Mở Đầu
1-Lý Do Chọn Đề Tài :
Trong luận văn này, chúng tôi chọn đề tài Ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi vì
những lý do sau :
1.1 Về mặt lý luận :
Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ thơ ca nói riêng là một
trong những mảng đề tài nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động ,nhất đó lại là một
lĩnh vực hoạt động đặc thù: hoạt động nghệ thuật.
Việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca, trong đó tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của
một tác giả là một trong những hớng đi cần thiết của việc nghiên cứu ngôn ngữ
học vừa mang tính chuyên sâu, vừa mang tính liên ngành hiện nay .
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều tác phẩm
nổi tiếng thuộc nhiều thể loại. Trong đó, với t cách là một nhà thơ, qua thi phẩm
của mình, ông đã có những tìm tòi, những đóng góp lớn, tạo nên một phong cách,
một giọng điệu thơ khác lạ trong thơ Việt Nam hiện đại. Bởi vậy, việc nghiên cứu
ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi không chỉ góp phần tìm hiểu phong cách ngôn ngữ
của một tác giả lớn mà còn góp phần tìm hiểu ngôn ngữ thơ ca Cách mạng nói
riêng trong suốt mấy chục năm qua.
1.2 Về mặt thực tiễn:
Thơ văn Nguyễn Đình Thi đã đợc đa vào giảng dạy trong nhà trờng. Việc
nghiên cứu thơ ông góp phần phân tích thơ của tác giả không chỉ trên bình diện nội
dung mà còn ở bình diện hình thức, nghệ thuật ngôn từ , một lĩnh vực mà cho đến
nay cha có một sự nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu tơng xứng với sự đóng
góp và tầm cỡ của ông trong nền thơ ca Cách mạng Việt Nam.
2 - Mục Đích , Nhiệm Vụ Nghiên cứu :
2.1- Mục đích :
Luận văn nhằm làm sáng tỏ các vấn đề sau :
a-Đặc điểm cơ bản của thơ Nguyễn Đình Thi từ các phơng diện: cách sử
dụng ngôn từ , cách tổ chức nội dung, cấu tạo các đơn vị trong thơ.
b- Các đặc trng phong cách tiêu biểu và những đóng góp của nhà thơ về phơng diện nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ thơ.
2. 2- Nhiệm vụ :
ở giai đoạn đầu, các bài thơ của ông (đợc in trong tập Ngời chiến sĩ
và Bài thơ Hắc Hải đã có nhiều ý kiến phê bình và đánh giá khác nhau. Đáng chú
ý là cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi tại Việt Bắc năm 1949. Trong cuộc
tranh luận này có hai loại ý kiến :
- Loại ý kiến thứ nhất: Phê phán loại thơ không vần của Nguyễn Đình Thi:
trúc trắc, khô khan, từ ngữ quá tiết kiệm nên khó hiểu. Thơ phải có vần, thơ không
vần không phải là thơ. (Cực đoan hơn, có ý kiến còn đề nghị loại bỏ thơ Nguyễn
Đình Thi ra khỏi thơ kháng chiến). Có nhận xét cho rằng các bài thơ (ở giai đoạn
đầu) của ông còn đề cập đế những điều, những việc còn xa rời thực tiễn, cha hoà
vào đợc tâm hồn đại chúng . Thơ anh nh hạt ngọc lung linh, chứ không phải là
dòng suối lôi cuốn ngời ta đi (47; tr. 222)
- Loại ý kiến thứ hai: Tán đồng những tìm tòi, thử nghiệm của Nguyễn Đình
Thi. Đánh giá thơ ông rất thành công. Kết tội thơ Nguyễn Đình Thi không vần là
2
không đúng. Miễn sao thơ phải có một tâm hồn, một nhạc điệu rung cảm đợc ngời ta , tức là thơ (47; tr.222)
Qua các ý kiến khác nhau ấy, ta có thể thấy: Thơ Nguyễn Đình Thi đã tạo ra
một phong cách khác lạ, nhà thơ là ngời nhiều tài, nhiều thông minh, thích tìm
những cái mới (47; tr. 224). Đồng thời, nhiều ý kiến cũng đã chỉ ra những chỗ
còn cha đợc của thơ ông .
