MỞ ĐẦU
Theo sự vận động của tiến trình văn học Việt Nam, giai đoạn văn học 1945 –
1975 đã giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Trong giai đoạn này, chúng ta nhận thấy
được sự cách tân mạnh mẽ về lối viết văn, cũng như quan điểm nghệ thuật của mỗi
người nghệ sĩ. Phần lớn các tác giả thời kì này đi theo con đường văn học chính
thống với nội dung hướng đến phục vụ cách mạng, cổ vũ tinh thần đấu tranh chống
giặc ngoại xâm. Bên cạnh đó vẫn còn một số tác giả đi theo dòng văn học phụ lưu,
phản ánh hiện thực cuộc sống, đi sâu vào góc khuất con người, bề sâu đời sống nội
tâm. Nếu Tố Hữu là ngọn cờ đầu tiên trong phong trào cách mạng, thơ ông được biết
đến là những lí tưởng khai sáng những con người đến với con đường cách mạng bằng
tất cả nhiệt huyết của con tim; thì Lưu Quang Vũ được mọi người biết đến như một
“hiện tượng” trong thời kì này. Khuynh hướng thế sự đời tư được thể hiện vô cùng
sắc nét qua từng tác phẩm của ông, tạo nên một điểm nhấn đặc biệt trong giai đoạn
văn học 1945-1975. Tuy không được phổ biến như dòng văn học chính lưu – văn học
Cách Mạng, song dòng văn phụ lưu mang cảm hứng thế sự đời tư lại thành công
trong việc tạo nên một “ngã rẽ mới” cũng như làm phong phú thêm diện mạo mới
cho chặng đường văn học nước nhà.
1
NỘI DUNG
1. Vài nét về tác giả Lưu Quang Vũ
1.1. Cuộc đời
Lưu Quang Vũ, sinh ngày 17/4/1948 tại Thiên Cơ, Hạ Hòa, Vĩnh Phú (nay là Phú
Thọ), là con trai nhà viết kịch Lưu Quang Thuận và bà Vũ Thị Khánh. Tuổi thơ, ông
sống ở Phú Thọ cùng với cha mẹ, khi hòa bình lập lại (1954) gia đình ông mới chuyển
về sống tại Hà Nội.
Lúc nhỏ, ông đã ba lần đoạt giải văn Thành phố Hà Nội, một lần đoạt giải về hội
họa.
Từ 1965 đến 1970 anh nhập ngũ, phục vụ trong quân chủng Phòng không –
- Sống mãi tuổi mười bảy.
- Hồn Trương Ba da hàng thịt (1981).
- Nàng Sita (1982).
- Người trong cõi nhớ (1982).
- Ngọc Hân công chúa (1984).
- Tôi và chúng ta (1984).
- Lời nói dối cuối cùng.
- Bệnh sĩ (1988).
- Tin ở hoa hồng (1986).
2. Những vấn đề lý luận
2.1. Cảm hứng thế sự đời tư
Cảm hứng thế sự là cảm hứng về cuộc sống đời thường, về con người của thực
tại. Những tác phẩm mang cảm hứng thế sự thường hướng đến sinh hoạt hàng ngày
của con người. Chú ý khẳng định giá trị thẩm mĩ của cái đời thường, khám phá mọi
phức tạp, éo le và cả cái cao quý trên hành trình đi tìm sự sống và hạnh phúc của con
người [dẫn theo 6].
