ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ PHÚC
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 12
QUA DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “ĐẤT NƢỚC” (TRÍCH TRƢỜNG
MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG) CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ PHÚC
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 12
QUA DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “ĐẤT NƢỚC” (TRÍCH TRƢỜNG CA
MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG) CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DA ̣Y HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
MÃ SỐ: 60 14 01 11
Cán bộ hƣớng dẫn:TS. Phạm Minh Diệu
HÀ NỘI - 2015
GD – ĐT:
Giáo dục – Đào tạo
GV:
Giáo viên
HS:
Học sinh
NXB:
Nhà xuất bản
PPDH
Phương pháp dạy học
SGK:
Sách giáo khoa
SGV:
Sách giáo viên
THCS:
lực đọc hiểu ..................................................................................................... 17
1.1.5. Những quan điểm dạy học tích cực liên quan đến đổi mới PPDH
Trường ca Mặt đường khát vọng và đoạn trích Đất Nước.............................. 18
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 24
1.2.1. Mục tiêu, nội dung, PPDH đoạn trích Đất Nước (Trích Mặt đường khát
vọng) của Nguyễn Khoa Điềm theo CT và SGK hiện hành ........................... 24
1.2.2. Khảo sát thực trạng dạy học đoạn trích Đất Nước (Trích Mặt đường
khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm theo CT và sách Ngữ văn hiện hành. .... 25
CHƢƠNG 2- ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU
CHO HS LỚP 12 QUA DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “ĐẤT NƢỚC”........ 42
2.1. Những nguyên tắc đề xuất định hướng phát triển năng lực HS ............... 42
iii
2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục
trong dạy học ................................................................................................... 42
2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính
độc lập, sáng tạo của HS ................................................................................. 43
2.1.3. Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển
tư duy lý thuyết trong dạy học đoạn trích “Đất Nước” .................................. 44
2.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi ........ 45
2.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực trong cảm xúc................................. 46
2.1.6. Nguyên tắc đảm bảo quá trình tự học ................................................... 47
2.2. Một số đề xuất định hướng phát triển năng lực HS ................................. 48
2.2.1. Đổi mới mục tiêu dạy học ..................................................................... 48
2.2.2. Đổi mới về nội dung dạy học ................................................................ 48
2.2.3. Đổi mới về phương pháp dạy học ......................................................... 61
CHƢƠNG 3- THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ............................................... 78
3.1.Mục đích, đối tượng, nội dung, địa bàn thực nghiệm ............................... 78
Nguyễn Khoa Điềm, được đưa vào CT phổ thông từ sau 1975 đến nay. Đây là
một bài học rất quan trọng, minh họa cho thơ ca yêu nước miền Nam Việt
Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, với các phong trào xuống đường của sinh viên đô thị miền Nam.
Để dạy học thành công đoạn trích Đất Nước, cần có sự hiểu biết sâu sắc
về văn thơ yêu nước, chống Mỹ miền Nam dưới thời Việt Nam Cộng hòa,
hiểu biết phong trào xuống đường của sinh viên Huế, Sài Gòn, Gia Định,.. đòi
hòa bình, độc lập, thống nhất cho Tổ quốc; HS cũng cần có khả năng cảm thụ
sâu sắc, tinh tế tác phẩm thơ ca hiện đại, với các đặc trưng thi pháp của thi ca
Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước; bên cạnh đó, GV phải nắm vững các
quan điểm, phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, nhằm hình thành năng lực
đọc hiểu cho HS.
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu đoạn trích Đất Nước và
trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, nhưng chưa có công
trình nào bàn về định hướng phát triển năng lực cho HS khi dạy học văn bản
này.
1.2- Trong thực tế, khi dạy học đoạn trích Đất Nước, mặc dù có những
thành công đã được ghi nhận, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn và không ít
trường hợp không thành công, điều này không chỉ do hiểu biết của người dạy
về nội dung tác phẩm còn hạn chế mà còn do chưa có được PPDH phù hợp và
hiệu quả. Nó cách khác, đó là do mục tiêu, nội dung và PPDH bài này còn
chưa được xây dựng trên quan điểm hình thành và phát triển năng lực HS.
1.3- Nghị quyết 29- NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Hội nghị
TW 8 khóa XI về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” khẳng định: “Chuyển mạnh
1
quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng
GS. Phan Trọng Luận với chuyên luận Cảm thụ văn học, giảng dạy văn
học[24] đã phân tích rõ tầm quan trọng của hoạt động đọc và tư tưởng ấy tiếp
tục được đề xuất rõ thêm trong giáo trình PPDH văn[21].