Sau hội nghị ấy, nhà thơ đã nhìn lại các sáng tác của mình. Thơ ông đã gắn
bó, gần gũi hơn với đời sống xã hội và nỗi niềm của quần chúng. Những bài thơ đợc sáng tác sau đó và cho đến hôm nay, đợc đánh giá rất cao, tạo ra một phong
cách, một giọng điệu không lẫn với ai. Thơ Nguyễn Đình Thi là kiểu thơ hiện đại
đích thực từ nội dung đế hình thức. Làm thơ là một việc khó khăn vô cùng. Đó là
con đờng mà ngời ta có đi mà không có đến. Nhng nhà văn hoá lớn Nguyễn Đình
Thi đã đi và đã đến với t cách là một nhà thơ hiện đại có diện mạo và sắc thái riêng
biệt trên thi đàn Việt Nam (7; tr. 248 )
3.3- Trong các nhận xét, đánh giá của những ngời nghiên cứu, phê bình, đọc thơ
Nguyễn Đình Thi, có rất nhiều ý kiến nhận xét liên quan đến một số phơng diện
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn gồm :
Chơng 1 : Thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi
Chơng 2 : Đặc điểm hình thức của thơ Nguyễn Đình Thi
Chơng 3 : Đặc điểm ngôn ngữ thể hiện nội dung thơ của Nguyễn Đình Thi
4
Chơng 1
Thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi
1 -Thơ và ngôn ngữ thơ
1.1- Một số đặc điểm của thơ .
Theo các nhà nghiên cứu, thơ ca là một loại hình nghệ thuật ra đời từ rất sớm,
khi xã hội loại ngời còn thời kỳ hoang sơ. Trong hình thái cổ sơ nhất, thơ ca tồn tại
dới dạng những bài hát lễ nghi, những lời phù chú, đợc sử dụng trong các hội hè và
tôn giáo. Thơ bắt đầu từ cái ngày khi con ngời cảm thấy cần phải tự bộc lộ mình
(Hê- ghel). Thơ ca, đó là hình thức phổ biến (còn đối với thi sĩ, thì đó lại là hình
thức chủ yếu ) để bộc lộ tâm tình. ở dân tộc nào và thời đại nào cũng vậy .
Thơ là gì ? là một câu hỏi đặt ra từ lâu. Bằng trực quan cảm tính thì ai cũng
dễ thấy nhng để đa ra lời giải đáp rõ ràng, có cơ sở khoa học, thì không đơn giản
chút nào. Trong nghiên cứu, việc xác định về một quan niệm, một định nghĩa thơ
là cần thiết. Ngời ta đã bàn nhiều về thơ. Các ý kiến thật là đa dạng, thậm chí đối
lập nhau. Điều đó phần vì do quan điểm, do đứng ở nhiều góc độ khác nhau, phần
vì thơ là một loại hình nghệ thuật độc đáo đặc sắc nhng cũng vô cùng phức tạp về
nhiều phơng diện.
Điểm qua một số công trình nghiên cứu về thơ, có thể thấy những điểm cơ
bản thờng đợc nêu lên là :
Thơ là tiếng nói của tình cảm con ngời, là sợi dây thơng mến ràng buộc con
ngời, bộc lộ tình cảm con ngời. Thơ là một hành động giao cảm, một hành động
tín nhiệm (Solmi & Cadoresi); (Dẫn theo 17 ; tr.17). Thơ là một điệu hồn đi tìm
xuôi có một thứ ngữ pháp riêng, và thơ lại có một thứ ngữ pháp riêng, không
giống văn xuôi .
Trong thơ, các yếu tố âm tiết, vần, nhịp, dòng thơ, khổ thơ và niêm luật khác
làm nên diện mạo và hình thức riêng cho nó, (nh các thể lục bát và Đờng luật).
Tuy vậy, cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, thơ ca ngày càng mở
rộng nội dung phản ánh, nhất là hình thức biểu hiện. Nhiều sự biến đổi, cách tân về
hình thức đã làm cho nó ngày càng đi về phía đại chúng, hơn thế, đi về hớng tự
nhiên hơn, diễn tả đợc muôn mặt tế vi của đời thờng. Thể thơ tự do ra đời, không
phá vỡ cú pháp thơ đã tồn tại hàng ngàn năm, mà đã mở ra cho thơ một hớng diễn
đạt mới trên cái nền truyền thống. Chính nhờ hình thức có tính uyển chuyển và
linh hoạt mà thơ mới có thể diển tả dễ dàng hơn những điều mà ngời ta có thể nghĩ
ra , và cứ ngỡ rằng chỉ nói đợc bằng văn xuôi:
Ma đi ! Ma đi ! Ma cho mãnh liệt
Ma lèm nhèm chúng tôi chẳng thích đâu
Nhng chẳng có ma rào thì cứ ma ngâu
Hạt ma bụi ... ma li ti cũng đợc
Mặt chúng tôi ngửa lên hứng nớc
Một giọt nhỏ thôi , cát cũng dịu đi nhiều
(Đợi ma trên đảo Sinh Tồn Trần Đăng Khoa )
Sự phát triển thơ theo hớng giản nở vần nhịp, tiến tới câu thơ tự do, tự nhiên
nh lời nói thông thờng:
Anh không ở lại yêu hoa mãi đợc
Thiêu xong, anh về các trời khác cũng đầy hoa
Chỉ tiếc không có tình yêu ở đó .