2.2. Cảm hứng thế sự đời tư trong văn học 1945 – 1975
Cách mạng tháng Tám thành công, sau hơn 80 năm nô lệ, dân tộc ta đã giành
được độc lập tự do. Cả nước sục sôi trong niềm vui của những người lần đầu tiên làm
chủ đất nước. Những người được hâm mộ nhất lúc bấy giờ là những người ở chiến khu
về, là cán bộ Việt Minh, chiến sĩ giải phóng quân. Người ta thích sinh hoạt chính trị,
thích nói chính trị, thích gọi nhau là đồng bào, đồng chí,… Độc lập tự do chưa giành
được bao lâu thì giặc Pháp đã trở lại, sau đó Mỹ kéo vào. Cả nước đứng lên, sẵn sàng
chống kẻ thù. Thanh niên tình nguyện đi bộ đội, chịu mọi sự gian khổ, hi sinh vì đất
nước. Lợi ích cộng đồng, lợi ích đất nước được đặt lên hàng đầu, mọi lợi ích khác đều
tạm thời phải xếp lại, lợi ích cá nhân lại càng trở nên tầm thường, thậm chí là vô nghĩa.
Lúc đó, Đảng đề ra văn nghệ sĩ phải đứng trên lập trường kháng chiến, ra sức
tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu. Do đó, chủ đề chính trong thơ ca 1945– 1975
là tình cả công dân, tình cảm chính trị, tình đồng chí đồng bào, tình quân dân, tình cảm
với Đảng, với Hồ chủ tịch,… Cảm hứng chính trị trở thành thi nguồn lớn mạnh nuôi
nhân của mình vào tình yêu đất nước. Ông viết:
“Em ơi, em là Hà Nội
Anh chưa bao giờ yêu Hà Nội như hôm nay”
Tâm hồn sáng tác của Lưu Quang Vũ rộn rã như một bản hoan ca “Anh chưa
bao giờ yêu Hà Nội như hôm nay”. Lời tự tình đó dành cho những trái tim chưa trải
qua những nghịch cảnh đời tư.
4
Đầu những năm 1970, một người nghệ sĩ trải qua một trang đời tư, những cơn dư
chấn tinh thần trong độ tuổi mới xây dựng hạnh phúc đầu đời, nhà thơ không còn
mang “ngoài bút” để tô điểm cho quê hương xứ sở. Trong khi Phạm Tiến Duật, Phan
Thị Thanh Nhàn chìm đắm trong tình yêu lý tưởng của thời chiến: “Anh lên xe trời đổ
cơn mưa/ Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ” trong trẻo, lạ thường thì chặng đó qua rất
nhanh trong Hương cây bếp lửa, để cơn địa chấn đời tư đến. Lưu Quang Vũ dám nhìn
vào dân tộc bằng ánh mắt mang bi kịch đời tư Việt Nam ơi, Đất nước đàn bầu, Giấc
mộng đêm,... Đó là điểm khác biệt của Lưu Quang Vũ so với những người bạn cùng
thời.
Lưu Quang Vũ đem đến cho người đọc cảm giác: những điều hôm qua tưởng
tuyệt vời tốt đẹp, đến nay thành không tưởng nữa rồi. Khi con người bị va đập bởi một
chấn động tình cảm đời tư thì họ nhìn quê hương không còn thanh tâm nguyên vẹn
nữa. Xã hội Việt Nam chìm trong biển máu, Lưu Quang Vũ đã nhìn sâu vào mặt trái
của chiến tranh, dám viết nên những câu thơ:
“Những áo quần rách rưới
Những hàng cây đắm mình vào bóng tối
Chiều mờ sương leo lắt đèn dầu
Lũ trẻ ngồi quanh mâm gỗ
Lèo tèo mì luộc canh rau”
(Việt Nam ơi).
3. Khuynh hướng thế sự đời tư trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn 1945 – 1975
Là thi sĩ, Lưu Quang Vũ không thể không phải lòng trước vẻ đẹp Cánh đồng
vàng thu:
“Lúa xanh đã nặng hạt vàng
Đồng xa đã gặt, đường làng trải rơm.
