CÁC NHÂN TỐ TƯƠNG QUAN VỚI BỆNH GAN THẬN MỦ TRÊN CÁ TRA (PANGASIANODON HYPOPHTHALMUS) NUÔI AO THÂM CANH TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG - Pdf 49

Bộ Giáo Dục Đào Tạo
Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CÁC NHÂN TỐ TƯƠNG QUAN VỚI BỆNH GAN THẬN MỦ
TRÊN CÁ TRA (PANGASIANODON HYPOPHTHALMUS)
NUÔI AO THÂM CANH TẠI HUYỆN CHỢ MỚI,
TỈNH AN GIANG

Họ và tên sinh viên: LÊ THÀNH ĐĂNG
Ngành: NGƯ Y
Niên khóa: 2008 – 2012

Tháng 7/2012


CÁC NHÂN TỐ TƯƠNG QUAN VỚI BỆNH GAN THẬN MỦ TRÊN CÁ
TRA (Pangasianodon hypophthalmus) NUÔI AO THÂM CANH TẠI
HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Tác giả

LÊ THÀNH ĐĂNG

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng Kỹ sư ngành Nuôi trồng Thủy sản
chuyên ngành Ngư y

Giáo viên hướng dẫn
Ths. Hồ Thị Trường Thy

TÓM TẮT
Đề tài “Các nhân tố tương quan với bệnh gan thận mủ trên cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus) nuôi ao thâm canh tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang” được thực hiện
tại Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II từ tháng 10/2011 đến tháng 5/2012.
Kết quả phân tích mẫu, kết quả thống kê mô tả và thống kê tương quan ghi nhận:
100 % mẫu cá khỏe, bơi lợi nhanh nhẹn với kết quả phân tích vi khuẩn 79,1 %
mẫu âm tính. 100 % mẫu cá có biểu hiện lâm sàng như: cá yếu, bơi lờ đờ hoặc chết,
xuất huyết ngoài, khi mổ bên trong gan thận có đốm trắng và có mủ, kết quả phân tích
vi khuẩn ghi nhận 78,8 % có sự hiện diện của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri và 21,2
% hiện diện đồng thời 2 loài vi khuẩn Edwardsiella ictaluri và Aeromonas hydrophila.
Bệnh gan thận mủ xảy ra gần như quanh năm với tỷ lệ nhiễm bệnh bình quân
35,49 % (SD = 11,84). Cá bệnh, chết xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển của cá
nuôi nhưng chiếm tỷ lệ cao nhất thường ở giai đoạn đầu (2,5 tháng tuổi trở lại). Bệnh
thường bùng phát mạnh ở thời điểm giao mùa (giữa mùa khô – mùa mưa) và trong
mùa mưa (từ tháng 5 – 10).
Kết quả thống kê tương quan đã chứng minh tình trạng các ao xung quanh có
bệnh (P < 0,001; OR = 33,7), mật độ thả nuôi trên 45 con/m2 (P < 0,001; OR = 14,25)
và ở thời điểm mùa mưa (P < 0,01; OR = 2,63) có tương quan chặt chẽ với bệnh gan
thận mủ. Bên cạnh đó, còn xác định được các yếu tố tiềm năng với bệnh gan thận mủ
như: đo yếu tố môi trường (OR = 0,087), kiểm tra trọng lượng cá nuôi (OR = 0,081),
việc sử dụng chất bổ trợ (OR = 0,052), hiện tượng bất thường cá nuôi (OR = 0,043),
cải tạo ao trước khi thả nuôi (OR = 0,029).

iii


MỤC LỤC
Trang
Trang tựa..................................................................................................................... i
Cảm tạ ......................................................................................................................... ii

