MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÔN TẬP THƠ MỚI TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, TẬP II, BAN CƠ BẢN
Tác giả: Trần Thị Hằng
GV: Trường THPT Hai Bà Trưng
I. VỊ TRÍ CỦA THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG
PHỔ THÔNG
1. Ở nhà trường phổ thông, Thơ mới là một mảng thơ hay, vì vậy so với các tác phẩm thơ
cổ, nhìn chung giáo viên, học sinh khá hứng thú. Tuy nhiên, việc dạy học các tác phẩm
Thơ mới ở trường trung học phổ thông hiện nay chưa đạt kết quả như mong muốn.Việc
dạy học Thơ mới, ở mức độ nhất định còn theo sở thích, cảm tính, chưa kể đến những học
sinh chuyên Khoa học tự nhiên. Làm thế nào để việc ôn tập Thơ mới sao cho hiệu quả là
việc bức thiết của nhà trường phổ thông hiện nay.
1. Cấu trúc chương trình Thơ mới ở lớp 11
Sách giáo khoa Ngữ Văn 11,tập 2, ban cơ bản gồm các tác phẩm (kể cả các tác phẩm đọc
thêm:
- Vội vàng – Xuân Diệu
- Tràng giang – Huy Cận
- Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử
- Tương tư – Nguyễn Bính
- Chiều xuân – Anh Thơ
II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC THƠ MỚI Ở TRƯỜNG PHỔ
THÔNG
Để có thể đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả ôn tập Thơ mới trong chương trình
Ngữ Văn 11, tập 2, ban cơ bản, người viết đã tiến hành khảo sát thực trạng dạy học Thơ
mới ở trường. Qua khảo sát, người viết nhận thấy:
1. Về kiến thức các tác phẩm dài, phân phối thời gian ít.
2. Học sinh thích Thơ mới nhưng ít hiểu biết hoặc hiểu biết hời hợt về khái quát về Thơ
mới.
3. Kỹ năng hệ thống hoá kiến thức trọng tâm và kỹ năng làm bài văn nghị luận xoay
quanh các tác phẩm Thơ mới còn hạn chế.
Thơ mới luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do.
b. Tâm sự yêu nước thiết tha
Có thể nói, tinh thần dân tộc là một động lực tinh thần để giúp các nhà Thơ mới ấp ủ lòng
yêu nước. Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ.
Đó là hình ảnh Chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp (Em đi Chùa Hương); hình
ảnh làng chài nơi cửa biển quê hương trong thơ Tế Hanh (Quê hương) v.v…
Bên cạnh những mặt tích cực và tiến bộ nói trên, Phong trào Thơ mới còn bộc lộ một vài
hạn chế. Một số khuynh hướng ở thời kỳ cuối rơi vào bế tắc, không tìm được lối ra, thậm
chí thoát ly một cách tiêu cực. Điều đó đã tác động không tốt đến một bộ phận các nhà
Thơ mới trong quá trình nhận đường những năm đầu sau cách mạng tháng Tám.
1.4. Đặc điểm nổi bật của Phong trào Thơ mới
a. Về nội dung
- Sự khẳng định cái Tôi.
- Nỗi buồn cô đơn.
- Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu.
b. Một số đặc sắc về nghệ thuật
- Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dần dần trở về với
các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ lục bát. Các bài thơ
ngũ ngôn có Tiếng thu (Lưu Trọng Lư), Ông Đồ (Vũ Đình Liên), Em đi chùa
Hương (Nguyễn Nhược Pháp)… Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,
T.T.KH chủ yếu viết theo thể thơ thất ngôn, còn Nguyễn Bính, Thế Lữ lại dùng thể thơ
lục bát v.v…
- Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần (độc vận) mà dùng
nhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên: vần ôm, vần lưng, vần chân, vần liên
tiếp, vần gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định…
2. GIẢI PHÁP THỨ 2: HỆ THỐNG HOÁ KIẾN THỨC CƠ BẢN MỘT SỐ TÁC
PHẨM THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, TẬP 2, BAN CƠ
người viết)
b/ Tổng hợp, đánh giá:
- Giá trị nội dung
- Đặc sắc nghệ thuật
3. Kết bài: Khẳng định giá trị của tác phẩm và vị trí của tác giả.
Đề: Cảm nhận của em về 13 câu thơ đầu trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu?
