BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
PHẠM THỊ THANH HÀ
BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC ĐỐI THOẠI CHO HỌC SINH LỚP 12
QUA DẠY LÀM VĂN VỀ MỘT HIỆN TƢỢNG ĐỜI SỐNG
Chuyên ngành: LL&PPDH bộ môn Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS LÊ A
HÀ NỘI, 2017
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô
trong Ban giám hiệu, Khoa Ngữ văn, Tổ bộ môn Lí luận và phương pháp dạy
học Văn - Tiếng Việt, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện
trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc gửi tới thầy GS.TS Lê A, người đã
định hướng, tận tình hướng dẫn và truyền đạt nhiều kinh nghiệm quý báu cho
tôi, các thầy cô trường THPT Lương Văn Tụy đã giúp tôi hoàn thành tốt luận
văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi
rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến, bổ sung cho đề tài này.
: Học sinh
NL
: Nghị luận
NLVH
: Nghị luận văn học
NLXH
: Nghị luận xã hội
THPT
: Trung học phổ thông
THCS
: Trung học cơ sở
CH
: Câu hỏi
SGK
: Sách giáo khoa
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................... 27
Chƣơng 2: TỔ CHỨC BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC ĐỐI THOẠI CHO HỌC
SINH LỚP 12 QUA DẠY LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN
TƢỢNG ĐỜI SỐNG ......................................................................................... 28
2.1. Yêu cầu của việc tổ chức bồi dưỡng năng lực đối thoại của học sinh qua dạy
học văn NLXH .................................................................................................... 28
2.1.1. Phù hợp với quá trình dạy học Làm văn ................................................... 28
v
2.1.2. Phù hợp với tâm sinh lí của học sinh lớp 12 ............................................. 29
2.1.3. Phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh .......................................... 30
2.2. Biện pháp bồi dưỡng năng lực đối thoại qua dạy học làm văn NLXH về một
hiện tượng đời sống ............................................................................................ 31
2.2.1. Ra đề làm văn theo hướng đối thoại.......................................................... 31
2.2.2. Xác định vấn đề cần đối thoại. .................................................................. 36
2.2.3 Đối thoại với đối tượng giả định ............................................................. 41
2.2.4. Những lưu ý khi đối thoại ...................................................................... 50
Tiểu kết chương 2 ............................................................................................... 61
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ........................................................ 62
3.1. Mục đích thực nghiệm ................................................................................. 62
3.2 Địa bàn, đối tượng và thời gian thực nghiệm ................................................ 63
3.3. Kế hoạch thực nghiệm ................................................................................. 63
3.4. Nội dung thực nghiệm.................................................................................. 64
3.5. Kết quả và đánh giá thực nghiệm ................................................................. 79
Tiểu kết chương 3 ............................................................................................... 84
PHẦN KẾT LUẬN ........................................................................................... 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 87
2
tìm ra cái đúng, phát hiện ra cái sai. Yếu tố quan trọng nhất trong TDPB là
phải có ý kiến lập luận của riêng mình.
TDPB có vai trò quan trọng đối với quá trình nhận thức cuộc sống của
mỗi con người chúng ta. Có TDPB mới có thái độ quan điểm đúng đắn. Có
TDPB mới có những ý kiến mới, sáng tạo mới làm cho khoa học phát triển.
Xã hội luôn vận động phát triển theo quy luật phủ định của phủ định nên con
người có TDPB luôn tự tìm tòi ra cái mới trên cơ sở của cái đã có. Ví dụ như
con người bắt đầu tìm ra thiết bị ánh sáng từ cái đèn dầu nhưng đèn dầu khi
có gió lại tắt, không chống chọi được gió. Con người tiếp tục nghiên cứu phát
minh đèn bão ra mưa gió không việc gì, ngược lại thì cường độ ánh sáng lại
yếu. Cứ thế, qua mỗi thời kì có những phát minh mới về đèn chiếu sáng khác
nhau và đến nay đèn điện ra đời. Như vậy, TDPB không chấp nhận cái cũ, cái
đã có mà luôn nghĩ ra cái mới dựa trên cái cũ để phát triển. TDPB tiếp nhận
những ý kiến quan điểm đúng đắn, đưa ra ý kiến mới để xã hội phát triển hơn,
nhận thức chắc chắn hơn.
