Đặc điểm ngôn ngữ thơ nguyễn duy - Pdf 32

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh


hồ thị kim hoa

đặc điểm ngôn ngữ thơ nguyễn duy

luận văn thạc sĩ ngữ văn

Vinh, 2004

1


Lời cảm ơn
Xin trân trọng cảm ơn TS .Trần Văn Minh, ngời trực tiếp
tận tình, chu đáo hớng dẫn chúng tôi trong quá trình thực hiện
đề tài.
Đồng thời chúng tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc
đối với những lời góp ý, chỉ bảo chân thành quý báu của các
thầy cô giáo giảng dạy phân ngành ngôn ngữ học, thuộc khoa
Ngữ văn, trờng ĐH.Vinh, cùng sự cổ vũ động viên của tất cả
bạn bè và ngời thânđể luận văn này đợc thành công.
Vinh, tháng12/2004
Tác giả

2



17

Chơng 2 : Đặc điểm hình thức thơ Nguyễn Duy

1. Đặc điểm về thể thơ
1.1.Thể thơ lục bát...
1.2.Thể thơ tự do..
1.3.Thể thơ năm chữ.
2. Đặc điểm sử dụng từ ngữ trong thơ Nguyễn Duy....
2.1. Sử dụng từ ngữ giàu chất liệu dân gian.
2.1.1. Sử dụng chất liệu ca
dao.
2.1.2. Sử dụng thành ngữ, tục
ngữ
2.2. Sử dụng từ láy mang lại hiệu quả nghệ thuật
2.3. Sử dụng từ ngữ chỉ những cái nhỏ bé, bình dị, mong manh..
2.4. Sử dụng động từ diễn tả t thế suy ngẫm, hớng nội
2.5. Sử dụng lớp ngôn từ dính bụi mang hơi thở cuộc sống hiện đại
3. Một số kết cấu câu thơ tiêu biểu trong thơ Nguyễn Duy
3.1. Kết cấu trùng điệp.
3.2. Kết cấu đối lập - tơng phản.
3.3. Kết cấu lập luận

20
20
26
31
36
37
40


4

82
87
93
97
102
105
106
107
109
111
113


mở đầu
1. Lí do chọn đề tài

Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ thơ ca nói riêng là
quá trình khám phá, tìm hiểu ngôn ngữ trong hoạt động hành chức của nó. Đây
là một hớng đi mới của ngành ngôn ngữ học hiện nay nhằm đáp ứng cho việc
nghiên cứu ngôn ngữ vừa mang tính chuyên sâu, vừa mang tính liên ngành.
1. Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ đầy tâm huyết và có tài thuộc
những ngời làm thơ giai đoạn cuối cuộc chiến tranh chống Mĩ. Cùng với nhiều
tiếng thơ mới mẻ, trẻ trung nh Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm,Thu Bồn,
Bằng Việt, Xuân Quỳnh,ThanhThảo, HữuThỉnh,bằng những sáng tạo độc
đáo về mặt ngôn ngữ qua các thi phẩm của mình, Nguyễn Duy đã tạo đợc dấu
ấn riêng, giọng điệu riêng, đóng góp vào nền thi ca Việt Nam hiện đại một
phong cách đầy ấn tợng và khó quên. Chính vì vậy, thơ ông đã và đang là đối tợng gây đợc sự chú ý của nhiều nhà phê bình và nghiên cứu văn học. Song nhìn

2.3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Nguyễn Duy sáng tác trên nhiều thể loại : thơ, ký, bút ký, kịch thơ, tiểu
thuyết... nhng tài năng của ông chỉ thực sự đợc khẳng định ở thể loại thơ.
Để nghiên cứu vấn đề đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy, về văn bản
thơ, chúng tôi chọn cuốn Tuyển tập thơ Nguyễn Duy NXB Giáo dục, 1998
(do nhà thơ Trần Đăng Khoa tuyển chọn và giới thiệu) gồm 108 bài thơ. Mặc
dù cha đợc toàn diện nhng chúng tôi đánh giá những bài thơ đợc lựa chọn trong
tuyển tập phần lớn là những bài có giá trị nội dung và nghệ thuật cao, tiêu biểu
cho giọng điệu và phong cách thơ Nguyễn Duy, đáp ứng đợc đầy đủ cho vấn đề
mà chúng tôi nghiên cứu.
3. Lịch sử vấn đề