3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu. ...................................................................... 15
3.1.1. Thời gian thực hiện. .......................................................................................... 15
3.1.2. Địa điểm tiến hành............................................................................................ 15
3.2. Đối tượng nguyên cứu ........................................................................................ 15
3.3. Phương pháp nghiên cứu. .................................................................................... 15
3.3.1. Chọn vùng điều tra. .......................................................................................... 15
3.3.2. Thiết kế phiếu điều tra ...................................................................................... 16
3.3.3. Thu thập thông tin và lưu trữ dữ liệu................................................................ 16
3.3.4. Phương pháp thu mẫu, phân tích mẫu phụ vụ phân tích cắt ngang. ................. 16
3.3.5. Phân tích dữ liệu. .............................................................................................. 17
3.3.5.1. Xác định biến bệnh. ....................................................................................... 17
3.3.5.2. Phân tích số liệu............................................................................................. 17
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN........................................................... 18
4.1. Kết quả phân tích mẫu. ........................................................................................ 18
4.2. Kết quả thống kê mô tả điều tra ban đầu và hàng tháng của các nông hộ tại huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang. ............................................................................................ 20
4.2.1. Thông tin chung về hiện trạng và điều kiện ao nuôi của các nông hộ. ............ 20
4.2.2. Thông tin về tình hình con giống ..................................................................... 22
4.2.3. Các thông tin về kỹ thuật quản lý ao nuôi của nông hộ. .................................. 23
4.2.4. Tình trạng sức khỏe cá nuôi. ............................................................................ 28
4.3. Kết quả phân tích thống kê tương quan. .............................................................. 31
4.3.1. Các yếu tố có mối tương quan với bệnh gan thận mủ. ..................................... 31
4.3.2. Các yếu tố tiềm năng với bệnh gan thận mủ. ................................................... 32
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................... 34
5.1. Kết luận................................................................................................................ 34
5.2. Đề nghị. ............................................................................................................... 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................ 36
PHỤ LỤC .................................................................................................................. 41
v


Bảng 3.1: Các vùng nuôi cá tra được khảo sát. ......................................................... 16
Bảng 4.1. Kết quả phân tích, định danh vi khuẩn ...................................................... 18
Bảng 4.2. Thông tin về tình trạng ao nuôi của nông hộ ............................................. 20
Bảng 4.3. Thông tin về tình hình con giống thả nuôi ................................................ 22
Bảng 4.4. Thông tin về quản lý chất lượng nước và sử dụng hóa chất ...................... 23
Bảng 4.5. Thông tin về quản lý cho ăn và một số thông tin kỹ thuật khác ................ 26
Bảng 4.6. Thông tin về tình trạng sức khỏe cá nuôi trong các tháng điều tra ........... 28
Bảng 4.7. Thông tin về tình trạng sức khỏe cá nuôi theo mùa .................................. 28
Bảng 4.8. Các biến có mối tương quan với bệnh gan thận mủ ................................. 31
Bảng 4.9. Các biến là yếu tố tiềm năng với bệnh gan thận mủ ................................. 32

viii


Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề.
Thị trường xuất khẩu cá tra, basa Việt Nam hơn 40 quốc gia trên thế giới
(Phương, 2004), đứng đầu là liên minh Châu Âu chiếm 48 %, kế tiếp là Nga với 9,2 %
, các nước Châu Á là 7,9 % và Mỹ là 6,9 % tổng doanh thu xuất khẩu cá tra,
basa…Với lợi nhuận mang lại từ cá tra, basa cùng với thị trường xuất khẩu to lớn thì
việc mở rộng diện tích nuôi một cách tự phát và nuôi thâm canh cá tra với mật độ rất
cao trong khi trình độ quản lý, kiến thức về các biện pháp phòng ngừa và xử lý dịch
bệnh của các hộ nuôi cá tra còn nhiều hạn chế chưa thể đáp ứng kịp với nhịp độ phát
triển của thực trạng nuôi cá tra ở hiện tại; tình trạng người dân lạm dụng các loại
thuốc, hóa chất xử lý môi trường và các loại kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản để
điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đang có chiều hướng gia tăng đã, đang làm suy thoái
môi trường một cách đáng báo động và tạo ra nhiều dòng vi khuẩn kháng thuốc là
nguyên nhân chính gây ra các đợt dịch bệnh nhiễm khuẩn, gây thiệt hại nghiêm trọng
cho người nuôi cá tra ở các vùng nuôi trọng điểm như tỉnh An Giang, Đồng Tháp...,