Việc bồi dưỡng năng lực đối thoại góp phần rèn luyện năng lực tư duy,
khuyến khích HS tư duy, phản biện chính là phát huy vai trò tích cực, chủ
động, sáng tạo của các em. Đây là mục tiêu cao nhất của sự đổi mới toàn diện
giáo dục và đào tạo hiện nay. Bởi, nếu HS có năng lực đối thoại nghĩa là HS
tiếp nhận không thụ động, không ăn theo nói leo, lặp đi lặp lại, suy nghĩ thấy
được ý kiến đúng đắn, hợp lí của người khác. Nếu HS không tiếp thu ý kiến
của người khác thì các em phải đưa ra được lí lẽ phản bác sao cho thuyết phục
và nêu ý của mình làm sáng tỏ ý kiến mình cho là đúng. Như vậy bồi dưỡng
năng lực đối thoại góp phần hình thành TDPB, một năng lực tư duy rất cần
thiết mà học sinh cần rèn luyện.
Xuất phát từ những lí do vừa trình bày trên, luận văn đã chọn đề tài
quan tâm như nhà nghiên cứu Phan Trọng Luận trong cuốn Đổi mới thiết kế
giờ học tác phẩm văn chương (1996) - NXB Giáo dục [30]; tác giả Đỗ Huy
Quang với các công trình Tính đối thoại của tác phẩm văn học và tổ chức
4
hình thức đối thoại trong dạy học tác phẩm ở trường phổ thông (Đề tài
nghiên cứu cấp Bộ), Dạy học đối thoại- kiểu dạy học tạo thói quen tư duy,
năng động sáng tạo cho người học (2004) - Tạp chí Giáo dục [33]; … Tác giả
Đỗ Huy Quang cho rằng: những vấn đề xã hội mang bản chất xã hội, cho nên
chúng có nhiều điểm nhìn khác nhau, cách hiểu khác nhau và bao giờ cũng có
sự đối nghịch có người cho thế này có người cho thế kia, đưa vấn đề xã hội về
vấn đề xã hội. Ở đây, đối thoại được xem là một phương tiện để tổ chức hoạt
động học tập cho HS, hay nói khác hơn thì đây là hình thức dạy học khả quan
nhất trong việc phát huy tính chủ động của HS khi tiếp nhận một tác phẩm
văn học bất kỳ.
Gần đây nhất, có bài viết của hai tác giả Nguyễn Quang Ninh và
Nguyễn Chí Trung Văn nghị luận với việc đối thoại của học sinh trung học
phổ thông [29. tr.617- 630] trong cuốn Đổi mới nghiên cứu và dạy học Ngữ
văn trong nhà trường sư phạm. Theo các tác giả, đối thoại là một quá trình
hiểu lẫn nhau, tránh cách nhìn nhận áp đặt đối với nhau. Nhưng muốn đối
thoại và đối thoại có hiệu quả thì trong văn nghị luận chúng ta phải xác định:
đối tượng đối thoại, mục đích đối thoại, nội dung và lời lẽ trong văn nghị luận
cần được cân nhắc như thế nào. Bài báo này đã đặt ra những tiền đề lý thuyết
và gợi mở cho chúng tôi rất nhiều trong quá trình triển khai đề tài.