Khi kể tên các nhà thơ hiện đại Việt Nam, không thể không nhắc đến
Nguyễn Duy. Với khả năng viết đều, viết khoẻ, ông tạo dựng đợc một sự
nghiệp thơ thật đáng nể. Là một trong những cây bút trẻ xuất sắc trởng thành từ
thơ ca chống Mỹ cứu nớc, Nguyễn Duy đợc giới nghiên cứu phê bình cũng nh
đông đảo bạn đọc chú ý từ rất sớm,và theo đó xuất hiện hàng loạt những công
trình, bài viết lớn nhỏ nghiên cứu, đề cập đến thơ ông.
Ngời có công phát hiện và đánh giá một cách tài tình, chính xác về
Nguyễn Duy đầu tiên chính là ngời sành thơ bậc nhất, nhà phê bình văn học uy
tín Hoài Thanh. Trong bài viết Đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy, ông
đã sớm cảm nhận đợc cái hơng vị của cuộc sống từ xa toả ra trong thơ Nguyễn
Duy : Thơ Nguyễn Duy đa ta về một thế giới quen thuộc : một gốc sim, một
bụi tre, một ổ rơmNguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con
ngời, những cuộc đời cần cù, gian khổ, không tuổi, không tên. Đọc thơ Nguyễn
Duy, thấy anh thờng hay cảm xúc, suy nghĩ trớc những chuyện lớn, chuyện nhỏ
quanh mình cái điều ở ngời khác có thể chỉ là chuyện thoáng qua thì ở anh nó
lắng sâu và dờng nh dừng lại[32]. Có thể nói, bằng sự cảm nhận nhạy bén và
6


Nguyễn Duy nói riêng.
Trớc sức cuốn hút mãnh liệt của những vần thơ ấy, nhà văn Nguyễn
Quang Sáng đã có cuộc hành trình Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy. Là
ngời bạn vong niên luôn gắn bó gần gũi với nhà thơ, ông đã giới thiệu với bạn
7


đọc một cách rõ nét chân dung Nguyễn Duy nhìn từ hai phía : con ngời và thơ.
Cũng nh nhiều ngời khác, tác giả bài viết thừa nhận Nguyễn Duy vốn có u thế
và trội hẳn lên trong thể thơ lục bát, Thơ lục bát Nguyễn Duy không rơi vào
tình trạng quen tay, nó có sự chuyển động biến đổi trên từng câu chữ[26,84],
nhà thơ rất khéo tay điều khiển từ[26,90]. Ông còn đa ra những nhận xét khá
lý thú Thơ Nguyễn Duy đợm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân
gian. Lời thơ đơn sơ, gần với khẩu ngữ. T duy thơ thì hiện đại, hình thức thơ thì
phảng phất phong vị cổ điển phơng Đông[26,90].
Dõi theo bớc đờng sáng tác của nhà thơ, các nhà nghiên cứu và những
ngời yêu thơ ông đã nhận ra đợc sự trởng thành, định hình bản sắc của Nguyễn
Duy. Vơng Trí Nhàn trong bài viết Một bản sắc đã đến lúc định hình khẳng
định : Sự tìm tòi kéo dài liên tục qua các tập thơ ánh trăng (1984), Mẹ và em
(1987), Đờng xa(1989), Quà tặng (1990) và với tập thơ Về (1994), từ chỗ pha
giọng chập chững, mày mò, nhà thơ đã đi tới một giọng thơ có nhiều phẩm chất
thuần nhất, dân dã mà hiện đại, từng trải dạn dày song lại run rẩy tinh tế, cay
đắng ngậm ngùi ngay trong khi cời cợt đắm say, lam lũ dông dài mà vẫn có
những nét cao sang riêng. Thơ Nguyễn Duy những năm 90 gợi ra cảm tởng một
bản sắc đã chín, đã định hình ở đó có tất cả những phóng túng nồng nàn, lẫn
những ngang trái khó chịu mà đã yêu thơ anh ngời ta phải chấp nhận [21,
257]. Ngoài ra, bài viết còn đề cập đến một vài đặc điểm ngôn ngữ trong thơ
Nguyễn Duy, cụ thể là sự đắm đuối đi tìm những chữ lạ, ăn chịu với truyền
thống thơ lục bát...tuy nhiên vẫn cha có sự đào sâu nghiên cứu.
Càng về sau, thơ Nguyễn Duy càng đợc các nhà nghiên cứu chú ý nhiều