Biểu đồ 2.1. Bản đồ huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Huyện Chợ Mới (An Giang) được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm
Nao, có 2 cù lao là cù lao Ông Chưởng và cù lao Giêng. Chợ Mới giáp ranh với
TP. Long Xuyên, TP. Cao Lãnh, các huyện Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân (An
Giang), Thanh Bình, Lấp Vò (Đồng Tháp), có 18 xã thị trấn, trong đó có 13 xã thị trấn
có đất bãi bồi phù hợp cho phát triển nuôi trồng thủy sản bao gồm 08 xã cập sông Tiền
(Kiến An, Long Điền A, Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân, Mĩ An, thị trấn Chợ
Mới, thị trấn Mỹ Luông) và 05 xã cập sông Hậu (Nhơn Mỹ, Long Giang, Hòa Bình,
Hòa An, An Thạnh Trung). Những năm gần đây ngành nuôi thủy sản (chủ yếu là cá tra
xuất khẩu) huyện Chợ Mới có bước phát triển mạnh, đặc biệt trong năm 2006 phát
triển nhảy vọt (diện tích nuôi cá tra lên đến 192,3 ha), do nhu cầu xuất khẩu rất lớn, đã
góp phần tăng trưởng GDP của huyện một cách đáng kể. Ngoài diện tích nuôi cá tra
thương phẩm phát triển mạnh ở đất bãi bồi, nông dân còn tận dụng đất đào ao hầm để
sản xuất và nuôi cá giống như Nhơn Mỹ, Mỹ Hội Đông, Kiến An, Long Điền A, Long
3


Điền B, Hòa An, An Thạnh Trung. Giá trị sản xuất bình quân nuôi cá tra đạt 928 triệu
đồng/ha (http://www.vietlinh.com.vn).
Để đi vào quản lý và khai thác tiềm năng, lợi thế đất cồn, đất bải bồi cho nuôi
trồng thủy sản đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững. Phòng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn huyện phối hợp với Phòng Tài nguyên Môi trường huyện tiến hành
khảo sát hiện trạng nuôi trồng và tiềm năng đất đai, nguồn nước để điều chỉnh quy
hoạch nuôi trồng thủy sản đến năm 2010 trên địa bàn huyện. Qua điều tra tổng diện
tích đất bải bồi có điều kiện thuận lợi để nuôi trồng thủy sản trong toàn huyện 929,90
ha, trong đó xã cù lao Tấn Mỹ trên 230 ha, nhiều nhất huyện (đang nuôi 20 ha), xã
Nhơn Mỹ 146,90 ha (đang nuôi 68 ha), xã Long Giang 98,20 ha (đang nuôi 79
ha)...(http://www.vietlinh.com.vn)
2.2. Tình hình nuôi cá tra (catfish) trên thế giới và trong nước.

fulvidraco.

4


Đông Nam Á: Cũng là khu vực sản xuất cá da trơn (chủ yếu là cá tra) quan trọng
của thế giới. Trong đó, nhiều nhất là Việt Nam, sau đó là Thái Lan , Inđônêxia,
Malaysia. Các nước khác sản xuất cá do trơn không đáng kể.
Thái Lan: Tổng sản lượng các loài cá da trơn ở Thái Lan tính đến năm 2005 là
130.784 tấn, trong đó loài pangasius (giống cá tra Việt Nam) đạt 16.473 tấn (nguồn:
FAO, 2007). Vùng nuôi chủ yếu tập trung ở 2 tỉnh Mụcdahản và Ubôn Rắtchathani
nằm ven sông Mê Kông, Đông Bắc Thái Lan.
Inđônêxia: Sản lượng cá da trơn ở Inđônêxia tăng khá nhanh trong giai đoạn 1999
- 2005, tốc độ tăng bình quân đạt 25 %/năm để từ 27.350 tấn năm 1999 tăng lên
102.090 tấn vào năm 2005. Loài được nuôi nhiều nhất có tên khoa học Clarias spp.
Sản lượng cá tra của Inđônêxia năm 2005 đạt 32.575 tấn, tăng 8.600 tấn so năm 2004
và chiếm 32% tổng sản lượng cá da trơn cả nước. Ngành thủy sản Inđônêxia đặt mục
tiêu 10,16 triệu tấn vào năm 2010, tăng hơn 2 triệu tấn so với năm 2007. Vốn đầu tư
ban đầu 333,5 triệu USD tập trung chủ yếu vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ
của ngành (nguồn: FAO, 2007).
Nam Mỹ: Cũng có nhiều nước nuôi cá da trơn như Braxin, Costa Rica, Êcuador,
Chilê nhưng nhìn chung qui mô nuôi ở các nước này còn nhỏ so với nước ở khu vực
khác, đặc biệt là so với cá tra của Việt Nam . Vì vậy, khả năng phát triển trong tương
lai của họ sẽ khó cạnh tranh một khi Việt Nam vẫn giữ được lợi thế về giá và chất
lượng sản phẩm. Tính đến năm 2005, tổng sản lượng cá da trơn của Braxin đạt 1.909
tấn, tăng 9 % so với năm 2004, trong đó cũng chủ yếu là loài Ictalurus punctatus.
Cũng sản xuất loài cá này ở Costa Rica nhưng sản lượng chỉ đạt 169 tấn (nguồn: FAO,
2007).
2.2.2. Ở Việt Nam.
Nuôi cá tra ở Việt Nam đã có từ những năm 50 của thế kỷ trước ở ĐBSCL, ban