Anh thành một nhúm xơng gio trong bình
Em đừng khóc
Ngoài vờn hoa cỏ mọc
Cho dù trái đất không còn anh
Anh vẫn còn nguyên trái đất
Tặng cho mình
Trong văn xuôi, nhịp điệu buông thả tự nhiên, vai trò ngữ nghĩa lấn át, bao
trùm, cho nên nhịp diệu thờng không đợc cảm nhận rõ nét. Tuy vậy, ta vẫn thấy rõ
có những khi nhà văn đã sử dụng nhịp điệu làm cho câu văn có sức truyền cảm.
Ví dụ: Dân tộc ta, / nhân dân ta, / non sông đất nớc ta, / đã sinh ra Hồ Chủ
Tịch, / ngời anh hùng dân tộc vĩ đại / và chính Ngời đã làm rạng rỡ Tổ quốc ta /
nhân dân ta ./và non sông đất nớc ta /.
(Điêú văn do đồng chí Lê Duẩn đọc tại lễ truy điệu Chủ Tich Hồ Chí Minh
ngày 9-9-1969)
Tuy nhiên, so với văn xuôi, nhịp điệu trong thơ lại nổi lên rõ nét hơn .
Maiacôpxky nhấn mạnh: Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lợng cơ bản của câu
thơ. Còn N. Tinianôp phân biệt rõ nhịp điệu văn xuôi và thơ: Trong văn xuôi,
(nhờ sự đồng thời của lời nói), thời gian đợc cảm thấy rất rõ, hiển nhiên đó không
phải là những tơng quan về thời gian có thực giữa các sự kiện mà chỉ là những tơng
quan có tính ớc lệ. Trong thơ thì thời gian không thể cảm giác đợc. Các tiểu tiết
của chủ đề và những đơn vị lớn của chủ đề đều đợc cân bằng bởi cấu trúc của thơ.
(Dẫn theo 14; tr. 42).
ở cấp độ tổ chức một bài thơ, đơn vị để thể hiện nhịp (ngắt nhịp ) là các
tiếng trong dòng thơ (câu thơ). Trong mỗi dòng thơ lại có cách ngắt nhịp phụ thuộc
vào thể thơ. Từ nhịp điệu chung của luật thơ ấy, ngời sáng tác sẽ có những cách sử
dụng linh hoạt, nhất là trong thơ tự do, rõ nhất là loại thơ không vần.
8
Một yếu tố không kém phần quan trọng của thơ là nhạc điệu. Nhạc điệu đợc
hình thành do các yếu tố ngắt nhịp, phối thanh, gieo vần ... giữa các tiếng trong
dòng thơ và trong cả bài thơ. Paul Valery định nghĩa: Thơ là sự phân vân kéo dài
giữa âm thanh và ý nghĩa. (Dẫn theo 14; tr.45). Âm thanh ở đây chính là tính
nhạc của thơ. Thơ có thể không vần, nhng có nhịp điệu và nhạc điệu làm nên chất
thơ, chất nhạc
Ví dụ :
Thi đã sớm khẳng định sâu sắc t cách công dân, t cách của ngời tri thức cách
9
mạng. Những năm tháng hoạt động này đã góp phần hình thành bản lĩnh, vốn sống
và tài năng trong những sáng tác của ông. Ông viết về triết học, lý luận phê bình.
Những vấn đề về chính trị và văn nghệ đợc soi sáng từ góc độ triết học, tạo ra ấn tợng mạnh, một chất trí tuệ sắc sảo.
Ông là tác giả của những bài hát nổi tiếng: Diệt phát xít, Ngời Hà Nội
Ông viết nhiều vở kịch gây những sự kiệntrong đời sống sân khấu Việt Nam:
Con nai đen, Rừng trúc, Nguyễn Trãi ở Đông Quan ... Các truyện ngắn của ông
đợc đánh giá rất cao (Giải thởng báo văn nghệ 1951-1952). Ông là nhà văn nổi
tiếng với những tác phẩm mang tính sử thi (Vỡ Bờ) hoặc đề cập đến những vấn đề
nóng bỏng của chiến tranh (Xung kích (1951), Vào lửa (1966), Mặt trận trên cao
(1967) ...
Ông là tác giả của sáu tập thơ kết tinh những suy nghĩ cảm xúc mãnh liệt của
ông về đất nớc, con ngời và thời đại trong những năm tháng không thể nào quên.
Có thể nói, ở lĩnh vực sáng tác nào, ông cũng để lại những thành tựu nổi bật.
Ông là một chứng nhân của nhiều hoàn cảnh lịch sử mà đời sống và sự
nghiệp văn chơng cuả ông song hành với đời hoạt động cách mạng, đời kháng
chiến. Tất cả đã hình thành và phát triển ở ông một bản lĩnh vững vàng, một trình
độ văn hoá sâu rộng, một trí tuệ sắc sảo và đặc biệt rất giàu tính sáng tạo. Điều đó
in dấu rất rõ trong các tác phẩm của ông, nhất là trong thơ mà chúng ta có dịp tìm
hiểu ở phần tiếp theo .