TS. Nguyễn Trọng Hoàn với bài viết: “Một số vấn đề về đọc hiểu văn
bản ngữ văn”[10]và bài: “Hình thành năng lực đọc cho HS trong dạy học Ngữ
văn”[11] đã nêu lên các cách thức tiếp nhận đọc hiểu: đọc hiểu gắn với minh
họa và đọc hiểu huy động vốn ngôn ngữ, kinh nghiệm.
GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng với các công trình nghiên cứu và bài viết:
“Đọc hiểu văn chương”[15] bài: “Những khái niệm then chốt của vấn đề đọc
hiểu văn chương[16]; sách Kĩ năng đọc hiểu Văn đã chỉ rõ: “Đọc chính xác
thì hiểu đúng. Đọc kĩ, đọc phân tích thì hiểu sâu. Đọc trải nghiệm thẩm mĩ thì
hiểu được vẻ đẹp nhân tình. Đọc sâu, đọc sáng tạo thì hiểu được cái mới” [14,
tr. 35], đồng thời ông cũng nêu ra những nội dung cần hiểu sau khi đọc văn
bản.
GS.TS. Trần Đình Sử qua bài viết: “Đọc hiểu văn bản - Một khâu đột
phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay” đã nhấn mạnh: “Đề
xuất vấn đề đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc đổi mới học
Ngữ văn…là một yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực cho
đất nước” [33, tr. 25].
GS.TS. Trần Đình Sử qua các bài viết: “Văn bản văn học và đọc hiểu
văn bản”[35]; “Văn bản văn học: ngôn từ, thông báo, ý nghĩa và những ngả
đường đọc hiểu” [34]; “Từ giảng văn qua phân tích tác phẩm đến dạy học đọc
hiểu văn bản văn học”[32]cũng khẳng định tầm quan trọng của khâu đọc hiểu
văn bản và thiết yếu phải đổi mới việc dạy và học văn học trong nhà trường
phổ thông.
TS. Nguyễn Viết Chữ qua bài viết: “Về việc bồi dưỡng kĩ năng đọc –
nghe – nói- viết cho HS trong dạy học Ngữ văn”[5] đã đặt kĩ năng đọc lên đầu
tiên trong 4 kĩ năng cơ bản của con người: nghe - nói - đọc - viết. Cùng với
3
của thơ ca là đất nước.” [31, tr.411].
4
2.3. Các công trình nghiên cứu về chương“Đất Nước”
Nếu chỉ xét ở một chương Đất Nước thì những công trình nghiên cứu về
chương này cũng đã khá nhiều vì đây vừa là chương được đánh giá là thành
công nhất của Trường ca Mặt đường khát vọng, vừa là chương duy nhất của
Trường ca được đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông. Ta có thể điểm
một số công trình nghiên cứu như:
Lại Nguyên Ân với bài viết “Văn học và phê bình”; Lê Bảo với công
trình nghiên cứu “Tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông – những
con đường khám phá”; Nguyễn Văn Long, Trần Đăng Xuyền trong cuốn
Giảng văn văn học Việt Nam cũng có bài nghiên cứu về chương Đất Nước
của Nguyễn Khoa Điềm; Năm 2000, Chu Văn Sơn viết bài “Trữ tình triết luậnmột vẻ đẹp trong Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm”; Phan Huy Dũng, Đào Thị
Thu Hằng cũng có những bài viết về chương thơ Đất Nước. Trong các bài viết
của mình, các tác giả đều đánh giá cao nội dung, nghệ thuật của chương thơ
này.
Trong cuốn Ngữ văn 12 tập 1 (SGV) có viết: “ Sự độc đáo của đoạn thơ
này là cảm nhận, phát hiện về đất nước trong một cái nhìn tổng hợp, toàn vẹn,
mang đậm tư tưởng nhân dân, sử dụng phong phú các yếu tố của văn hoá, văn
học dân gian một cách sáng tạo” [22, tr. 106].
Gần đây nhất là năm 2011, trong luận văn thạc sĩ Dạy học đoạn trích
Đất Nước(Trường ca“Mặt đường khát vọng” – Nguyễn Khoa Điềm) từ hướng
tiếp cận văn hóa của Nguyễn Thị Thu Hương cũng đã đánh giá cao việc sử
dụng sáng tạo chất liệu văn hóa của Nguyễn Khoa Điềm trong chương Đất
Nước.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về trường ca Mặt đường khát
vọng và chương Đất Nước khá phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, hướng vận
dụng phát triển năng lực đọc hiểu cho HS lớp 12 vào phân tích cụ thể đoạn
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
6
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết để thu thập tư liệu,
nghiên cứu lịch sử vấn đề, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc phát
triển năng lực đọc hiểu cho HS qua đoạn trích Đất Nước.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Đề tài sử dụng phương pháp khảo sát tài liệu dạy học và điều tra khảo sát
thực tế kết quả dạy học của HS.