Hướng dẫn làm bài:
1. Mở bài:
- Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới (Hoài Thanh)
- Xuất xứ: Nằm trong tập Thơ thơ – là tập thơ đầu tay của nhà thơ Xuân Diệu, ngay khi
mới ra đời đã gây được tiếng vang lớn. Vội vàng là một trong những bài thơ xuất sắc nhất
của tập thơ.
- Bài thơ thể hiện cái tôi khao khát giao cảm với cuộc đời cũng như quan niệm sống độc
đáo, mới mẻ của tác giả. 13 câu thơ đầulà tôi say đắm với cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế.
2. Thân bài
a. Cảm nhận khổ thơ: Tình yêu thiết tha cuộc sống trần thế
- Mở đầu bài thơ là khổ thơ ngũ ngôn thể hiện cái ước muốn kỳ lạ của thi sĩ, là
ước muốn quay lại quy luật của tự nhiên:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đi đừng bay đi
+ Đây là 4 câu thơ của ước muốn.Điệp ngữ tôi muốn được nhắc lại hai lần. Sau
hàng ngàn năm của văn học phi ngã, thơ mới luôn khẳng định cái tôi cá nhân, Xuân Diệu
mở đầu khẳng định bằng cái tôi ước muốn.
+ Nhà thơ muốn tắt nắng, buộc gió. Nắng, gió là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu,
bất biến trong vũ trụ.Ước muốn này sẽ trở nên phi lí vì khó có thể thực hiện được.
+ Các từ cho, đừng điệp trong câu 2, 4:
ta muốn nâng niu, giữ gìn.
yến anh – khúc tình si: tiếng hót của chim chóc được Xuân Diệu cụ thể hoá qua
hình ảnh của chim yến và chim anh. Chim yến và chim anh là loài chim biểu
tượng của tình yêu lứa đôi, hạnh phúc (loài chim luôn bay cùng nhau).Tiếng hót
của của chúng không chỉ hiện lên với âm thanh véo von, ríu rít mà còn là khúc
tình si mê đắm của lứa đôi.
ánh sáng chớp hàng mi/ Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa. Nếu văn học trung
đại, thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp thì đến với thơ mới, Xuân Diệu ông
quan niệm hoàn toàn khác: còn người là chuẩn mực của cái đẹp, thiên nhiên
muốn đẹp thì phải trong sự so sánh với con người (Lá liễu dài như một nét
mi). Trong bài thơ này, anh sáng ấy không phải toả ra từ mặt trời mà toả ra từ
sau cái chớp mắt của hàng mi thiếu nữ. Sau cái chớp mắt ấy ánh sáng toả khắp
nơi đem đến tình yêu, sự sống cho khắp thế gian. Nên nhà thơ đón đợi ánh sáng
như thần Vui hằng gõ cửa.Chúng ta có thể cảm nhận cái bồn chồn bên trong
trong nghe tiếng gõ của bên ngoài.Đó là xúc cảm niềm yêu của nhà thơ. Niềm
yêu của nhà thơ không muốn bỏ lỡ một ngày, một giờ, một khoảng khắc của một
ngày mới, những nhiều vui mới, say đắm mới.
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần, câu thơ 8 chữ ngắt 3/5 trọng
tâm ngon.Tháng giêng ngon - ẩn dụ chuyển đổi cảm giác mùa xuân tuyệt vời,
tuổi trẻ tuyệt vời. So sánh có sắc thái nhục cảm như một cặp môi gần, gợi cái mê
đắm, quyến rũ, mê đắm. Tất cả cuộc đời ấy như đang trong tầm tay, giữ tuổi trẻ
tuyệt vời nhất. Bức tranh chan chứa xuân tình, bức tranh làm nên niềm đắm say,
khao khát tận hưởng là nguyên nhân cho ước muốn nhà thơ thể hiện trong bốn
câu đầu.