2. 2 . Một số quan niệm của Nguyễn Đình Thi về thơ
Nguyễn Đình Thi không chỉ là ngời sáng tác nổi tiếng mà ông còn là một
nhà lý luận phê bình sắc sảo. Ngời ta nhận thấy giữa sáng tác và lý luận ở ông rất
nhất quán, hài hoà. Quan niêm của ông về nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng đợc
phát biểu khá hệ thống và rõ ràng. Điều này giúp cho ngời nghiên cứu về thơ văn
ông có một chổ dựa đáng tin cậy, nó góp phần lý giải những đặc điểm về nội dung
và hình thức trong các tác phẩm của ông.
lên theo (49; tr47).
ở một đoạn khác, trở lại ý này, ông nhấn mạnh: Mỗi thể thơ có một khả
năng, một thứ nhịp điệu của nó nhng nếu theo dõi những thời kỳ lớn của lịch sử
thì một thời đại mới của nghệ thuật thờng bao giờ cũng tạo ra một hình thức mới.
Thơ của một thời mới trong những bớc đầu ít khi chịu những hình thức đều đặn, cố
định (49; tr. 80).
Những ý kiến của Nguyễn Đình Thi, về mặt lý luận cũng phù hợp với với
thực tiễn sáng tác của mình. Nhiều bài thơ của ông đợc viết nột cách tự do, thoải
mái, không quá nệ vào vần điệu, không a sự nhịp nhàng dễ dãi của câu chữ. ý tởng
đó đã hình thành từ rất sớm trong những ngày đầu sáng tác thơ của ông.
Chúng ta nhớ rằng năm 1948, trong một hôi nghị tranh luận về thơ của mình,
trớc các nhà thơ, nhà văn nổi tiếng nh: Tố Hữu, Xuân Diệu, Thế Lữ, Xuân Thuỷ,
Thanh Tịnh, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố nhà thơ trẻ Nguyễn Đình Thi (lúc đó
mới 24 tuổi) đã phát biểu rất khảng khái về chủ đích, hớng đi, tình yêu sáng tác.
Đặc biệt, với loại thơ không vần mà lúc đó nhiều ngời tỏ ra không mặn mà,
Nguyễn đình Thi nói rõ:
"- Khi đã bỏ luật lệ rồi, đủ cảm xúc tự nhiên thì cứ nói thành vần cũng đợc,
không thì thôi. Nói nh lời nói thờng vậy.
-Rút ra những cái trong cuộc sống .
- Tôi mong đi tới những câu thơ nh lời nói thờng mà đến độ cảm xúc mãnh
liệt. Nếu cần nói một hơi dài dùng những câu dài. Nếu hơi ngắn thì nói ngắn.
Những hình ảnh thơ mới bây giờ tôi tởng tợng nó cần phải khoẻ, gân guốc, xù xì,
chất phác, chung đúc tự nhiên. Những bài thơ cũ, cùng một nhịp điệu đều đều tôi
11
không chịu đợc. Bài thơ chất phác kia tác động vào tâm hồn ta hơn (47; tr.227,
228).
Vai trò của từ ngữ, cũng đợc ông rất chú trọng: Chữ và tiếng trong thơ phải
còn có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm. Ngời làm thơ chọn chữ và tiếng
tâm đối với vấn đề hạnh phúc của con ngời, con ngời lao động, con ngời Việt
Nam (29).
Có những nhà thơ chỉ nói cái vui chiến đấu và chiến thắng. Nguyễn Đình
Thi còn nói thêm những xót xa mất mát và có lúc hình nh anh nhấn quá nhiều. Nhng trái lại, cần nói anh hiểu rõ cái giá chúng ta phải trả, hiểu rõ phẩm chất cao
quý của đồng bào, đồng chí chúng ta, hiểu rõ hạnh phúc to lớn mà chúng ta giành
đợc (43; tr.175) .
3.3 - Về hình thức ngôn ngữ
Nhiều ý kiến đánh giá sự mới lạ, cách tân trong hình thức, ngôn ngữ thơ
Nguyễn Đình Thi. ý kiến khen cũng nhiều và chê cũng không ít. Một số ý kiến cho
rằng: Thơ Nguyễn Đình thi trúc trắc, khó đọc. Có những bài ở giai đoạn đầu cha
nói đợc nỗi niềm của quần chúng. Có nhiều câu thơ khó hiểu, một số bài còn có sự
u uất , gò bó ...