Các phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu thực tiễn gồm phương pháp
khảo sát- điều tra, thống kê, phân tích và thực nghiệm sư phạm.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của định hướng phát triển năng lực đọc hiểu
cho HS qua dạy học đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm
Chương 2:Đề xuất phát triển năng lực đọc hiểu cho HS qua dạy học đoạn
trích Đất Nước
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
7
CHƢƠNG 1- CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC ĐOẠN
TRÍCH “ĐẤT NƢỚC”
1.1. Cơ sở lí luận
năng lực của HS PT bao hàm: những kĩ năng, kĩ xảo, những kinh nghiệm, khả
năng vận dụng kiến thức, thái độ… để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ
học tập, các vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong
những tình huống thực tế của cuộc sống.
Như vậy, năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các
hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác
nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết,
kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.
1.1.2. Năng lực trong dạy học môn Ngữ văn
1.1.2.1. Các năng lực chung cốt lõi cần hình thành cho HS phổ thông
Theo dự thảo Chương trình phổ thông tổng thể sau 2015, những năng lực
chung cần hình thành và phát triển cho HS phổ thông bao gồm:
- Năng lực tự học;
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;
- Năng lực thẩm mỹ;
- Năng lực thể chất;
- Năng lực giao tiếp;
- Năng lực hợp tác;
- Năng lực tính toán;
- Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) [3].
1.1.2.2. Năng lực chuyên biệt môn Ngữ văn
Trong giáo trình PPDH văn tập 2, cố GS Phan Trọng Luận đã rất quan
tâm đến việc triển khai quan niệm về năng lực trong dạy học văn chương. Tác
giả cho rằng: “có 3 loại năng lực văn chương: năng lực sáng tạo, năng lực phê
bình và năng lực tiếp nhận, trong đó năng lực tiếp nhận là năng lực cần hình
thành cho HS” [21, tr.120- 153].
Có quan niệm cho rằng, năng lực chuyên biệt môn Ngữ văn gồm:
9
“Sử dụng thông tin của văn bản viết và in để hoạt động trong xã hội, để
đạt mục tiêu cá nhân và phát triển kiến thức, tiềm năng của mỗi cá nhân”[25,
tr.12].
Những khái niệm về đọc hiểu này nhấn mạnh khả năng của người đọc
trong việc sử dụng các văn bản viết tay và in ấn cho việc thực hiện các đòi hỏi
của xã hội hay giá trị của cá nhân để phát triển kiến thức, tiềm năng của họ.
Các khái niệm trên đã đơn giản hóa việc giải mã và hiểu theo nghĩa đen với
hàm ý rằng đọc hiểu bao gồm việc hiểu và sử dụng thông tin của văn bản cho
các mục đích cụ thể. Tuy nhiên các khái niệm lại không nhấn mạnh vai trò
chủ động và tích cực của người đọc trong hiểu biết và sử dụng thông tin.
PISA 2009 đã bổ sung định nghĩa về đọc hiểu phổ thông cho phù hợp
với yêu cầu đọc hiểu của HS lứa tuổi 15:
“Đọc hiểu phổ thông là việc hiểu biết, sử dụng phản ánh lên và tạo hứng
thú, thói quen đọc các văn bản viết, nhằm mục đích để đạt được mục đích,
phát triển tri thức và tiềm năng, và để tham gia vào xã hội”[36, tr.22].
CT PISA 2009 cho rằng các văn bản điện tử phổ biến ở nhiều lĩnh vực
trong cuộc sống của chúng ta trên các phương diện cá nhân, xã hội và kinh tế.
CT đã đi đến kết luận đọc hiểu rằng bất kỳ định nghĩa nào của đọc hiểu trong
thế kỷ 21 cần phải bao gồm cả văn bản in và văn bản điện tử.