2.2. Nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực đối thoại trong dạy học văn nghị luận
Với một văn bản nghị luận, các yếu tố nội dung cấu thành văn bản
chính là các ý kiến, lý lẽ và bằng chứng. Ý kiến thường là những phán đoán,
nhận xét khái quát của người viết về nội dung nhằm đáp ứng yêu cầu của vấn
chung- một tiếng nói thống nhất trong việc nhằm thỏa mãn nhu cầu của các
bên tham gia đối thoại. Đối thoại là một quá trình hiểu lẫn nhau, tránh cách
nhìn nhận áp đặt đối với nhau. Nhưng muốn đối thoại và đối thoại có hiệu
quả thì trong văn nghị luận, chúng ta phải xác định được: đối tượng đối thoại
là ai, mục đích đối thoại là gì, nội dung đối thoại ra sao, và lời lẽ trong văn
6
nghị luận cần phải được cân nhắc như thế nào. Nếu không làm sáng rõ điều
này, việc nghị luận không thể thực hiện được.
Đến nay, việc dạy học Làm văn nhà trường chưa có một công trình nào
nghiên cứu chuyên sâu văn NLXH về một hiện tượng đời sống. Tài liệu tham
khảo dành cho GV và HS còn hạn chế. Phần lớn các sách tham khảo khi viết
chủ yếu vẫn theo hướng dẫn giải các vấn đề, mà ít chú trọng đến phương pháp
dạy và học, tới định hướng quá trình viết, bồi dưỡng năng lực viết. Điều này
đã gây ra không ít khó khăn cho cả người dạy và người học ở trường THPT.
Đây là một hướng nghiên cứu khá mới mẻ, thú vị. Vì thế, đề tài Bồi dưỡng
năng lực đối thoại cho học sinh lớp 12 qua dạy làm văn về một hiện tượng đời
sống nhằm tập trung làm rõ hơn về cơ sở lí luận của năng lực đối thoại trong
làm văn NL, xác định thực trạng năng lực đối thoại của HS lớp 12, từ đó đề
xuất quy trình rèn luyện và phát triển năng lực này cho các em một cách hiệu
quả, góp phần hoàn thiện hệ thống năng lực cần có ở một HS cuối cấp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu lí luận và thực tiễn,
luận văn nhằm đề ra giải pháp bồi dưỡng năng lực đối thoại cho học sinh, góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học văn NL về một hiện tượng đời sống.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí thuyết và thực tiễn của việc bồi dưỡng năng lực đối
5.4. PP thực nghiệm sư phạm:
Lập kế hoạch, tổ chức thực nghiệm, thu thập tư liệu để đánh giá khả
năng thực thi và hiệu quả của các biện pháp được đề xuất
6. Giả thuyết khoa học
- Quá trình tạo lập văn bản gắn liền hoạt động đối thoại với người ra đề,
đối thoại các đối tượng giả định của một vấn đề nào đó. Bởi vậy, khi dạy văn
NL nói chung và văn NL về một hiện tượng đời sống nói riêng phải gắn vào
8
đó để phát huy năng lực đối thoại.
- Dạy làm văn NL chú trọng cho HS xác định được nhiệm vụ, luận
điểm cần đối thoại thì không những nâng cao hiệu quả tạo lập văn bản mà còn
góp phấn phát triển năng lực đối thoại cho HS.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Tổ chức bồi dưỡng năng lực đối thoại cho học sinh lớp 12 qua
dạy làm văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
8. Dự kiến đóng góp của luận văn
Nếu triển khai thành công, luận văn góp phần:
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về phát triển năng lực đối thoại cho học
sinh qua dạy học nghị luận về một hiện tượng đời sống.
- Tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu nhằm bồi dưỡng năng lực đối thoại
cho học sinh như một tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên.
10
thoại. Người đối thoại. Đoạn đối thoại trong vở kịch. 2. Bàn bạc thương
lượng trực tiếp giữa hai hay nhiều bên để giải quyết các vấn đề tranh chấp.
Chủ trương không đối đầu mà đối thoại”.