Thủy sản phía nam).
Năm 2007, Tp. Cần Thơ có diện tích nuôi cá tra cao nhất trong vùng là 1.569,9 ha
(chiếm 29 %), kế đến là tỉnh An Giang với diện tích nuôi là 1.393,8 ha (chiếm 25,7
%), tỉnh Đồng Tháp với diện tích 1.272 ha (chiếm 23,4 5). Tỷ lệ diện tích của 3 tỉnh
này chiếm khoảng 78 % diện tích nuôi cá tra toàn vùng. Các tỉnh có tốc độ tăng trưởng
bình quân giai đoạn 2003 – 2007 cao như: Sóc Trăng (74,98 %/năm), Đồng Tháp (32,
84 %/năm), Vĩnh Long 952,95 %/năm), Hậu Giang (58,43 %/năm), Cần Thơ (29,86
%/năm) (Nguồn: Cục nuôi trồng Thủy sản)
6


Theo số liệu thống kê từ các Sở NN & PTNT các tỉnh ĐBSCL có nuôi cá tra thâm
canh đến tháng 7/2008 thì TP. Cần Thơ có sản lượng cao nhất đạt 260.000 tấn (chiếm
31,2 % sản lượng toàn vùng), kế đến là tỉnh An Giang đạt 204.624 tấn (chiếm 24,5 %),
và tỉnh Đồng Tháp là 150.994 tấn (chiếm 18,1 %). Nhìn chung, sản lượng cá tra của 3
tỉnh này đóng góp đáng kể và chiếm 73,9 % so với tổng sản lượng; các tỉnh còn lại
như: Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang, Vĩnh Long chiếm tỷ
trọng 26,1 % so với toàn vùng (Nguồn: Phân viện quy hoạch Thủy sản phía nam).
2.3. Hiện trạng nghề nuôi cá tra tại An Giang.
Trong tổng diện tích nuôi cá ở An Giang là 1.160 ha, diện tích nuôi cá tra là 960
ha, bằng 96,1 % so cùng kỳ. Các huyện có diện tích nuôi cá tra tập trung nhiều là: Chợ
Mới 283 ha (chiếm 29,5 %), kế tiếp là Châu Phú gần 149 ha (chiếm 15,5 %) và Thoại
Sơn gần 120 ha (chiếm 12,5 %) (Nguồn: Cục thống kê An Giang, 2011).
Sản lượng thuỷ sản nuôi trong năm 2011 là 295.000 tấn, bằng 105,8 % (tăng
18.343 tấn) so cùng kỳ, trong đó cá tra, basa là 251.055 tấn (chiếm 85,0 % tổng số),
bằng 108,0 % (+19.984 tấn) (Cục thống kê An Giang, 2011). Sản lượng cá tra thu
hoạch trong năm tăng so cùng kỳ chủ yếu do diện tích nuôi cá tra nguyên liệu hiện nay
phần lớn đều thuộc các vùng nuôi của doanh nghiệp, có đầu mối tiêu thụ ổn định nên
họ mạnh dạn đầu tư thâm canh tăng năng suất (những hộ nuôi nhỏ lẻ bị thua lỗ trước
đây hầu như không còn khả năng tái sản xuất nên đã ngừng nuôi).

19.948

Cá khác

45.871

41.416

90,29

(4.450)

Tổng số các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá tra giống trong địa bàn tỉnh là 70 cơ sở,
trong đó số cơ sở sản xuất cá tra bột là 30 cơ sở.
Tổng đàn cá bố mẹ của 30 cơ sở sản xuất cá tra.
Tổng lượng đàn cá tra bố mẹ:

93.975 con.