Ở Việt Nam, người có thể coi là đặt nền móng đầu tiên cho vấn đề đọc hiểu là
GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng quan niệm : “Đọc - hiểu là khái niệm bao trùm có nội
dung quan trọng trong quá trình dạy học văn’’.“Đọc - hiểu là một khái niệm khoa
học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc - hiểu đồng thời cũng chỉ ra
năng lực văn của người đọc”. “Đọc –hiểu là phạm trù khoa học trong nghiên cứu và
giảng dạy văn học. Bản thân nó là khái niệm có quan hệ với năng lực đọc, hoạt
động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản nghệ thuật ngôn từ. Đọc
chính xác thì hiểu đúng. Đọc kĩ, đọc phân tích thì hiểu sâu. Đọc trải nghiệm thẩm
mĩ thì hiểu được vẻ đẹp nhân tình. Đọc sâu, đọc sáng tạo thì hiểu được cái mới”.
Đồng thời, tác giả đi vào lí giải nội hàm của ”hiểu”: ”Hiểu là phát hiện và nắm vững
trọng, ý nghĩa cấp thiết của vấn đề đọc hiểu. Tác giả khẳng định :“Đọc đúng hiểu
đúng, đọc nhanh hiểu kĩ, đọc diễn cảm hiểu tinh tế là một yêu cầu cấp thiết của mọi
12
người để tiếp nhận, giải mã thông tin trong thời đại thông tin dồn dập như vũ bão
hiện nay. Vì vậy dạy đọc hiểu có tầm quan trọng đặc biệt trong việc nâng cao chất
lượng giáo dục của nhà trường”. Tác giả viết ”Hiểu vừa là nguyên nhân vừa là mục
đích của đọc”[8, tr. 45].
Nói tóm lại, dù đứng ở góc độ nào cũng thấy “đọc” được coi là một quá trình
tổng hợp, đòi hỏi sử dụng nhiều kĩ năng; “hiểu” là mục đích của “đọc”, để đọc hiểu,
người đọc phải tích cực, chủ động khám phá văn bản. Đọc hiểu là vấn đề cơ bản
của nội dung và PPDH tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông.
1.1.3.2. Năng lực đọc hiểu
Theo Tài liệu Hướng dẫn ôn luyện thi THPT quốc gia môn Ngữ văn [17],
năng lực đọc hiểu của HS, nhìn chung được thể hiện ở ba khía cạnh với những
chuẩn kiến thức, kĩ năng cơ bản sau đây :
a. Đọc hiểu để có tri thức về văn bản :
- Hiểu ý nghĩa của các từ ngữ trong văn bản.
- Hiểu cấu trúc của từng loại văn bản.
- Hiểu thể loại của văn bản.
- Hiểu phương thức biểu đạt của văn bản.
- Hiểu đề tài của văn bản.
b. Có kĩ năng thực hiện các hành động, thao tác đọc hiểu nói chung và với
từng loại văn bản cụ thể :
- Đọc lướt, đọc nhanh để tìm chủ đề hoặc các ý chính.
- Đọc kĩ để tìm chi tiết/ thông tin.
- Đọc chậm, đọc diễn cảm để nhận biết và ghi nhớ thông tin/chi tiết/hình ảnh...
- Đọc sáng tạo để giải thích, cắt nghĩa, phân tích, phân loại, kết nối, so sánh...
thông tin/chi tiết/hình ảnh từ đó nắm được nội dung chính của văn bản, hiểu mối
ngoài đến hiểu được ý tứ sâu xa của tác phẩm.
GS. Phan Trọng Luận quan niệm dạy học đọc hiểu được tiến hành theo 3
bước : đọc thô, đọc bằng sức mạnh của hồi ức liên tưởng tưởng tượng và bước cắt
nghĩa, đánh giá.
GS. Trần Đình Sử, trong bài viết ”Văn bản văn học: ngôn từ, thông báo, ý
nghĩa và những ngả đường đọc hiểu” cho rằng, đọc hiểu một văn bản văn học được
14
tiến hành bằng bốn bước:” Một là đọc thông, đọc hiểu văn bản ngôn từ. Hai là đọc
hiểu thông báo của văn bản. Ba là đọc hiểu ý nghĩa. Bốn là đọc tổng hợp, phát hiện
ý nghĩa của văn bản” [34, tr.3].
GS. TS Nguyễn Thanh Hùng đưa quan điểm, đọc hiểu văn bản văn học là
”hiểu trong mối quan hệ nội tại của ba tầng cấu trúc : Đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng
cấu trúc ngôn từ tác phẩm ; Đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng cấu trúc hình tượng nghệ
thuật của tác phẩm; Đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng cấu trúc tư tưởng và ý vị nhân sinh
của tác phẩm”[14, tr. 59 - 74].
Đọc hiểu văn bản cũng có thể biểu hiện ở một quá trình ngược lại : từ hiểu
khái quát, đúng đắn, sâu sắc về văn bản tác phẩm, người đọc có thể tiến hành phân
tích, giải thích, bình luận giúp người khác có thể đọc hiểu văn bản ấy. Giải thích,
bình luận được bài văn là biểu hiện quan trọng của sự hiểu văn [22 , tr. 180].