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa, câu thơ ngắt nhịp 3/5 với dấu chấm ngắt giữa
dòng giống như ngừng lặng sau những xúc cảm. Nhà thơ sung sướng vì vẻ đẹp cuộc sống
nơi trần thế, ngay lập tức thi nhân đã ngừng lặng vì cảm giác “vội vàng một nửa”. Một
nửa sung sướng, một nửa vội vàng. Nhà thơ vừa sung sướng vừa vội vàng. Nhà thơ vừa
b. Chứng minh ý kiến: dùng lí lẽ, dẫn chứng làm sáng tỏ ý kiến.
c. Bàn luận về ý kiến:
- Ý kiến đúng hay sai?
- Vì sao lại có ý kiến như vậy?
3/ Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề, đánh giá về tác phẩm và vị trí của tác giả.
Đề :Cái “tôi” Xuân Diệu trong bài thơ Vội vàng (Theo Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo
dục Việt Nam)
Hướng dẫn làm bài
1. Mở bài
- Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới (Hoài Thanh)
- Xuất xứ: Nằm trong tập Thơ thơ – là tập thơ đầu tay của nhà thơ Xuân Diệu, ngay khi
mới ra đời đã gây được tiếng vang lớn. Vội vàng là một trong những bài thơ xuất sắc nhất
của tập thơ.
- Bài thơ thể hiện cái tôi say đắm với cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế; cái tôi cảm nhận
mới mẻ về thời gian; cái tôi khao khát mãnh liệt và có tâm thế sống cuồng nhiệt tích cực.
2. Thân bài:
2.1. Giải thích: Cái tôi:là dấu ấn, là vân tay, là một biểu hiện của phong cách nhà thơ thể
hiện trong tác phẩm.
2.2. Phân tích, cảm nhận về cái tôi trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
a. Cái “tôi” say đắm với cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế: biểu hiện:
* Cái “tôi” ước muốn của Xuân Diệu (4 câu đầu)
٭Cái tôi say đắm với cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế: (9 câu tiếp)
b. Cái tôi quan niệm tích cực về thời gian và tuổi trẻ
(Từ câu 14 đến câu 30)
c. Cái tôi khao khát tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời (9 câu cuối)
2.3. Bàn luận, đánh giá
- Cái tôi Xuân Diệu thể hiện qua bài thơ rất điển hình cho thời đại thơ mới. Sự hình thành
+ Về nghệ thuật
- Điểm riêng (khác nhau)
+ Về nội dung
+ Về nghệ thuật
c) Lí giải
- Vì sao giống?
- Vì sao khác? (Thường căn cứ vào: hoàn cảnh sáng tác, phong cách nghệ thuật của tác
giả)
3. Kết bài
- Khẳng định vấn đề
- Khẳng định giá trị của tác phẩm và vị trí của tác giả
Đề : Cảm nhận của anh/ chị về hai đoạn thơ sau:
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
( Trích Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Ngữ văn 11, tập 2)
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
( TríchTràng giang của Huy Cận, Ngữ văn 11, tập 2)
Hướng dẫn làm bài
1. Mở bài
- Hàn Mặc Tử là nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới, cuộc đời bi thương, hồn thơ phong
phú, kì lạ, sức sáng tạo mạnh mẽ, luôn bộc lộ một tình yêu đau đớn hướng về trần
thế. Đây thôn Vĩ Dạ là thi phẩm xuất sắc thể hiện tấm lòng thiết tha đến khắc khoải của
nhà thơ với thiên nhiên và cuộc sống.Khổ thơ trên là khổ 2 cảu bài thơ đó là cảnh mây
b. So sánh
- Tương đồng: Cùng miêu tả bức tranh thiên nhiên trời - nước, qua đó bộc lộ nỗi buồn và
tình yêu đối với tạo vật và cuộc sống; sử dụng thể thơ thất ngôn điêu luyện, kết hợp tả
cảnh ngụ tình với trực tiếp biểu cảm.
