ĐẶC điểm NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN BÍNH - Pdf 49

MỞ ĐẦU
Nguyễn Bính (1918 - 1966) là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới.
Ông là người yêu thơ và làm thơ từ tuổi niên thiếu. Chàng trai quê xứ Vũ Bản,
tỉnh Nam Định đã vinh hạnh nhận giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn khi vừa tròn
mời tám tuổi với tập thơ Tâm hồn tôi. Đối với Nguyễn Bính đường vào thơ của
ông khá nhẹ nhàng, thơ mộng như cảnh làng quê yên ả đã truyền cho ông vốn
sống và sự cảm nhận cái chân – thiện – mĩ qua khung cảnh làng quê với bờ tre
nghiêng bóng bên đồng lúa vàng, với những hội hè thôn dã, những mối tình chân
quê của trai thanh gái đạm đã thêu dệt nên hồn thơ Nguyễn Bính. Dù cuộc đời và
con sóng của tạo hoá xoay vần có xô dạt Nguyễn Bính đến nhiều bến bờ lênh
đênh, xa lạ trên nhiều miền đất nớc, nhưng lúc nào và ở đâu hình ảnh chân quê
vẫn lung linh, xao động và thăng hoa trong hồn thơ của ông khiến cho nhiều
sáng tác của ông vừa lãng mạn, hư ảo vừa sâu thẳm thấm đợm tình quê, duyên
quê. Ông là nhà thơ của chân quê thôn dã, với một thứ ngôn ngữ mang đậm chất
dân gian dễ hiểu, gần gũi với cuộc sống đời thường được thể hiện qua sự kết hợp
tài tình với thể thơ dân tộc.
Trong bối cảnh lịch sử xã hội xuất hiện trào lưu hiện đại, cách tân, Âu hoá
nhưng Nguyễn Bính đã không bị cơn xoáy lốc ấy cuốn vào. Vẫn giữ lấy cái hồn
dân tộc, có nghĩa là chủ trương cách tân thơ ca theo con đờng trở về cội nguồn
dân tộc, phần nhiều là những người xuất thân với những ngời lao động ở nông
thôn như: Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ. . . .
Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Bính giản dị, đằm thắm thiết tha, đậm sắc hồn
dân tộc, một thứ ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân, gần gũi với
ca dao dân ca mà ai đọc lên cũng có thể hiểu ngay trên bề mặt câu chữ. Đó là lí
do lí giải sức hút mạnh mẽ của hồn thơ được mệnh danh là: thi sĩ của đồng quê.
1


NỘI DUNG
1. Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác Nguyễn Bính
1.1 Vài nét về tiểu sử

trừu tượng, tác động trực tiếp vào giác quan người đọc những cảnh quan bình dị,
gần gũi rất đỗi thân quen. Đó là thế giới của dậu mùng tơi, giếng nước, cái ao,
hoa chanh, hoa bưởi… Có thể nhận thấy, trong sáng tác của mình thi sĩ đã sử
dụng rất nhiều vốn từ ngữ của làng quê. Là một người con của làng quê, ghi lại
cảnh vật quê hương theo một cách rất riêng:
“Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”
(Tương tư)
“Tầm Tầm giời cứ đổ mưa
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm”
(Người hàng xóm)
Đặc biệt nhất là sử dụng những đại từ phiếm chỉ “ai, người, ta, mình” rất
khó xác định trong ca dao dân ca, nhưng đi vào thơ Nguyễn Bính thật hồn hậu và
tự nhiên. Vốn ngôn ngữ ấy thật là phổ biến, ai ai cũng biết dễ vận dụng từ đó làm
tăng khả năng khái quát tâm trạng của nhiều người, tăng khả năng đồng cảm
giữa những con người với nhau. Tác giả đã làm cho người đọc phải suy nghĩ vấn
vương trước những câu thơ mờ nghĩa như thế này:
“Tương tư thức mấy đêm rồi
3


Biết cho ai, hỏi cho người biết cho?”
Nhà thơ ảnh hưởng từ dân gian lối nói định ước, áng chừng. Đó là lối nói thiên
về cảm tính rất đặc trưng của người Việt Nam. Trong thơ ông ta thấy những từ
“hình như” được xuất hiện với một tần số rất cao:
“Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ tới anh”
“Em nghe họ nói mong manh
Hình như họ biết chúng mình với nhau”
Những từ “hình như” có chút gì mơ hồ, không xác định đã diễn tả một cách