Nói tóm lại, quan điểm về đọc hiểu và các thao tác đọc hiểu ở Việt Nam đến
nay vẫn chưa có sự thống nhất ; song ta có thể thấy để có thể phát huy năng lực đọc
hiểu cho HS cần hình thành ở HS những bước cơ bản sau :
Bước 1: Đọc thông – đọc thuộc ( nhận biết).
Bước 2: Đọc hiểu - đọc sáng tạo ( thông hiểu).
Bước 3: Đọc ứng dụng – đọc đánh giá (vận dụng).
- Đọc thông – đọc thuộc: Đây được coi là cấp độ đầu tiên mang tính tích cực
khi cảm thụ văn học. Hoạt động đọc sẽ kết nối với tri giác cảm giác của người đọc
làm cho các kí hiệu ngôn từ nghệ thuật được tái hiện trong đầu. Đây là bước bắt
ứng dụng – đọc đánh giá này thông qua hệ thống bài tập ứng dụng củng cố kiến
thức, các trò chơi ô chữ, trò chơi thể nghiệm (đóng vai, phỏng vấn).
Thực chất, nói tới phát triển năng lực không chỉ nói tới bản chất của
năng lực mà còn chú ý tới quá trình, tới tiến trình của nó. Đây thực sự không
phải là vấn đề đơn giản bởi bản thân thuật ngữ phát triển đã ngầm ẩn trong đó
sự đối chiếu và so sánh: Phát triển so với điều gì? so với thời điểm nào? với
đối tượng nào?... Thực tế, mỗi đối tượng HS lại có một trình độ kiến thức
khác nhau, một năng lực không giống nhau. CT, quan điểm phát triển năng
lực cho người học và các vấn đề của đọc hiểu đều mới mẻ và rất thuyết phục.
Tính thuyết phục của nó thể hiện trên nhiều phương diện và phụ thuộc vào
16
mục đích nghiên cứu, sử dụng mà người ta thấy tính tích cực của chúng phát
huy hoàn toàn khác nhau.
Như đã nói, việc phát triển năng lực của HS cần theo tiến trình, cần có
thời gian liên tục. Đó là việc nâng cao dần các cấp độ năng lực của HS qua
việc rèn luyện khả năng ứng phó với các câu hỏi với mức độ khó tăng dần
xoay quanh một tình huống trong thực tế. Trong công trình của mình chúng
tôi chỉ đề xuất một hướng tiếp cận mới: phát triển năng lực đọc hiểu cho HS
thông qua một bài học cụ thể - đoạn trích Đất Nước (trích Trường ca Mặt
đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm. Đây là một bài đọc hiểu hay
nhưng khó trong CT Ngữ văn 12 THPT hiện hành.
Với quan điểm như trên, những phương pháp, cách thức phát triển năng
lực đọc hiểu của chúng tôi được xây dựng gắn với một bài đọc hiểu cụ thể. Và
xung quanh bài đọc hiểu đó có rất nhiều các câu hỏi với các cấp độ đọc hiểu
khác nhau mà chúng tôi sẽ làm rõ ở chương sau. Và vì thế, các phương pháp,
cách thức này có thể áp dụng đối với mọi HS đặc biệt là HS khối 12 với các
cấp độ năng lực đọc hiểu khác nhau.
Người có năng lực cao là người có khả năng hoàn thành nhiệm vụ theo
văn bản văn học, một số HS có thể lĩnh hội được nội dung, nghệ thuật của nó,
một số khác thích những gì lãng mạn, mơ mộng, xa xăm. Cần có những định
hướng phù hợp để các em có thể gắn bó hơn những ước mơ lãng mạn với
cuộc sống thực tại.
1.1.5. Những quan điểm dạy học tích cực liên quan đến đổi mới PPDH
Trường ca Mặt đường khát vọng và đoạn trích Đất Nước
1.1.5.1. Dạy học lấy HS làm trung tâm
Quan điểm này được đưa ra lần đầu tiên vào thế kỉ XX do nhà sư phạm
người Mỹ J.Dewey với mong muốn đổi mới phương châm giáo dục. Ông khởi
xướng tư tưởng “ HS là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương diện giáo
dục ” song cần hạn chế nhược điểm của tư tưởng này là đề cao bản năng vô
thức, bản năng nguyên khai của con người, chú ý đến nhu cầu hứng thú nhận
thức của HS.
18