13
Nhng nhìn chung thơ Nguyễn Đình Thi đợc đánh giá cao. Suy ngẫm thật sâu
thơ ông, ta dễ dàng thấy rằng, ngay từ những ngày đầu xuất hiện trên thi đàn Việt
Nam, Nguyễn Đình Thi đã ráo riết chủ trơng cách tân triệt để hình thức câu thơ,
cách tân sâu sắc lối biểu cảm của thơ, đặc biệt đối với thể thơ thất ngôn ... Câu thơ
Nguyễn Đình Thi, thờng biến ảo bất kỳ. Câu thơ dài ngắn, ngắt dòng hoàn toàn
tuỳ thuộc hơi mạch bên trong của tứ thơ, hồn thơ chứ không cố định, không bị gò
ép theo một thể thơ nào. Thơ Nguyễn Đình Thi đợc gạn chắt tinh tế, đợc viết một
cách chắc chắn, nhọc nhằn, kỷ lỡng và đầy trách nhiệm (7; tr.251).
Lý giải về thơ không vần của Nguyễn Đình Thi, có ý kiến nhận xét chính vì
chú trọng đến hình ảnh trong thơ, Nguyễn Đình Thi không chú trọng nhiều đến
chức năng tạo nhạc, ngợc lại thiên về chức năng tạo hình của ngôn ngữ (...). Thơ
Nguyễn Đình Thi thờng kiệm lời, đọc thơ ông ta bắt gặp một thi pháp hiện đại :
kiệm lời đúc ảnh ( 22; tr .280).
Về mặt sử dụng ngôn ngữ cụ thể, có ý kiến nhấn mạnh một số điểm nổi bật
của thơ Nguyễn Đình Thi: là thơ trữ tình điệu nói từ ngữ dùng giản dị, giàu hình
thể thơ, các đặc điểm về tổ chức trong câu thơ (vần, nhịp điệu), đặc điểm về từ
ngữ và một số cấu trúc điển hình của bài thơ ...
Qua những đặc điểm này, ta có thể thấy rõ hơn về phong cách, diện mạo
riêng của thơ Nguyễn Đình Thi trong thơ ca nói chung, thơ Việt Nam hiện đại nói
riêng.
2. Thể thơ :
2.1- Nhận xét chung :
Trong những khái niệm liên quan đến thơ, thuật ngữ thể thơ cha đợc định
nghĩa rõ ràng. Nhng qua phân loại về thể thơ, ngời ta thờng lấy số tiếng và vần để
phân loại các thể thơ.
Căn cứ vào số tiếng (trong câu thơ ) có: thể thơ 5 tiếng, 6 tiếng, 7 tiếng, 8
tiếng, thơ tự do số tiếng không đều nhau).
15
Căn cứ vào luật thơ, có hai loại: Thơ cách luật ( thơ có quy tắc và luật lệ ổn
định, gồm thơ Đờng luật, lục bát, song thất lục bát ...); Thơ không cách luật (thơ
tự do số tiếng, số câu không hạn chế )
Khi tìm hiểu thơ Nguyễn Đình Thi, chúng tôi nhận thấy trong số 107 bài có:
Thơ Đờng luật: 5 bài, thơ lục bát:1 bài, thơ tự do: 101bài (trong đó một bài trờng
ca có xen kẽ lục bát (Bàt thơ Hắc Hải). Sau đây xin điểm qua một số thể thơ tiêu
biểu trong thơ Nguyễn Đình Thi.
2.2 Thể thơ lục bát :
Lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc. Đặc điểm nổi bật của thể thơ này
là câu 6 và câu 8 luân phiên nối tiếp nhau, tiết tấu làm nên đặc trng của thể thơ
này trên cơ sở sự hài hoà về hiệp vần và hài âm .
Trong sáng tác của mình, Nguyễn Đình Thi ít sử dụng thể lục bát nhng bài
thơ lục bát của ông lại tạo nên một đặc trng rất là ấn tợng .
Đoạn thơ lục bát trong trờng ca Bài thơ Hắc Hải có thể tách ra nh một bài có
tính độc lập, nói về đất nớc Việt Nam.
quê hơng đất nớc. Đó là tiếng hát vọng về từ trong sâu thẳm trái tim, từ cách gieo
vần ngắt nhịp, hoà phối âm thanh đến hình ảnh:
Việt Nam đất nớc ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lã rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trờng Sơn sớm chiều ...
Mắt đen cô gái long lanh
Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung ...
Nhớ đồng ruộng nhớ khoai ngô
Bát canh rau muống quả cà dòn tan...
Bài thuần nhất theo thể lục bát là Chiều thu nhớ Bác Hồ:
Nắng chiều trên lúa xôn xao
Mây chiều lng núi cao cao rạng ngời ...
Nổi bật ở bài thơ này là cách gieo vần, sự hài thanh rất chuẩn mực và đạt tới
sự nhuần nhuyễn cổ điển .