Khái niệm trên cho chúng ta thấy, đối thoại diễn ra do nhu cầu con
người cần trao đổi thông tin với nhau để bàn bạc về một vấn đề nào đó nhằm
mục đích hai bên hiểu nhau hơn, tránh cách nhìn nhận áp đặt một chiều. Điều
kiện cơ bản của đối thoại là: nhân tố đối thoại phải có từ hai người trở lên, lập
luận thấu tình đạt lí để dẫn dắt thuyết phục người nghe; đối thoại không diễn
ra theo một chiều giản đơn mà là nhiều chiều, thường có các lượt lời, hỏi đáp,
luân phiên theo một trật tự nào đấy. Đối thoại phải có tổ chức, lập luận, trao
đổi bàn bạc đưa ra ý kiến, làm sáng tỏ vấn đề thuyết phục người đọc người nghe.
Quan niệm về đối thoại như thế nên trong đối thoại, chúng ta cần phải
xác định được đối tượng để đối thoại, mục đích đối thoại, có nội dung đối
thoại (vấn đề đối thoại là gì, đưa ra ý kiến thông qua các luận điểm, luận cứ)
và ngôn ngữ đối thoại.
1.1.1.2. Năng lực đối thoại
1.1.1.2.1. Năng lực
Vấn đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực (định hướng kết
quả đầu ra) đã được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỉ XX và ngày
nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Xung quanh khái niệm năng lực,
có rất nhiều định nghĩa và nó thực sự thu hút, sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu.
Năng lực (competence) có nguồn gốc tiếng Latinh là “competetia”có
nghĩa là gặp gỡ. Trong tiếng Anh, từ năng lực được sử dụng với nhiều nghĩa
cụ thể gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh
riêng. Có lẽ vì thế mà người Anh có nhiều thuật ngữ khác nhau để diễn đạt
Từ điển Tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê cho rằng năng lực là: 1. Khả
năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động
12
nào đó. 2. Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành
một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [36; tr.660-661].
Như vậy, năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển
nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy
động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như
hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loạt hành động nhất
định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Điểm chung trong
các cách hiểu về năng lực là khả năng thực hiện (performance), làm việc dựa
trên hiểu biết chắc chắn, kĩ năng thuần thục và thái độ phù hợp. Năng lực là
những kiến thức (knowledge), kĩ năng (skills) và các giá trị (values) được
phản ánh trong thói quen suy nghĩ của mỗi cá nhân. Đó còn là sự kết hợp của
các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện
một nhiệm vụ có hiệu quả.
1.1.1.2.2. Các thành tố tạo nên năng lực đối thoại
Như chúng ta đã biết làm văn chính là làm các loại văn bản, văn bản lại
được xem như là đơn vị giao tiếp cơ bản nhất. Làm văn chính là làm các loại
văn bản để giao tiếp. Khi dạy Làm văn nói chung và văn NL về một hiện
tượng đời sống nói riêng, chúng ta phải hướng HS, rèn luyện cho HS năng
lực. Muốn vậy, khi dạy học, GV phải dạy cho HS không chỉ biết dùng từ ngữ,
đặt câu, dựng đoạn, liên kết văn bản theo đúng các quy tắc ngôn ngữ mà điều
quan trọng là phải biết lựa chọn nội dung và thể hiện nội dung đó sao cho phù
hợp với hoạt động giao tiếp. Chỉ có như vậy GV mới giúp cho HS hình thành
và phát triển được năng lực giao tiếp thông qua bài viết (bằng văn bản) một
cách nhanh chóng và có hiệu quả. Và như vậy, dù là học lý thuyết hay luyện
thoại, các ý kiến
đối thoại)
Sử dụng ngôn
ngữ đối thoại
phù hợp
Nhìn vào sơ đồ, để có một bài NL viết đúng hướng và có độ chính xác
cao thì việc đầu tiên chúng ta phải nhận diện, xác định được vấn đề đối thoại
ở đây là gì. Vấn đề ấy được xác định là một hiện tượng xã hội và phải có ý
nghĩa xã hội nhất định, ví dụ như, sự tác động, sự ảnh hưởng, sự chi phối…
của chúng đến xã hội, đến đời sống của con người thì chúng ta như thế nào.