vào nghiên cứu phơng diện hệ thống hình thức tác phẩm trong mối liên hệ chặt
chẽ với nội dung nhằm góp phần tìm hiểu, đánh giá phong cách nhà văn, nhà
thơ một cách chính xác hơn. Luận văn thạc sĩ của tác giả Hồ Văn Hải đã lựa
chọn hớng nghiên cứu mới này với đề tài Thơ lục bát Nguyễn Duy dới góc độ
ngôn ngữ. Đây là một công trình khá công phu tìm hiểu, nghiên cứu thơ lục
bát Nguyễn Duy trên hai bình diện : đặc điểm cấu trúc âm luật (âm điệu, vần
điệu, nhịp điệu) và đặc điểm sử dụng phơng tiện ngôn từ. Tác giả nhận thấy thơ
lục bát Nguyễn Duy có sử dụng các chất liệu ngôn ngữ nh ngôn ngữ ca dao
và ngôn ngữ đời thờng (khẩu ngữ, thành ngữ, từ láy). Tuy nhiên, Nguyễn
Duy không chỉ thành công ở thể lục bát, ở các thể thơ khác : năm chữ, bảy chữ,
thơ tự do..., ông cũng có nhiều bài thơ hay mang bản sắc riêng. Bởi vậy, những
kết luận trên cha thể khái quát một cách đầy đủ đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn
Duy.
Nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy còn phải kể đến một bài viết khá thành
công của tác giả Chu Văn Sơn với nhan đề Nguyễn Duy thi sĩ thảo dân.
Bằng con mắt thi pháp học, bài viết khám phá ra hành trình thơ Nguyễn Duy:
9


hành trình từ Xó bếp ra Thế giới, Từ hạt Cát đến hạt Bụi, hành trình
củaGiọt nớc lìa nguồn ra biển, của Dòng nớc trôi đi giọt nớc lại rơi về.
Trên chặng đờng ấy, Nguyễn Duy đã trình ra trọn vẹn cái tôi của mình. Một
cái tôi thảo dân chính hiệu : cực nghiêm mà cực bụi, cực tình nghĩa mà
cũng cực tình tang[27]. Tác giả cũng cho rằng Duy phải lòng lục bát nhng
cây đàn này của Duy chơi điệu mới, nhịp mới, hồn mới[27], ngoài ra nhà thơ
còn sử dụng những phơng thức biểu hiện khác phù hợp với cái tạng của
mình, chẳng hạn nh : thích xài thứ ngôn từ hồn nhiên, khoái lối ghẹo dân
gian, đặc biệt là sự dung nạp thứ ngôn từ dính bụi mà lấp lánh chất
phônclore[27] vào thơ...Với cái nhìn đa chiều, bài viết đã cung cấp cho độc
giả nhiều phát hiện mới mẻ, có giá trị về thơ Nguyễn Duy. Nhng trong phạm vi

Luận văn sẽ sử dụng phơng pháp này khi đi vào khảo sát 108 bài thơ
trong tuyển tập thơ Nguyễn Duy để thống kê, phân loại những hiện tợng ngôn
ngữ thờng gặp trong thơ ông.
4.2. Phơng pháp miêu tả, đối chiếu, so sánh
Trên cơ sở thống kê, phân loại, chúng tôi sẽ đi sâu vào miêu tả các hiện
tợng ngôn ngữ tiêu biểu của thơ Nguyễn Duy. Cùng với quá trình phân tích,
miêu tả, luận văn tiến hành so sánh, đối chiếu giữa cách sử dụng ngôn ngữ
trong thơ Nguyễn Duy với một số tác giả khác để làm nổi bật những đặc điểm
riêng của ngôn ngữ thơ ông.
4.3. Phơng pháp phân tích, tổng hợp
Qua quá trình nghiên cứu, phân tích các tín hiệu ngôn ngữ trong thơ
Nguyễn Duy nh việc sử dụng thể thơ, cách sử dụng từ ngữ, các cấu trúc câu thơ
tiêu biểuchúng tôi khái quát những đặc điểm cơ bản về phong cách ngôn ngữ
thơ ông.
5. Cái mới của đề tài

Với một cái nhìn hệ thống toàn diện, luận văn là tài liệu đầu tiên đi sâu
vào khảo sát nghiên cứu thơ Nguyễn Duy về đặc điểm hình thức ngôn ngữ bao
gồm: thể thơ, từ ngữ, cấu trúc câu thơ, ngôn ngữ trong thể hiện nội dung và xây
dựng hình ảnh thơ, qua đó nhằm góp phần làm rõ và khẳng định bản sắc của
phong cách thơ Nguyễn Duy.