cau/Miệng cười như thể hoa ngâu/ Chiếc khăn đội đầu như thể hoa sen” thì
trong thơ Nguyễn Bính cũng có những câu như:
“Một đi làm nở hoa sen
Một cười làm rụng hàng ngàn hoa mai
Hương thơm như thể hoa nhài
Những môi tô đậm làm phai hoa đào
Nõn nà như như thể hoa cau
Thân hình yểu điệu như là hoa lan”
Nguyễn Bính còn chịu ảnh hưởng rõ nét từ ca dao dân ca khi ông sử dụng
rất nhiều những ẩn dụ đã trở thành môtip quen thuộc như : thuyền – bến, bướm –
hoa, cau – trầu, tằm – dâu…. Những hình ảnh ấy đi vào trong thơ Nguyễn Bính
được trao gửi thêm những lớp ý nghĩa mới, đem lại sự hấp dẫn rất riêng, trở
thành những biểu tượng đặc sắc trong thơ ông:
5


“Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau”
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài thì nhớ giầu không thôn nào”
“Hoa yêu dấu bướm cho nên bướm
Quả quyết yêu hoa đến trọn đời”
Bên cạnh việc sử dụng hai biện pháp tu từ quen thuộc là so sánh và ẩn dụ,
tác giả còn rất hay sử dụng biện pháp nhân hóa – một biện pháp nghệ thuật quen
thuộc trong ca dao. Người xưa vẫn trao gửi biết bao những tình cảm bằng cách
gán cho sự vật môt linh hồn, tâm trạng như con người : “Núi cao chi lắm núi
ơi/Núi che mặt trời chẳng thấy người thương”, “Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông
cá cá lặn, trông sao sao mờ/ Buồn trông con nhện giăng tơ/ Nhện ơi nhện hỡi
nhện chờ mối ai”, “Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất/ Khăn thương nhớ
ai/ Khăn vắt lên vai…”. Khi đọc thơ Nguyễn Bính ta cũng thấy nhà thơ sử dụng

Cách xưng hô trong gia đình, giữa mẹ và con cái hết sức tự nhiên, thân
thiện nhưng có ý nghĩa nhất chính là tình cảm được thể hiện, mặc dù cách xưng
hô bên ngoài có vẻ lạnh lùng nhưng không gì đo đếm được tình cảm của cha mẹ
dành cho con cái.
“Gái lớn ai không phải lấy chồng
Can gì mà khóc, nín đi không!
Nín đi, mặc áo ra chào họ

7


Rõ quí con tôi! Các chị trông!

Ruộng tôi cày cấy, dâu tôi hái
Nuôi dạy em cô tôi đảm đương
Nhà cửa tôi coi, nợ tôi giả
Tôi còn mạnh chán! Khiến cô thương!”
(Lòng mẹ)
Xưng hô giữa chị và em:
“Em ơi! Em ở lại nhà
… Chị đi một bước trăm đường xót xa”
Không chỉ thế, ta con gặp ở đó một lối xưng hô rất quen thuộc của ca dao
ngàn đời: hô bằng đại từ phiếm chỉ không xác định rõ đối tượng là một đặc điểm
của ca dao. Trong tình yêu đôi lứa, đó là cách rất khôn khéo mà chân thật để
chàng trai bày tỏ tình cảm của mình đối với cô gái. Vì thế ta thấy Nguyễn Bính
đã vận dụng triệt để và thành công cách xưng hô này vào trong những thi phẩm
của mình: “cô – tôi, cô – ta, tôi – em”.
“Một hôm thấy cô cười cười
Tôi yêu yêu quá nhưng hơi mất lòng”
(Qua nhà)

Trong thơ Nguyễn Bính còn có rất nhiều những thành ngữ mang tính biểu
tượng cao như : “lỡ bước sang ngang”, “tắt gió sang sông”, “kiếp con chim lìa
đàn”, “phìm đờn ngang cung”, “ngang sông đắm đò”…có cả những thành ngữ
như : “trắng như bông”, “lạnh nhưu tiền”, “vui như tết”... Đặc biệt nhà thơ còn