Với những góc nhìn, với những quan niệm, chính kiến khác nhau, một vấn đề
xã hội sẽ có những ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Như vậy, vấn đề
14
đối thoại trong nghị luận là những quan điểm, những chính kiến, những nhận
định… mà người viết cho là “còn vấn đề”, “có vấn đề”, “nên cân nhắc”,
“phải được xem xét thêm” hoặc “nên được trao đổi thêm”, “nên được làm
sáng rõ thêm”.[29. tr.620].
Khi đã xác định được vấn đề đối thoại thì việc xác định đối tượng đối
thoại: đối thoại với ai, đối thoại với những ý kiến nào cũng rất quan trọng.
Bởi lẽ, NL luôn cần phải xác định và hướng tới người nhận một cách cụ thể,
rõ ràng, NL bao giờ cũng đòi hỏi phải có “người đối thoại”, “kẻ trò chuyện”
để giao tiếp. Việc hiểu biết về người đối thoại, đặc biệt về chính kiến, quan
điểm, thái độ của họ về vấn đề, về hiện tượng được đưa ra đối thoại càng
tường tận bao nhiêu thì độ hàm súc, tính thuyết phục của bài văn NL càng cao
bấy nhiêu. Ở đây, hiệu quả của NL luôn tỉ lệ thuận với việc hiểu biết về người
em sự vững vàng, giúp các em trưởng thành, can đảm, đưa ra vấn đề để tranh
luận, bàn bạc và đi đến thống nhất chung. Sau khi đưa ra ý kiến của riêng
mình, các em dùng từ, câu, …lí lẽ, luận điểm, luận cứ thuyết phục người
người đọc, người nghe, làm cho người đọc, người nghe ấy chú ý đến mình,
phải tâm phục khẩu. Bên cạnh đó, các em còn phải chuẩn bị trước những tình
huống trong quá trình diễn thuyết có thể xảy ra. Bốn yếu tố cơ bản của năng
lực đối thoại nêu trên là xương sống, là bộ khung bám vào đó để tổ chức kiểm
tra, đánh giá kết quả thực nghiệm của HS.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy các bài văn NL của học sinh THPT ở nhà
trường hiện nay lại là cái riêng thì ít còn cái chung thì nhiều. Cái chung của
các bài văn ấy diễn ra ở nhiều bình diện: chung từ ngữ, chung câu chữ, chung
hình ảnh, chung cách nhận định, đánh giá, chung cách chấp nhận, … Các em
chưa nêu ra được cái riêng của mình trong bài văn NL, nhưng cái riêng ấy lại
bị coi là hiện tượng “lạ” nên càng không giám.