11


Chơng 1 : Một số vấn đề liên quan đến đề tài
1. Thơ và ngôn ngữ thơ

1.1. Khái niệm thơ
Thơ là thể loại văn học ra đời từ rất sớm, là hình thái văn học đầu tiên



Đặc trng đầu tiên, thơ là tiếng nói độc bạch làm việc trên trục dọc (trục
lựa chọn, thay thế, tơng đồng, quy chiếu, trục của các ẩn dụ), còn tiểu thuyết là
tiếng nói đối thoại làm việc trên trục ngang (trục kết hợp, trục tuyến tính).
Trong thơ trữ tình chỉ có một kiểu lời nói duy nhất thống lĩnh toàn bộ thế giới
nghệ thuật : kiểu lời độc thoại trực tiếp của nhân vật trữ tình (hoá thân của chủ
thể trong tác phẩm). ở đó, tính tơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ đợc dùng để
xây dựng các thông báo. Thơ sử dụng nhiều hình ảnh, nhiều từ tơng đơng, từ
đồng nghĩa ...để diễn tả một tâm trạng, một suy t.
Đặc trng thứ hai là không gian trên trang giấy in thơ có nhiều khoảng
trắng hơn trang in văn xuôi. Đặc điểm này cho thấy thơ nói ít mà chứa đựng
nhiều nghĩa, thơ là văn bản không liên tục, thơ có nhiều chỗ lặng. Chính
những khoảng trắng ấy là nơi chất thơ lan toả, là nơi tràn ngập t duy, cảm xúc
và hiển nhiên lợng ngôn từ còn lại là tinh chất đã đợc gạn lựa, chắt lọc công
phu.
Đặc trng thứ ba của thơ là sự trùng điệp (câu thơ luôn luôn quay trở lại):
trùng điệp âm vận, trùng điệp ở nhịp, trùng điệp ở ý thơ, trùng điệp câu thơ
hoặc bộ phận câu. Để tạo nên sự trùng điệp về âm thanh cũng nh về ngữ nghĩa,
tạo điểm nhấn, trong thơ có hiện tợng chiếu trục tuyển lựa lên trục kết hợp,
tức là các yếu tố trên trục hệ hình có thể đợc xuất hiện trong một thế tơng quan
nhất định trên trục cú đoạn tạo ra những hình tợng âm thanh lặp lại, những cấu
trúc ngữ âm mang tính biểu trng. Nh vậy, ngôn ngữ thơ đã cung cấp cho ta
những phơng thức để thoát ra khỏi tính chất kế tục, tuyến tính của ngôn ngữ
thông thờng. Mà phơng thức quan trọng là thủ pháp song song. Nó tạo nên đặc
trng của thơ về mặt ngữ nghĩa (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ...) và ngữ âm (vần, láy
từ...). Gerand Manley Hopkins đợc xem là ngời tiên phong vĩ đại trong khoa
học về ngôn ngữ thi ca cho rằng thơ là một diễn ngôn lặp lại toàn bộ hay từng
phần một hình tợng âm thanh, cấu trúc thơ chủ yếu là một thủ pháp song
song liên tục [34, 29], cái phần cách điệu của thơ, có lẽ nói mọi hình thức

1.2. Khái niệm ngôn ngữ thơ
Thơ là một thể loại thuộc sáng tác văn học nghệ thuật. Vì vậy, ngôn ngữ
thơ trớc hết phải là ngôn ngữ văn học, có nghĩa là ngôn ngữ mang tính nghệ
thuật đợc dùng trong văn học. Song do sự tổ chức ngôn ngữ trên cơ sở của hệ
thống nhịp điệu, đảm bảo tính chất tối đa về nghĩa trên một đơn vị diện tích
ngôn ngữ chật hẹp, lại mang sắc thái chủ quan của ngời viết trong một mức độ
cần thiết đã tạo cho ngôn ngữ thơ ca những phẩm chất đặc biệt.
Ngôn ngữ thơ ca là đỉnh cao của sự chắt lọc, là sự biểu hiện tập trung
nhất tính hàm súc, mỹ lệ, phong phú của ngôn ngữ. Quá trình sáng tạo ngôn
ngữ thơ ca cũng giống nh ngời lọc quặng rađium, lọc lấy tinh chất, tìm ra trong
cái bề bộn của những tấn quặng những từ đẹp, ánh sắc kim cơng. Ngôn ngữ thơ
phải cô đọng giàu sức biểu hiện và đúc lại nh huân chơng. Mỗi từ ngữ, hình
ảnh trong thơ đều phải kết tinh đợc một dung lợng lớn về cuộc sống tạo nên
những tín hiệu thẩm mỹ có sức ám ảnh, mê hoặc ngời đọc đó là sự trình bày
bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất đối với các tổ chức ngôn ngữ có vần
14


điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc
sống tập trung và khái quát nhất dới dạng các hình tợng nghệ thuật [4, 19].
Một bài thơ là những ngôn từ sáng giá đứng trong những trật tự hoàn hảo
(Côlêritgiơ). Bởi thế, nhiều ngời đã khẳng định : Thơ là sự kết tinh và thăng hoa
của nghệ thuật ngôn từ. Trong thơ, ngôn ngữ dễ có điều kiện bộc lộ năng lực
biểu hiện và vẻ đẹp hơn so với ngôn ngữ đợc vận dụng trong các lĩnh vực khác.
ở phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ đợc hiểu là một chùm đặc trng ngữ âm,
từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu tợng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan
theo cách tổ chức riêng của thơ ca. Đó là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức
quái đản bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, và phải suy nghĩ do chính
hình thức tổ chức ngôn ngữ này[20, 23]. Điều ấy chỉ có đợc trong thơ chứ
không có ở bất kỳ một thể loại nào khác trong văn học. Hình thức tổ chức đặc

Khác với văn xuôi, xuất phát từ chính yêu cầu biểu hiện thế giới nội tâm,
thế giới tinh thần theo xu hớng nội cảm hoá, chủ quan hoá, thơ ca có cách tổ
chức ngôn ngữ riêng biểu hiện trên các mặt : ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp.
a) Về ngữ âm
Hơn bất cứ ngôn ngữ ở thể loại nào, ngôn ngữ thơ với tính cách là một
thứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu, ngữ điệu phong phú về cách hoà âm, chính là thứ
ngôn ngữ giàu tính nhạc. Lời thơ khác với lời nói thờng và khác cả với câu văn
xuôi về nhiều phơng diện mà dấu hiệu dễ phân biệt nhất chính là bởi nó đầy
nhạc tính. Thơ là một thể loại của văn chơng, nhng nó là văn có nhạc. Chỉ trong
thơ, cái mặt vật chất, mặt cấu âm của ngôn từ mới trở thành một chất liệu quan
trọng [11, 179]. Tình cảm, hình ảnh, nhạc điệu là những nhân tố cơ bản của
thơ, nh ba chiếc chân kiềng. Văn xuôi mà có nhạc thì đợc xem là giàu chất thơ.
Thơ văn xuôi là loại thơ dù mang dáng dấp câu văn xuôi nhng tính nhạc vẫn là
điều cơ bản phân biệt nó với văn xuôi.Tính nhạc đem đến cho thơ sự mềm mại,
duyên dáng, quyến rũ, tạo nên sự khoái cảm thẩm mỹ cho thơ : Câu thơ và vần
có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn quyến rũ ngời nghe
bằng nhịp điệu và sự cân đối[2, 121]. Nhờ nhạc điệu mà thơ dễ nhớ, dễ truyền
cảm và lan toả rộng rãi trong công chúng. Bởi vậy, để thoả mãn nhu cầu ngâm
ngợi của ngời đọc, để lôi cuốn ngời đọc trong ma lực âm thanh của từ ngữ, thơ
luôn phải giữ một trong những đặc điểm chủ yếu của mình là nhạc điệu. Nhạc
tính của một thi phẩm càng giàu, tức những tham số thanh học của ngôn ngữ
càng có độ tin cậy cao, thì hiệu quả lu giữ - truyền đạt của nó càng mạnh[2,
136].
Có nhiều yếu tố để tạo nên tính nhạc cho thơ, trong đó vần và nhịp giữ
vai trò quan trọng. Tính nhạc bộc lộ qua việc sử dụng mô hình âm nhạc, luật
bằng trắc, vần hài hoà, nhịp cân đối .
Đặc biệt, nhịp điệu là yếu tố cơ bản, không thể thiếu làm nên tính nhạc,
sức ngân vang cho thơ. Thơ có thể không có vần nhng không thể không có
nhịp. Trong thơ hiện đại, vần điệu của thơ có thể bị suy yếu đi nhng nhịp điệu
vẫn là một trong những yếu tố chính tạo nên nhạc tính cho thơ. Có thể bài thơ

bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn trong cả âm thanh, nhịp điệu, kết cấu. Bởi thế,
nhiều ngời đã thừa nhận tính nhạc là đặc thù cơ bản của thi ca và phổ biến
trong mọi ngôn ngữ, đặc biệt là đối với ngôn ngữ thơ Việt Nam- một thứ ngôn
ngữ giàu có về nguyên âm, phụ âm và thanh điệu.
b) Về ngữ nghĩa
Ngữ nghĩa trong thơ ca phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong
ngôn ngữ giao tiếp đời thờng, thậm chí khác cả ngữ nghĩa trong văn xuôi. Thơ
17


là một cấu trúc rất cô đọng, hàm súc. Vì vậy, ngôn ngữ thơ phải chứa đựng
nhiều thông báo; một câu, một chữ có thể gợi lên nhiều nghĩa. Tính đa nghĩa
của ngôn ngữ thơ đợc Nguyễn Phan Cảnh giải thích nh sau : Sức mạnh của cơ
cấu lặp lại, của kiến trúc song song chính là ở chỗ đã tạo ra đợc một sự láy lại,
song song trong t tởng. Việc chức năng mỹ học chiếm u thế trong các thông
báo thơ trong khi không loại chức năng giao tế, đã làm cho thông báo thành ra
đa nghĩa, có tính chất nớc đôi, thành ra nhập nhằng hiểu theo nghĩa tốt của từ
này[2, 55]. Và đấy chính là điều cốt tử của thơ : Thơ phải đợc ý ở ngoài lời.
Trong thơ hàm súc vô cùng thì mới là tôn chỉ của ngời làm thơ. Cho nên ý thừa
hơn lời thì tuy cạn mà vẫn sâu, lời thừa hơn ý thì tuy công phu mà vẫn vụng.
Còn nh ý hết mà lời cũng hết thì không đáng là ngời làm thơ vậy (Ngô Lôi
Pháp).
Ngôn ngữ thơ ca mang trong mình nó sự sống, nhiều ý nghĩa vô cùng
biến đổi, xuất phát từ ý đồ nghệ thuật của nhà thơ. Mỗi từ ngữ khi đa vào thơ
đều đã qua trục lựa chọn của tác giả. Nh con kỳ nhông, nó hoạt động rất đa
dạng và biến hoá linh hoạt tuỳ theo chuỗi từ ngữ và nhịp điệu mà trong đó nó
đợc sử dụng. Giá trị ngữ nghĩa của từ phụ thuộc vào vị trí của nó trong câu thơ.
Do đó, từ ngữ trong một diễn ngôn thơ luôn có sự thay đổi ý nghĩa và kéo theo,
ngữ nghĩa học thơ ca thờng đi chệch so với sự liên kết từ ngữ thông thờng.
Văn xuôi không hạn chế về số lợng âm tiết, từ ngữ, câu chữ. Còn trong

ngôn ngữ thơ là một thứ ngôn ngữ bộc lộ thế giới chủ quan, thiên về thế giới ấn
tợng cảm xúc, cảm giác. Những mạch biểu cảm thờng đan chéo nhau, chiếm
những cấp độ nghĩa thiếu quan hệ nội tại trên bề mặt cú pháp. Do vậy, cấu trúc
cú pháp câu thơ thờng khó phân tích theo nguyên tắc lôgic của ngữ pháp thông
thờng nh trong văn xuôi [14, 129]. Chịu sự chi phối của một thể loại văn bản
luôn đòi hỏi hiệu quả nghệ thuật có sự thay đổi vợt bậc : tính đa thanh, tính
hình tợng, tính cảm xúc, nên thơ phải chọn cho mình những hình thức biểu đạt
riêng, mà một trong những hình thức đó là xây dựng kiểu câu có cấu trúc bất
quy tắc. Đó là những câu có sự bẻ gãy trật tự tuyến tính của các đơn vị ngôn
ngữ, không tuân theo quy tắc thông thờng, gồm có : câu đảo ngữ, câu tĩnh lợc,
câu tách biệt, câu vắt dòng, câu trùng điệp, câu có sự kết hợp bất thờng về
nghĩa.Từ vốn từ ngữ quen thuộc, sẵn có chung cho mọi ng ời, ngời sáng tạo
văn bản phải biết chọn lựa, sắp xếp các tín hiệu từ ngữ theo một cách thức nào
đó để làm nên sự khác biệt, sự phát sáng. Điều này đa đến sự kết hợp các tín
hiệu ngôn ngữ theo tuyến tính thời gian bị mờ đi, bị đẩy xuống hàng thứ yếu,
và sự chọn lựa tín hiệu này chứ không phải tín hiệu kia trên trục liên tởng nổi
lên, chiếm u thế. Nhờ sự chọn lựa trên trục lựa chọn này, ta có các kiểu câu đầy
sức nặng[35, 267]. Việc sử dụng phổ biến các kết cấu này không làm ảnh hởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa văn bản thơ. Ngợc lại, chính những kết
19