Trong đó: Cá cái:

75.670 con.
7


Cá đực:

18.305 con.

Tổng lượng cá bố mẹ hậu bị :

tháng cá tăng trưởng được khoảng 1 kg/con.
Tập tính ăn: cá 3 ngày tuổi ăn phiêu sinh động vật, thường ăn nhau ở giai đoạn 1
đến 3 ngày tuổi mặc dù còn noãn hoàng, khoảng 10 đến 15 ngày tuổi trở đi cá ăn được
cám gạo, bột cá, thức ăn viên dạng mảnh. Là loài cá ăn tạp thiên về động vật.
8


Đặc điểm sinh sản: cá sinh sản ở vùng nước yên tĩnh (đẻ trứng dính vào cây cỏ
thủy sinh), tuổi thành thục từ 3 đến 4 năm tuổi, thời gian tái thành thục 2,5 đến 3
tháng, sức sinh sản thực tế là 150000 đến 180000 trứng/kg (Ngô Văn Ngọc, 2010).
2.5. Tình hình nghiên cứu dịch tễ học trên cá tra ở Việt Nam.
Các chương trình nguyên cứu về quản lý dịch bệnh theo hướng dịch tễ học đối với
loài cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở Việt Nam còn hạn chế và chưa được
công bố chính thức.
Trong năm 2010, chương trình nguyên cứu bệnh gan thận mủ trên cá tra theo
hướng nguyên cứu dịch tễ học đã được Viện nghiên cứu NTTS II thiết lập và thực hiện
với kết quả ghi nhận được bệnh gan thận mủ xảy ra ở tất cả các tháng trong năm nhất
là vào thời điểm giao mùa giữa mùa khô và mùa mưa và gần xuyên xuốt mùa mưa,
khả năng cá nhiễm bệnh gan thận mủ trong mùa mưa cao gấp 4,32 lần so với các mùa
còn lại trong năm, những ao nuôi có thay nước mỗi ngày một lần vào mùa mưa thì
nguy cơ cá bị gan thận mủ cao gấp 3,72 lần so với các ao nuôi có chế độ thay nước
khác, nguy cơ cá nhiễm bệnh khi thả nuôi ở mật độ lớn hơn 60 con/m2 cao gấp 1,32
lần so với mật độ nuôi thấp hơn, việc không dùng hóa chất xử lý và thuốc bổ trợ định
kỳ cũng là yếu tố gây bệnh gan thận mủ ở mức 1,08 lần, tình trạng ao xung quanh có
bệnh ở những tháng trước cũng là yếu tố tiềm năng có liên quan đến bệnh gan thận mủ
(Đinh Thị Thủy và ctv, 2011).
2.6. Tình hình bệnh nhiễm khuẩn ở các loài cá trên thế giới và cá tra Việt Nam.
2.6.1. Trên thế giới.
Các tác nhân gây bệnh hoại tử trên nội tạng ở cá nước ngọt và nước mặn có những
biểu hiện tương tự như ở cá tra được biết đến nay là vi khuẩn Photobacterium damsela

gầy yếu, bụng to, xuất huyết ở các gốc vây, lờ đờ, bỏ ăn, xuất huyết điểm trên thân.
Giải phẩu bên trong thấy những điểm hoại tử màu trắng đục đường kính 0,5 – 2,5 mm
(có khi đến 3 mm) tập trung nhiều ở gan, thận và lách. Bệnh thường xảy ra ở giai đoạn
cá hương đến giai đoạn cá thịt và giảm dần sau 5 tháng tuổi (Trần Thị Minh Tâm và
ctv, 2003).
2.7. Bệnh gan thận mủ trên cá tra.
2.7.1. Lịch sử nghiên cứu xác định tác nhân gây bệnh gan thận mủ.
Bệnh mủ ở gan thận trên cá tra xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào cuối năm
1998 và trở thành bệnh đặc biệt nguy hiểm đối với nghề nuôi cá da trơn xuất khẩu ở
ĐBSCL Việt Nam. Bệnh có thể gây chết tích lũy 10 – 90 % cá nuôi nếu không có biện
pháp can thiệp kịp thời khi bệnh xảy ra. Đã có một số công trình nghiên cứu xác định
10