Đó là sự tuân thủ luật Bằng Trắc ở các tiếng 2, 4, 6, ở câu lục, 2, 4, 6, 8,
ở câu bát, là sự gieo vần ở các vị trí đúng luật, là sự đối lập bổng trầm ở các
tiếng trong một câu thơ :
Nắng chiều trên lúa xôn xao
T
B B T B B
Mây chiều / lng núi / cao cao rạng ngời
B B
B T
B B T B
Nớc non / non nớc / bồi hồi
T
B
B T
B B
tạo thanh điệu hài hoà, nhẹ nhàng. Các tiếng ở trong câu cũng chủ yếu là nhịp
chẵn. Các từ láy, từ ghép sóng đôi suất hiện (xôn xao, cao cao, bồi hồi, nớc non,
nhớ thơng, rạng ngời,...) Các từ ngữ chỉ không gian đợc đa vào: nắng chiều, mây
chiều, mây hồng, sông xa, quê hơng ...
Tất cả những yếu tố đó đã tạo ra ở bài thơ một không gian thơ tràn ngập tình
cảm bâng khuâng nhng sâu lắng. Bài thơ chỉ có 8 câu, nhỏ gọn nh một nén tâm hơng, nhớ thơng ngậm ngùi viếng Bác.
2.3- Thể thơ Đờng luật :
Thơ Đờng luật ngoài quy tắc chặt chẽ về niêm luật (vần, nhịp, đối ...), còn có
sự quy định về số tiếng (5 hoặc 7 tiếng) và số câu: tứ tuyệt (4 câu) bát cú (8 câu)
và trờng thiên (trên 8 câu ).
Khảo sát thơ Nguyễn Đình Thi, ta thấy trong số 107 bài, ông chỉ sáng tác ba
bài theo thể Đờng luật. Trong đó có hai bài ở dạng tứ tuyệt:
Vờn bàng rụng đầy mặt đất
Sơng lạnh bên đờng đoá cúc hoang
Chầm chậm nớc sông trôi lấp loáng
Ai một mình đi trong ánh trăng
(Sơng lạnh ) .
Năm mơi năm nh một bóng mây
Gió thu lại thổi suốt đêm dài
Vẫn nghe khúc hát ngời năm ấy
Chén rợu bên đèn nớc mắt đầy
(Gió thu )
Đối chiếu với thể tứ tuyệt nguyên thể, thơ tứ tuyệt của Nguyễn Đình Thi
niêm luật không hoàn toàn theo thể Đờng luật nghiêm nhặt. Chẳng hạn: Chén rợu
bên đèn nớc mắt đầy là một câu thơ tạo cảm giác ngang ngang vì trong dòng thơ
tiếng thứ t và tiếng thứ 7 cùng vần bằng nhng phải khác về âm vực (cao thấp) nhng
trong câu thơ này lại cùng dấu huyền (đèn - đầy )
Những bài thơ khác tuy có dạng thất ngôn bát cú (Nh dòng sông, Nhớ) hay
Rặng lau già xao xác tiếng reo khô
Nh khua động nỗi nhớ nhung thơng tiếc
Trong lòng ngời đứng bên hồ
Trong bài thơ, yếu tố vần vẫn đợc thể hiện qua các câu, các khổ, có tác dụng
liên kết bài thơ, nhng dờng nh mạch thơ, hình ảnh thơ có sức liên kết mạnh mẽ, hơi
thơ phóng khoáng, tự do hơn.
Nh vậy, về mặt hình thức, thơ tự do vẫn có thể có vần, nhng nó không còn trở
thành một qui tắc chặt chẽ,mà nhịp điệu lại nổi lên nh một yếu tố chủ đạo. Nhịp
điệu ở đây không do các yếu tố cách luật xác định và cấu tạo nh thơ Đờng luật,
thơ lục bát ... (nói chung là không xác định bởi những yếu tố và nguyên tắc cụ thể)
mà thờng do những qui tắc nôị tại, thậm chí rất vô hình, chi phối.
Về nội dung, thơ tự do cũng nh các thể thơ khác, phản ánh những rung động
của tâm hồn về con ngời và cuộc đời với những hình ảnh cô đọng, chắt lọc, tinh tế.
Thơ tự do không đồng nghĩa với tuỳ tiện, Xuân Diệu phát biểu: Tự do là
mình đặt cho mình một kỷ luật linh động, tuỳ theo mỗi trờng hợp, nhng luôn luôn
có kỷ luật. Muốn ca hát mà chẳng theo tiết tấu nhịp nhàng thì ai nghe? Làm thơ tự
do tức là mỗi đề tài tự tạo ra một nhịp điệu riêng cho thích hợp, cái điệu ấy không
đợc phu lu mà cần thiết. Phải cao tay lắm mới sai khiến đợc thơ tự do. Tự do không
có nghĩa là muốn làm gì thì làm (18; tr.408) .
Một xu hớng tìm tòi mới từ thơ tự do là thơ không vần. Thơ không vần là
một trong những vấn đề đợc đa ra tranh luận tại Hội nghị văn nghệ Việt Bắc tháng
9-1949 nhân các bài thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi.
19
Nh vậy, khi văn học phơng Tây tràn vào Việt Nam, dòng thơ mới xuất hiện.
