chúng ta có
thể thấy đƣợc tính độc đáo, sáng tạo, tinh tế của các nhàphêbình Việt Nam,
đồng thời cũng cho thấy tính độc lập, chủ động của tríthức nƣớc ta trong việc
việc tiếp nhận tƣ tƣởng, quan niệm lýluận phê bình văn học Trung Quốc.
KẾT LUẬN
Việc nghiên cứu văn học cổ điển Việt Nam cũng nhƣ mối quan hệ giữa
văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc ở nƣớc ta tính từ đầu thế kỷ XX đến
nay đã có nhiều thành tựu đáng ghi nhận và trân trọng, tuy vậy vẫn còn rất
nhiều khoảng trống cần những ngƣời đi sau điền lấp. Đào Uyên Minh vàtác
phẩm của ông rất quen thuộc với các văn nhân trí thức Việt Nam thời xƣa và
cũng không hề xa lạ với những ngƣời Việt Nam ngày nay có quan tâm đến văn
học nghệ thuật cổ. Ở đây, luận án đặt ra đƣợc vấn đề mới: Nghiên cứu mối
quan hệ giữa Đào Uyên Minh và văn học trung đại Việt Nam theo một số gợi ý
của lýthuyết tiếp nhận trƣờng phái Konstanz, qua đó córút ra đƣợc một số kết
luận.
Trong phần nghiên cứu những giao lƣu tiếp xúc đầu tiên của độc giả Việt
Nam với Đào Uyên Minh, chúng tôi đã thông qua khảo sát vấn đề thời điểm,
phƣơng thức Đào Uyên Minh du nhập nƣớc ta, chỉ ra những đặc điểm trong
theo khuynh hƣớng hiện thực hóa, bình dân hóa. Riêng biểu tƣợng Cúc tồn tại
vàphát triển mạnh mẽ liên tục trong suốt quátrình tiếp nhận Đào Uyên Minh
cũng nhƣ suốt lịch sử thơ ca Việt Nam với nhiều tầng ý nghĩa gắn chặt với
tình cảm cánhân của nhàNho vàhiện thực xãhội, không còn mang nhiều tính
siêu hình nhƣ thời LýTrần.
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy, trong suốt lịch sử văn học cổ
điển Việt Nam, tuy có lúc thăng trầm khác nhau nhƣng Đào Uyên Minh luôn
đƣợc các văn nhân trí thức đón nhận một cách rộng rãi vàsâu sắc, thậm chí
vƣợt lên trên rất nhiều tác gia khác, nếu xét đồng thời trên hai bì
nh diện: thẩm
mỹ nhân sinh vàthẩm mỹ văn học nghệ thuật. Bởi thực tế cho thấy rất hiếm
hoi những tên tuổi cóthể để lại những dấu ấn sâu sắc trong cả tâm hồn lẫn tác
phẩm của văn nhân Việt Nam vàcả văn nhân Đông Á nhiều thế hệ, qua hàng
nghìn năm lịch sử nhƣ Đào Uyên Minh.
Trong quátrình nghiên cứu tiếp nhận Đào Uyên Minh ở Việt Nam, chúng
tôi còn nhận thấy một điều đáng chú ý không những về thực tiễn tiếp nhận, mà
còn ở phƣơng diện lý luận tiếp nhận là, về mặt biểu hiện trên văn bản tác
phẩm cũng nhƣ phê bình cho chúng ta thấy, khẳng định ca ngợi học tập Đào
Uyên Minh là khuynh hƣớng đa số và “trung tâm”, còn phủ nhận bài bác Đào
Uyên Minh là khuynh hƣớng rất thiểu số vàrất “ngoại vi”. Thế nhƣng một số
hélộ từ khuynh hƣớng phủ nhận trong những tài liệu ít phổ biến nhƣ kiểu thƣ
từ và “gia huấn” lại cho phép chúng tôi nghi ngờ mức độ thực tế của khuynh
hƣớng phủ nhận. Vídụ có tính điển hình khácao làbức thƣ Nguyễn Văn Siêu
gửi Trần Đắc Anh hay bài thơ khuyên con của cha Phùng Khắc Khoan.
Rõ ràng, không phải lúc nào tính chất của vấn đề cũng đƣợc khẳng định
bằng chỉ số mang tính định lƣợng. Nếu nói rằng tinh thần nhập thế, lòng ham
chuộng công danh cũng nhƣ quyền lực và lợi í
ch của con ngƣời là khuynh
hƣớng chủ yếu, còn xuất thế xa lánh danh lợi là khuynh hƣớng thứ yếu (đây là