hợp, tổ chức ngôn ngữ bất bình thờng đó lại mở ra những giá trị mới, ý nghĩa
mới cho ngôn ngữ thơ ca tạo nên tính hàm nghĩa, đa nghĩa, tính biểu cảm mà
một cấu trúc thông thờng không thể có. Nó chứng tỏ khả năng vô tận của ngôn
ngữ thơ trong việc chuyển tải những trạng thái tinh tế, bí ẩn của thế giới và tâm
hồn con ngời. Có những khi hiệu quả nghệ thuật, ngữ nghĩa mà câu có cấu trúc
bất quy tắc đa lại vợt lên cả ý đồ ngời viết.
Chính vì thế, ngữ pháp thơ ca đợc xem là loại ngữ pháp có cấu tạo đặc
biệt, độc đáo mang tính nghệ thuật riêng, một thứ ngữ pháp bí ẩn, đầy ma lực,
hấp dẫn con ngời mặc dù việc phân tích, giải mã chúng không phải đơn giản,

và Mỹ. Đến đâu ông cũng có thơ và thơ hay. Một sự thật khách quan là Nguyễn
Duy vẫn sáng tác với bản sắc riêng của mình, không biến dạng không pha tạp
do hoàn cảnh sống. Chính những cuộc chu du đó ở cái tuổi chín muồi, hình nh
đã giúp cho Nguyễn Duy thể hiện thơ Việt Nam một cách dân dã, dân gian
hơn. Phải chăng ông sợ tự đánh mất mình.
Mặc dù cuộc sống gia đình còn nhiều khó khăn, vất vả nhng với tấm
lòng nhân hậu, cởi mở, ông sẵn sàng chia sẻ, cu mang, giúp đỡ bạn bè, ngời
thân một cách vui vẻ, chân thành. Trong thời buổi không hiếm ngời sống theo
phơng pháp thích ứng sinh học, gió chiều nào che chiều ấy thì Nguyễn Duy
hoàn toàn khác. Luôn có chính kiến, với thái độ thẳng thắn, ông không ngần
ngại bóc trần những cái xấu xa, trần trụi mà ngời khác còn e ngại cha dám nói
ra, hay vì lẽ này, lẽ khác, cố tình phủ lên nó lớp trang sức phù phiếm hòng che
đậy sự thật. Tất cả những tính cách ấy đều góp phần tạo nên bản sắc và bản lĩnh
thơ Nguyễn Duy.
Là một ngời tháo vát, Nguyễn Duy đã từng lăn lộn kiếm sống với rất
nhiều nghề : thợ nguội, lái xe, bốc vác, cày ruộng, nuôi lợn, nấu rợu, đạp xích
lô, đầu bếp Gần đây, ông còn viết ký, viết báo, viết tiểu thuyết, viết kịch, làm
phim thậm chí làm thuê, viết thuê, (những việc mà ông tự giễu là bán vàng
) để một phần tháo dỡ khó khăn kinh tế cho gia đình và phần nữa là thực hiện
lòng đam mê đối với thơ.
Sau khi cho xuất bản tập thơ Bụi (1997), Nguyễn Duy tuyên bố giã từ
sân thơ. Nhng cái nghĩa vụ của một ngời công dân yêu nớc vẫn đeo đuổi ông.
Những năm gần đây, mỗi dịp tết đến, xuân về, Nguyễn Duy làm lịch bằng thơ,
làm thơ bằng lịch với những minh hoạ ngộ nghĩnh của gồng gánh, thúng mủng,
nong nia, rành mẹt, rổ rá, dần sàng, chum vại, nồi đất, cái quạt, cái điếu
cày.nh để trng bày cái tông tích mình, cái cội rễ thơ mình. Có lẽ, ông là ngời
đầu tiên đa thơ đi triển lãm. Bởi thế, khi Nguyễn Duy tuyên bố gác thơ, ngừng
thơ thì chúng ta chỉ nên hiểu là ngừng làm thơ, chứ không ngừng sống thơ. Với
ông, ngừng thơ ắt là ngừng thở.
2.2. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Duy