Bên cạnh các thể thơ khác là sự lên ngôi của thơ tự do với nhiều tìm tòi sáng tạo
mới .
2.4.2 Thể thơ tự do trong thơ Nguyễn Đình Thi:
Qua thống kê các thể thơ của Nguyễn Đình Thi,ta thấy tình hình nh
trong thơ Nguyễn Đình Thi có sự phối hợp câu thơ dài, ngắn khác nhau:
Đất nớc muôn nơi / Nghèo xơ xác hôm nay chói lọi / Gió thổi đờng xa tơi
đỏ / Dạt dào lúa ngã thân yêu ... ( Lúa ).
20
Qua tháng năm / Tôi đã đi / Gập ghềnh nhiều đoạn đờng / Sơng mù gió lửa /
Trải buồn vui ngọt đắng ... ( Dòng sông trong xanh )
Hoặc phối hợp các thể thơ tự do lục bát :
Tôi ngắt những hoa rừng tím đỏ / Ngắt nhiều hoa nữa nhiều trên tay / Chị áo
choàng khiêng súng mê say / Nhìn anh bộ đội má hây hây hồng / Mấy năm hoang
vắng đồi nơng / Hôm nay nớc suối quê hơng lại cời / Anh không nằm dới cỏ / Tiếng
hát hôm nay anh vẫn hát trên đồi ( Hoa rừng ) .
Đoạn thơ dẫn trên vừa có vần lại vừa có những câu không gieo vần với nhau,
vừa có dạng thơ 7 chữ , xen lẫn lục bát biến thể với câu thơ tự do.
Nhiều bài thơ Nguyễn Đình Thi có hình thức ở dạng hợp thể hay phối xen
nh vậy. Thơ ông chạy tung các ngã, rất khó quy về một dạng cố định.
2.5- Thơ văn xuôi
2.5.1- Đặc điểm:
Trong thơ có những câu dài (từ 11, 12 tiếng trở lên). Khi gặp những bài thơ
nh thế Nhịp điệu câu thơ lại bị dãn ra, tiết tấu không rõ rệt, nhạc điệu thơ bị hoà
tan trong nhịp điệu bình thờng của văn xuôi. Những câu thơ dài từ 11, 12 tiếng trở
lên sẽ dần biến thành câu thơ văn xuôi và bài thơ gồm những câu thơ đó có xu hớng trở thành bài thơ văn xuôi ( 27; tr. 188 ) .
Có thể vận dụng ý kiến trên đây để xếp một loại thơ, tuy có dạng tự do, nhng
câu thơ tràn ra, không tuân theo một quy tắc nhất dịnh nào là thơ - văn xuôi.
R.Tagore cũng đã từng làm những bài thơ nh vậy:
- Con ngời vạch những đờng cày trên ruộng, để viết nên no ấm, mùa màng
- Cũng con ngời nắn nót trên trên trang sách nhỏ, vun xới cho tâm hồn, điều
thiện niềm vui .
- Tình yêu vẫn nguyên vẹn là điều bí mật, ngay cả khi đã đợc thổ lộ.
Vẫn có thể bị đàn ong quật ngã ( Vì sao )
Và có nhiều bài dài (Với Lý Bạch đêm nay, Buổi chiều cuối năm, Truyền
thuyết về chim phợng , Vợt biển ...) .
Ví dụ : Đến lợt tôi hôm nay vợt biển / Thuyền nhỏ tôi đã sữa soạn nhiều
buồm. / Buổi sáng nắng hồng tôi kéo nắng lên lá buồm màu biếc, hăng hái ra
khơi ./ Thuyền đi thuận gió. Nhng lòng cha thoả. Tôi kéo lên lá buồm thứ hai /. Rồi
một lá buồm lớn nữa, một lá nữa, tôi kéo hết lên bao nhiêu lá buồm nhiều màu sắc
/ Rực rỡ những cánh buồm phồng gió, con thuyền tôi rẽ sóng chồm bay / Tôi đứng
mắt ngời sáng nh một vị ngời trời / Bỗng,một cơn gió lốc, con thuyền cồng kềnh
những cánh buồm lật chao đi, chìm nghỉm .../ May cha đến nỗi xa bờ.
( Vợt biển ).
Đặc điểm chung của các bài thơ - văn xuôi ở đây là các câu thờng dài (ít nhất
có 8 tiếng , nhiều nhất có 35 tiếng ,độ dài trung bình 15-16 tiếng). Câu thơ đợc vắt
ra nhiều dòng trên trang in, cuối mỗi câu có dấu câu kết thúc.Vần có thể có, có thể
không, nhịp điệu không rõ ràng cố định mà nó thờng lan toả hoạc tiềm ẩn giữa các
câu ...
Nội dung các câu thờng là kể hoặc tả nhiều hình nhiều cảnh nhằm bộc lộ
những chủ đề nào đó, hoạc rõ ràng (ví dụ : Nơi dựa, Truyền thuyết về chim phợng
...) hoặc ngầm ẩn (ví dụ : Vợt biển, Hoa chua me đất ...) nh các thể thơ khác.