9


sự dụng những thành ngữ có số đếm theo cấp độ để thể hiện những cung bậc tình
cảm hết sức khác nhau. Như khi nói về nỗi nhớ của chàng trai trong tình yêu:
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người”
Nếu như nói về số phận người con gái lấy chồng không hạnh phúc nhà thơ
đã mượn ý từ thành ngữ:
“Một đi bảy nổi ba chìm
Trăm nghìn cay đắng con tim héo dần”
Hay : “Vũng khô năm đợi mười chờ/ “Trăm hờn nghìn hận suốt mùa
đông”/ “Chao ôi!Ba bốn tao ân ái”/ “Trăm sầu nghìn tủi mình tôi chịu”…
Trong bài “Lỡ bước sang ngang” có tới những 18 thành ngữ, trong đó có những
thành ngữ sử dụng số từ một cách nhuần nhuyễn như : “Mẹ già một nắng hai
sương”/ “Chị đi một bước trăm đường xót xa”/ “Một vai ghánh vác giang sơn/
Một vai nữa ghánh muôn vàn nhớ thương”/ “Cách mươi mấy con sông
sâu/Và trăm vạn nhịp cầu chênh chênh”…
Không chỉ là việc sử dụng một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo những thành
ngữ dân gian mà còn là việc cấu trúc chế tác ngôn từ theo lối thành ngữ với
những cụm từ đăng đối như: “cả gió dắt cau”, “bướm lại ong qua”, “sương
chiều gió sớm”, “nhạt thắm phai đào”, “gió lạnh sương sa”, “má đỏ môi
hồng”, “sương muối gió may”, “pháo đỏ rượu hồng”, sầu sớm thương
chiều”…. . Dân gian đã tạo nuôi dưỡng hồn thơ Nguyễn Bính và ngược lại thơ
ông đã làm giàu thêm cho ngôn ngữ dân gian. Nó thể hiện một kiểu tư duy dân


11


“Võng anh đi trước võng nàng
Cả hai chuyến võng cùng sang một đò”
Nhưng trong những trường hợp khác, nó mang ý nghĩa trái ngược là sự chia
ly, chia cắt. Và “Giấc mơ anh lái đò” là một minh chứng thiết thực.
“Con sông nó có hai bờ
Tôi chưa đổ trạng cô thôi lại nhà”
Khi con người ta đang yêu thì mọi vật trước mắt hiện lên là màu hồng, tình
yêu làm con người thêm yêu đời và tràn đầy nhựa sống.
“Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh”
(Mưa xuân)
Hơn thế, tình yêu còn là nguồn tiếp thêm sức mạnh cho con người vượt qua
bao thử thách lẽ thường.
“Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy chả sang xem!”
Trong quan niệm của người phương Đông, con số 9 biểu thị sự may mắn,
hy vọng nhưng chàng trai trong “Giấc mơ anh lái đò” có lẽ vì thiếu sự may mắn
ấy mà không được như ước nguyện.
“Đồn rằng đám cưới cô to
Nhà trai thuê chín chiếc đò đón dâu
12


Quả là sáng tạo tài tình làm sao!
Với vài con số kể trên thì chưa nói đầy đủ khía cạnh bút pháp nghệ thuật
thơ Nguyễn Bính nhưng nó đã thể hiện một diện mạo trong cách sử dụng ngôn
ngữ dân dã của thi sĩ.
2.4 Từ ngữ và cách diễn đạt mộc mạc
Nhà thơ sử dụng từ ngữ và cách diễn đạt mộc mạc mà người thôn quê
thường hay sử dụng như : “mẹ bảo”, “phải lòng”, “thế nào”, “chửa”, “thế là”,
“thế rồi”, “gớm”, “ừ thôi”, “rõ khéo”, “dẫu sao”, “nói chòng”, “chán tiệt”,
“chán mớ đời”, “chả nhẽ”, “khốn thay”, …. được Nguyễn Bính đưa vào trong
thơ một cách hết sức tự nhiên. Nó được kết hợp với những cách phát âm mang
đậm màu sắc vùng thôn quê Bắc bộ như : trồng – giồng, trăng – giăng, trầu
không – giầu không, trai làng – giai làng, trăng trối – giăng giối… Nó không
làm mất đi sự mềm mại, trữ tình của những câu thơ mà ngược lại nó đem đến
một hơi thở nồng nàn của thôn quê dân dã, bình dị. Nói về cảnh quê, người quê
mà dùng chính lời nói của thôn quê thì còn gì hợp hơn thế nữa.
Sự ảnh hưởng này còn có thể thấy rõ qua hệ thống những từ tình
thái như : à, ơi, hà, hử, nhé, nhỉ, ạ, hỡi kia….Điều này làm cho thơ Nguyễn Bính
gần với lời nói thường, mang đậm hơi điệu nói.
Ngoài ra, tác giả còn chêm xen rất nhiều những từ thuộc lời nói của miệng
của dân quê vào lời thơ cùng với cách tổ chức câu thơ theo cấu trúc ngữ đoạn

14


của khẩu ngữ làm cho những câu thơ của Nguyễn Bính mang đậm điệu nói dân
gian:
“Chết nhỉ! Đêm nay ngủ với chồng
Trời ơi!Gió lạnh!Gớm mùa đông”
(Giọt nến hồng)
“Nín đi!Mặc áo ra chào họ




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status