tác nhân gây ra bệnh này, tuy nhiên kết quả nghiên cứu của các cơ quan này lại chưa
có sự thống nhất. Ferguson H.W et, al 2001 thông báo là Bacillus sp, sau đó năm 2002
tác nhân được đính chính lại là Edwardsiella ictaluri (Crumlish M et, al 2002). Năm
2002, ở Indonesia nhóm nghiên cứu của Kei Yuasa et, al cũng lần đầu tiên chứng minh
Edwardsiella ictaluri là tác nhân gây bệnh đốm trắng nội tạng ở cá tra. Kết quả nghiên
cứu có sự không thống nhất về sau này khi Trần Thị Minh Tâm và ctv, 2003 cho rằng
tác nhân gây bệnh hoại tử nội tạng ở cá tra ở ĐBSCL là hai loài vi khuẩn Hafnia alvei
và Pleisiomonas shigelloides. Khác hoàn toàn với các kết quả nghiên cứu trước khi Lý
Thị Thanh Loan và ctv 2007 thông báo tác nhân là Clostridium sp trực khuẩn gram
(+), kỵ khí bắt buộc trong khi các tác nhân được thông báo trước đây đều là trực khuẩn
gram (-)
Trong những năm gần đây, Thu và ctv. (2007) đã nghiên cứu và xác định vi khuẩn
Edwardsiella ictaluri là tác nhân chính của bệnh gan thận mủ trên các mẫu cá tra thu ở
vùng ĐBSCL. Vi khuẩn Edwardsiella ictaluri được xác định là tác nhân gây bệnh
nhiễm trùng xuất huyết trên cá nheo Châu Mỹ (Keskin và ctv., 2004).
2.7.2. Đặc điểm gây bệnh của Edwardsiella italuri trên cá tra.

E. ictaluri có thể lây cho cá qua nhiều con đường khác nhau.
Vi khuẩn trong nước có thể sâm nhập vào cơ thể cá thông qua đường mũi đến dây
thần kinh khứu giác rồi đến màng não (Miyazaki và Plumb, 1985; Shotts và ctv, 1986;
Morrision và Plumb, 1994). Sự nhiễm trùng bắt đầu và lan rộng từ màng não đến họp
sọ và vùng da trên sọ tạo thành một lỗ lõm đầu (Plumb, 1994). Vi khuẩn này tấn công
vào mũi làm giảm chức năng niên mạc mũi ở lớp màng nhầy, khi quan sát dưới kính
hiển vi nhận thấy có sự xuất hiện E. ictaluri trên bề mặt màng nhầy và trong biểu mô.
E. ictaluri cũng có thể sâm nhập qua đường tiêu hóa. Đầu tiên vi khuẩn qua
đường miệng đến ruột, gan, thận và cơ trong vòng 2 tuần gây nhiễm làm ruột trương
to, đầy hơi (Fracis – Floyd và ctv, 1987). Vi khuẩn từ đường tiêu hóa sâm nhập qua
niên mạc ruột vào máu gây nhiễm trùng máu (Shotts và ctv, 1986).
E. ictaluri cũng sâm nhập qua mang. Thí nghiệm chứng minh trong suốt quá trình
ngâm, vi khuẩn phát triển thành tập đoàn trên biểu bì mang với số lượng lớn. Sau đó
sâm nhập vào cơ thể cá qua biểu mô che phủ mang (Nusbaum và Plumb, 1996).
Tóm lại, vi khuẩn E.ictaluri có thể sâm nhập từ môi trường nước vào cơ thể cá
qua mũi, mang, miệng bằng đường thức ăn gây bệnh cho cá.
2.7.4. Biểu hiện bệnh
Biểu hiện bên ngoài không đặc trưng cho bệnh do có nhiều biểu hiện giống như
các bệnh khác, một số triệu chứng như: cá bệnh bơi xoay vòng, treo lơ lửng cơ thể trên
mặt nước (biểu hiện bệnh đặc trưng ở cá da trơn Mỹ), cá bỏ ăn sau khi nhiễm bệnh,
xuất huyết quanh hậu môn, miệng, bụng, gốc vây, cá bị lồi mắt, mang nhạt màu, tích
dịch dưới da vùng sọ (phủ đầu).
12