Tóm lại,Thơ Nguyễn Đình Thi có nhiều loại khác nhau: lục bát, Đờng luật,
thơ tự do, thơ văn xuôi. Thể thơ lục bát, Đờng luật tuy có số lợng ít nhng rất nhuần
nhị, tinh tế. Phổ biến nhất trong thơ Nguyễn Đình Thi vẫn là thơ tự do. Thơ tự do
22
(dù là có vần hay không vần) làm nên giọng điệu, diện mạo của thơ ông. Vì vậy,
khi tìm hiểu các đặc điểm về thơ Nguyễn Đình Thi, ở phần sau, chúng tôi chủ yếu
dựa vào loại thơ này .
3 . Một số đặc điểm trong tổ chức câu thơ Nguyễn Đình Thi
3.1 Vần trong thơ Nguyễn Đình Thi
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cời thiết tha
( Đất nớc )
23
Có khi là vần thông (không trùng hợp hoàn toàn âm chính và âm cuối )
Khói nhà máy cuộn trong sơng núi
Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng
Ôm đất nớc những ngời áo vải
Đã đứng lên thành những anh hùng
( Đất nớc )
Nh hai con chim trên mặt biển
Bay giữa mênh mông sóng nớc mờ
Chỉ có mây trời và gió lớn
Làm bạn cho ta bay mãi xa
( Buổi chiều ấy )
Thống kê một số bài thơ có vần, ta thấy tỷ lệ vần thông vần chính trong các
dòng thơ nh sau :
Chẳng hạn , trong bài thơ Đất nớc, số cặp gieo vần chính là : 8, số cặp gieo
vần thông là: 15, hoặc vần thông vần chính bằng nhau (nh Chia tay trong đêm Hà
Nội, tỉ lệ: 10/10) . Nhng điều quan trọng là nhà thơ không hoàn toàn phụ thuộc vào
vần. Vần thông chính là điều kiện để cho nhà thơ vừa tạo mặt liên kết hình thức,
vừa thể hiện đợc ý một cách thoải mái hơn.
Do đó, nhà thơ thơ thờng phối hợp sử dụng linh hoạt :
Ngày nắng đốt theo đêm ma giội / Mỗi bớc đờng mỗi bớc hi sinh / Trán cháy
rực nghĩ trời đất mới / Lòng ta bát ngát bình minh .
(Đất nớc ) .
Tìm thấy nhau rồi không lạc nữa / Anh dắt tay em chạy giữa ma / Quên
những chông gai quên tất cả / Bỏ lại sau lng mọi bến bờ
Trong thơ Nguyễn Đình Thi có tình hình nh sau : trong tổng số 107 bài (trừ
một bài lục bát, 11 bài thơ văn xuôi và các bài thơ tự do), còn có :
Thơ 5 tiếng : 5 bài
Thơ 6 tiếng : 5 bài
Thơ 7 tiếng : 19 bài
Thơ 8 tiếng : 5 bài
Điểm chung của các bài thơ có số tiếng cố định, đều đặn nh trên là: chúng
đều thuộc những bài thơ có vần. Và nói chung, chúng không khác về hình thức thể
hiện so với thơ của các nhà thơ khác.
Trong văn học dân gian, mỗi thể thơ đều có một cách thức biểu hiện đặc trng : câu thơ 2-3 tiếng : thuộc thể đồng dao; câu thơ 4-5 tiếng: thuộc thể vè hoặc kể
chuyện, hay nói lối; thơ 7, 8 tiếng : thuộc thể thơ Đờng luật; còn lục bát, song thất
lục bát : là thể thơ truyền thống, nội dung trữ tình. Dĩ nhiên, vai trò của các thể thơ
ấy không đợc chuyển dịch theo kiểu cơ giới vào thơ ca hiện đại.
Điều đáng lu ý là trong thơ của mình, Nguyễn Đình Thi không sáng tác bài
nào theo thể 2, 3 và 4 tiếng
Thơ Nguyễn Đình Thi chủ yếu là từ 5 tiếng trở lên. Có những đoạn thơ , bài
thơ trở nên quen thuộc với bao thế hệ độc giả :
Một nhà sàn đơn sơ vách nứa / Bốn bên suối chảy cá bơi vui / Đêm đêm
cháy bùng bên bếp lửa / ánh đèn khuya còn sáng trên đồi / Nơi đây sống một ngời
tóc bạc / Ngời không con mà có triệu con / Nhân dân ta gọi ngời là Bác / Cả đời
ngời là của nớc non ( Quê hơng Việt Bắc )
Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh / Soi sáng đờng chiến sĩ giữa đèo mây /
Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh / Sởi ấm lòng chiến sĩ dới ngàn cây / Anh yêu
25