1.1.2. Khả năng bồi dưỡng năng lực đối thoại qua dạy học làm văn về
16
một hiện tượng đời sống ở lớp 12
1.1.2.1. Bản chất đối thoại của làm văn nghị luận nói chung và nghị luận
về một hiện tượng đời sống nói riêng
Văn NL nói chung và văn NLXH về một hiện tượng đời sống nói riêng
đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục theo
định hướng phát triển năng lực ở nhà trường cũng như trong thực tiễn cuộc
sống. Văn NL được đưa vào dạy học trong phần Làm văn nhằm trang bị kiến
thức, kĩ năng dùng lí lẽ, dẫn chứng để trình bày, bảo vệ một ý kiến, vấn đề
của mình thông qua các luận điểm nhằm thuyết phục người đọc. Văn NL là
loại văn người viết, người nói trình bày các ý kiến, bày tỏ thông qua các lí lẽ
bằng chứng nhằm thuyết phục người đọc, người nghe đồng ý với ý kiến của
luận. Có thể đó là ngôn ngữ mạnh mẽ, quyết liệt; cũng có thể đó là ngôn ngữ
đồng cảm, chia sẻ; cũng có thể đó là thứ ngôn ngữ phê phán, phủ nhận,…
Trong NL, ngôn ngữ không mang tính “chợ búa”, “anh chị”, khích bác, thóa
mạ, miệt thị,… nếu như người nghị luận luôn quan tâm, mong muốn người
đối thoại thay đổi quan điểm của họ, thuyết phục họ tin vào lí lẽ mà mình đưa
ra và hành động theo hướng mà mình đề xuất. Và ngôn ngữ bị người đối thoại
cho là quá “xấc xược”, “vô văn hóa” thì dù lí lẽ, dù ý kiến của người nghị
luận đưa ra có hay, có đúng đến mấy chăng nữa thì chưa hẳn người đối thoại
đã chấp nhận, và nếu họ có chấp nhận đi chăng nữa thì vẫn là “tâm phục” mà
“khẩu không phục”. Cũng chính từ những lời lẽ thiếu cân nhắc trong lúc NL
như vậy mà rất có thể cuộc tranh luận vốn lúc đầu chỉ là “đối thoại” mà sau
lại trở thành “đối đầu”. Như vậy, chúng ta có thể thấy quá trình làm văn NL
chính là làm văn đối thoại.
1.1.2.2. Tầm đón nhận của học sinh lớp 12 phù hợp với yêu cầu năng lực
đối thoại
Đặc điểm tư duy của các em học sinh trung học phổ thông, đặc biệt đối
với HS lớp 12 cuối cấp trình độ tư duy không những có sẵn mà phát triển ở
mức độ cao. Các em có khả năng nhận xét vấn đề, khả năng phê phán ý kiến
18
mà người khác cho là đúng. Các em có thể đưa ra cách nghĩ riêng, thái độ
riêng, tình cảm riêng của mình đối với một vấn đề, một hiện tượng xã hội nào
đó. Các em có thể đồng tình, có thể phản đối, có thể đưa ra cách nhìn nhận,
cách suy nghĩ của riêng mình.
Lớp 12 kiến thức cuộc sống, kiến thức xã hội của HS đã được nâng cao
hơn, phong phú hơn. Vốn sống và vốn hiểu biết của bản thân các em là hết
sức cần thiết, đóng vai trò quan trọng tạo nên nội dung bài viết. Vốn sống và
vốn hiểu biết ấy sẽ giúp các em nhận ra, phát hiện ra được hiện tượng, vấn đề
(theo chương trình chuẩn) cụ thể như sau: có 110 tiết, trong đó có 29 tiết dành
cho Làm văn:
* Học kì 1: - Có 6 tiết về làm văn NLXH, cụ thể:
+ Tiết 3: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
+ Tiết 5, 6: Bài viết số 1 về NLXH.
+ Tiết 12: Nghị luận về một hiện tượng đời sống.
+ Tiết 15: Trả bài viết số 1; Bài viết số 2: NLXH (bài làm ở nhà).
+ Tiết 23: Trả bài viết số 2.
- Có 4 tiết rèn luyện và ôn tập các kĩ năng, thao tác trong bài văn nghị luận:
+ Tiết 36, 39: Luyện tập vận dụng các phương thức biểu đạt trong văn
nghị luận.
+ Tiết 42: Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận.
+ Tiết 48: Thực hành chữa lỗi lập luận trong văn nghị luận.
- Có 7 tiết về làm văn NLVH.
* Học kì 2:
- Có 7 tiết về làm văn NLVH.
- Có 4 tiết luyện tập các thao tác và kĩ năng của bài văn nghị luận
nói chung:
+ Tiết 80: Rèn luyện kĩ năng mở bài, kết bài trong văn nghị luận.
+ Tiết 83, 87: Diễn đạt trong văn nghị luận