Chơng 2 : Đặc điểm hình thức thơ Nguyễn Duy
1. Đặc điểm về thể thơ

Để tìm hiểu dấu ấn riêng của thơ Nguyễn Duy, phong cách cá nhân của
thi sĩ xứ Thanh, không thể không bàn tới một yếu tố quan trọng- thể loại sáng
tác. Là một khâu quan trọng trong quá trình sáng tạo, thể loại hình thành dựa
trên sự giống nhau về cách tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tợng đời sống đợc miêu tả, về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các
hình tợng đời sống ấy. Sự liên kết chặt chẽ giữa hệ thống hình tợng cụ thể và
thể loại, giữa cấu trúc thể loại và phong cách đã nảy sinh ngay từ giai đoạn đầu
sáng tác của nhà văn và sẽ phát triển dần trong hành trình sáng tạo, làm nên
những đơn vị nghệ thuật hoàn chỉnh. Vì thế, việc sử dụng thể loại nào trong
quá trình sáng tác cũng là một biểu hiện và ghi nhận sự phát triển của phong
cách cá nhân, mang đậm dấu ấn ngời nghệ sĩ. Theo cách hiểu trên thì chúng ta
cũng có thể khẳng định : thể thơ là một trong những yếu tố hình thức mang đặc
điểm tâm lí, thẩm mĩ, cảm hứng sáng tạo riêng của nhà thơ. Nó thể hiện một
góc nhìn, một trờng quan sát, một quan niệm của cái tôi trữ tình đối với đời
sống con ngời, một cách lý giải hiện thực đầy sáng tạo.
Là một nhà thơ sáng tác trên nhiều đề tài, với một cái tôi phong phú, đa
dạng cho nên ngòi bút Nguyễn Duy đã có cuộc thử nghiệm trên rất nhiều thể
thơ: năm chữ, bảy chữ, thơ tự do, và đặc biệt là thơ lục bát. ở thể thơ nào, ông
cũng để lại một dấu ấn, bản sắc riêng cùng với sự cách tân, phát triển mang
những phẩm chất mới.
1.1. Thể thơ lục bát
Có thể nói, lục bát là một thể thơ truyền thống độc đáo, mang đậm bản
sắc dân tộc Việt Nam. Nó hình thành trong ca dao, đợc nâng tới đỉnh cao ở
Truyện Kiều và cho đến hôm nay, trong trào lu mạnh mẽ của thơ tự do, lục bát
vẫn giữ nguyên vai trò là một thể loại anh minh [31,268], đã giữ đợc bí quyết
trờng sinh luôn tạo đợc trờng nét d cho chính thể loại mình[31,172]. Sở dĩ

Thơ lục bát Nguyễn Duy dung nạp tất cả các loại đề tài : quê hơng đất nớc, chiến tranh và ngời lính, miền xa trái đất, tình yêu lứa đôi, và cả nội dung
thế sự. Song phải nói rằng những thi phẩm thành công, để lại ấn tợng sâu sắc
trong lòng độc giả chính là những khúc hát về những tình cảm muôn thuở của
con ngời nh quê hơng, tình yêu, bè bạn có thể kể một số tác phẩm đạt tới
trình độ mẫu mực : Tre Việt Nam, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xa, Về làng, Bầu trời
vuông, Trăng, Lời ru đồng đội, Hầm chữ A, Hỏi thăm, Nhớ bạn, Ma trong
nắng, nắng trong ma, Đám mây dừng lại trên trời
Thơ lục bát không hạn định số lợng câu cho một bài thơ nên thờng xảy ra
hiện tợng có những bài thơ lục bát rông dài, kể lể, trở thành những bài vè,
nhiều lời mà ít ý. Bằng lối t duy sắc sảo mà thông minh và bàn tay khéo léo,
Nguyễn Duy đã đa thể lục bát của mình thoát khỏi điểm yếu đó. Các bài thơ
25


Trích đoạn tài những miền xa trên trái đất Hình ảnh hạt bụi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status