- Khác biệt: Đoạn thơ trong Đây thôn Vĩ Dạ: là nỗi buồn của một người khát khao sống,
thiết tha gắn bó với cõi đời nhưng tự cảm thấy mong manh, vô vọng; trội về những thi
liệu trực quan từ trải nghiệm của chính mình. Đoạn thơ trong Tràng giang: bộc lộ nỗi
buồn rợn ngợp trước tạo vật mênh mông, hoang vắng cùng mặc cảm lạc loài của người
đứng trên quê hương mà thấy thiếu quê hương; trội về những thi liệu cổ điển hấp thu từ
Đường thi.
c. Lý giải
- Vì sao giống: mang tâm sự chung của thanh niên trí thức tiểu tư sản lúc bấy giờ
- Vì sao khác:
+ Hoàn cảnh sáng tác
+ Phong cách nghệ thuật của mỗi tác giả
3. Kết bài
- Đây là hai khổ thơ tiêu biểu của hai tác phẩm của hai trong ba gương mặt xuất sắc nhất
của phong trào thơ mới.
- Qua đó, ta thấy được phong cách nghệ thuật của hai nhà thơ…
KIỂU BÀI 4: KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI ĐẶT RA TRONG
TÁC PHẨM VĂN HỌC.
Công thức làm bài
1.Mở bài:
- Giới thiệu tác phẩm văn học
- Giới thiệu được vấn đề nghị luận ở dạng khái quát nhất và định hướng đi, phạm vi của
bài viết.
2. Thân bài:
Bài viết cho dạng này, ở phần thân bài thường gồm hai nội dung lớn:
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?
Chẳng bao giờ, ôi !chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi! mùa chưa ngả chiều hôm,”
(Trích: Vội vàng (Xuân Diệu)
Hướng dẫn làm bài
1. Mở bài:
+ Giới thiệu bài thơ Vội vàng, trích dẫn khổ thơ trong đề bài
+ Giới thiệu vấn đề nghị luận: Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu và của bản thân
học sinh.
2. Thân bài
Bước 1: Phân tích đoạn thơ để làm nổi bật quan niệm của Xuân Diệu về thời gian. Có các
ý cơ bản sau:
+ Thời gian trôi đi rất nhanh:
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già
+ Thời gian tuyến tính, một đi không trở lại
+ Thời gian của vũ trụ thì tuần hoàn nhưng thời gian dành cho mỗi con người là hữu hạn:
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lạị
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
+ Thời gian có ý nghĩa nhất của con người là lúc còn trẻ
->Xuân Diệu gửi gắm thông điệp: Bạn trẻ hãy biết quý trọng thời gian
Bước 2: Nghị luận về thời gian
+ Quan điểm: Quan niệm của Xuân Diệu là quan niệm đúng đắn, tiến bộ, thể hiện cái
nhìn biện chứng về thời gian
+ Chứng minh: HS có thể chứng minh bằng lí lẽ, lập luận, dẫn chứng thực tế
- Sử dụng thời gian để học tập tốt, lao động tốt thì chúng ta sẽ tạo ra nhiều của cải vật
lại bài kiểm tra, lần 2 bố trí riêng một buổi để kiểm tra nếu không sửa chữa sẽ mời gia
đình đến để thông báo, trao đổi thêm. Đối với những học sinh cá biệt như lười học, yếu kĩ
năng, ... giáo viên nên lập một danh sách riêng để chú ý kiểm tra nhiều hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoài Thanh, Hoài Chân (1993), Một thời đại trong thi ca , NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Phan Cự Đệ (1999), Văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945, NXB Giáo dục.
3. Đỗ Đức Hiểu (2003), Thơ mới, cuộc nổi loạn của ngôn từ NXB Giáo dục, Hà Nội.
4. Chu Văn Sơn (2003), Ba đỉnh cao Thơ mới, NXB Giáo dục, Hà Nội.
5. Đỗ Lai Thuý (1994), Con mắt thơ NXB lao động.
6. TS. Tôn Thảo Miên (tuyển chọn) (2008), Thơ Hàn Mặc Tử tác phẩm và lời bình,
Nxb Văn học
Tác giả: Trần Thị Hằng
Nguồn tin: THPT Hai Bà Trưn