Biểu hiện bên trong quan trọng và đặc trưng cho bệnh hơn như: có nhiều mảng
trắng hoại tử trên gan, thận, lách; bệnh nặng sẽ phát triển thành mủ. Thận, lách là nơi
sản xuất ra bạch cầu nên sẽ xuất hiện triệu chứng bệnh sớm nhất.
2.7.5. Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri.
Do sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi thâm canh cá tra, ba sa ở Đồng Bằng

nheo bênh ở Mỹ với 37 loại kháng sinh. Kết quả cho thấy phần lớn vi khuẩn này nhạy
với các thuốc thí nghiệm nhưng hơn 90 % lại kháng với colistin và sulfamids. Đến
năm 1993, Reger và ctv., cũng đã xác định các chủng E. ictaluri phân lập trên cá Nheo
còn nhạy với enrofloxacin, gentamycin và doxycycline. Gần đây, Dung và ctv., (2008)
xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của 64 chủng vi khuẩn E.ictaluri gây bệnh
gan thận mủ trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) cho thấy vi khuẩn đã có hiện
tượng kháng thuốc đáp ứng với kháng sinh streptomycin, oxytetracycline và
trimethoprim. Đặc biệt có 73 % tổng số chủng đa kháng với ít nhất 3 loại kháng sinh
và vi khuẩn này đã bắt đầu có hiện tượng kháng với nhóm quinolone như: flumequin,
oxolinic acid và enrofloxacin. Hiện tượng đa kháng thuốc kháng sinh đang là mối lo
không chỉ của người nuôi mà còn đối với các nhà quản lý sức khỏe cộng đồng bởi nó
không chỉ làm giảm hiệu quả điều trị mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với sức khỏe
con người, nhất là các kháng sinh đã bị cấm.

14


Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
3.1.1. Thời gian thực hiện.
Tiến hành điều tra, thu thập thông tin từ tháng 10 – 12/2011. Đồng thời, tiếp nhận
một phần số liệu đã được điều tra (từ tháng 2 – 9/2011) do Viện nghiên cứu NTTS II
cung cấp.
Thời gian nhập số liệu, phân tích và xử lý số liệu: từ tháng 1 – 5/2012.
3.1.2. Địa điểm tiến hành.
Điều tra các ao nuôi tại các vùng nuôi cá tra trọng điểm thuộc huyện Chợ Mới,
tỉnh An Giang.
Nhập, lưu trữ, phân tích, xử lý số liệu và phân tích, định danh vi khuẩn tại Trung
Tâm Quan Trắc Cảnh Báo Môi Trường và Phòng Ngừa Dịch Bệnh thuộc Viện nghiên

X. Hòa Bình và X. Mỹ Hiệp

H. Chợ Mới

Vùng 3

X. Nhơn Mỹ và X. Long Giang

H. Chợ Mới

Vùng 4

X. Bình Phước Xuân

H. Chợ Mới

3.3.2. Thiết kế phiếu điều tra.
Điều tra theo mẫu phiếu được thiết kế với nội dung thông tin cần khai thác gồm:
thông tin chung về nông hộ, tình hình thả giống, quản lý ao nuôi và tình trạng sức
khỏe của cá trong từng tháng… (Phụ lục 1).
3.3.3. Thu thập thông tin và lưu trữ dữ liệu.
Thông tin được thu thập định kỳ một tháng/lần theo mẫu phiếu điều tra đã được
thiết kế sẵn với 16 hộ cho mỗi đợt tiến hành điều tra (4 hộ/vùng nuôi), để phục vụ
phân tích thống kê mô tả và phân tích theo hướng nghiên cứu cắt ngang.
Thông tin được nhập và lưu trữ bằng phần mềm: MS – Excel.
3.3.4. Phương pháp thu mẫu, phân tích mẫu phục vụ nghiên cứu cắt ngang.
Thu mẫu cá ở các ao có cá bệnh và ao cá khỏe tại thời điểm điều tra. Thu mẫu nội
quan: gan, thận, lách của cá để phân tích, định danh vi khuẩn (mẫu cá thu phải còn
sống hoặc hấp hối).
Mỗi vùng điều tra 8 ao, trong đó có 4 ao được chọn ngẫu nhiên từ nhóm nông hộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status