…
Nỗi thương muôn vạn muôn trùng
Tìm nhau trong sắc cánh đồng vàng thu”
Mùa thu lại gắn với mùa gặt, với sắc vàng của những gánh lúa trĩu hạt của chốn
đồng quê. Mùa thu của anh giản dị, hiện đại và không quá chau chuốt nhưng chính sự
bình dị ấy đã khiến cho người đọc dễ hiểu, dễ đồng cảm và thân thuộc:
“Thu đi lạnh giục đông sang
Núi nhoà sương trắng chiều hôm mất rồi”
Cảm hứng về đất nước trong thơ Lưu Quang Vũ còn là từ truyền thống văn hóa,
lịch sử. Đánh giá cảm hứng dân tộc trong thơ Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương nhận
xét: quan tâm đến vẻ đẹp đất nước, “ngợi ca tầm vóc vĩ đại và sự hi sinh cao cả
6
của người dân”. Một tuổi thơ được thở trong hơi ấm của tình thương gia đình nên tận
sâu bên trong Lưu Quang Vũ luôn dành cho mẹ những tình cảm thiêng liêng. Gửi mẹ
(1969) được viết khi đang tại ngũ là bài thơ mang xúc cảm vô cùng chân thực sâu lắng.
“Trên đời chẳng ai lo cho ta bằng mẹ
Cũng chẳng ai ta làm khổ nhiều như mẹ của ta”
Con mới chính là người làm khổ mẹ. Người lo lắng cho con nhiều nhất. Mẹ trao
con tình yêu từ những câu ru “à ơi” qua hàng bao đêm thâu, cho đến từng miếng
cơm… Với tình cảm không hề sáo rỗng, “con” ước:
“Ước mẹ trẻ hoài như buổi mới gặp cha
Ước con được sống suốt đời bên mẹ”
để mẹ luôn là người phụ nữ đẹp, để được phụng dưỡng, chăm sóc mẹ khi ốm
đau, khi trái gió, trở trời... cho tròn đạo làm con như bao người con có hiếu.
cảm hứng dân tộc, nhân dân. Vào một đêm năm 1972, Lưu Quang Vũ viết một bài thơ,
mà các nhà phê bình gọi đó là nhật kí cho quê hương Việt Nam, “Ghi vội một đêm
1972”:
Nhận thức về chiến tranh trước hết là nhận thức về nỗi đau thương tột cùng mà
dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam phải gánh chịu.
“Ngực nghẹn lại không còn khóc được
Thương mọi người cơ cực mấy mươi năm”.
Càng đi sâu vào cuộc chiến, phải chứng kiến nhiều hơn những cảnh tượng giết
chóc kinh hoàng, đẫm máu, thế hệ những người lính ấy không còn đủ vô tư để ca hát:
“Bom ném lên cao những đường tàu gẫy nát
Những bàn ghế những lá thứ những cánh tay người
Mùi thịt cháy rợn mình mùi khói cay
Ta đứng lặng trong tiếng gầm báo động”
Nhận thức về chiến tranh là nhận thức về tội ác man rợ của kẻ thù. Nhưng hơn
thế, nó còn được nhận thức như một sức mạnh tàn bạo của cái ác, của sự thù hận. Nhà
thơ miêu tả chiến tranh như một cỗ máy hủy diệt kinh rợn và tất thảy, nhân tính, tình
yêu, hạnh phúc, đều bị nghiền nát trong guồng quay của nó. Để rồi hình ảnh một Việt
Nam đau thương hiện lên trong nỗi xúc động nghẹn ngào:
“Kẻ mất người thân lặng lẽ bước trên đường
Đứa trẻ nhà ai bỗng khóc thét lên”.
Cùng với những thay đổi về cách thức cảm thụ cuộc sống. Lưu Quang Vũ còn
thể hiện một cái nhìn khác về tiếng Việt của chúng ta:
“Tiếng chẳng mất khi loa thành đã mất
Nàng Mị Châu quỳ xuống lạy cha già
8
Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi”.
Với cách nhìn của mình, Lưu Quang Vũ khẳng định lòng tự tôn dân tộc là tiếng
không thể có niềm tin tuyệt đối vào tôn giáo. Bởi vậy, Lưu Quang Vũ hi vọng thống
thiết Chúa hãy xuống soi xét dân tình, đó là ý của bài thơ.
Đối với bất cứ một dân tộc nào, chiến tranh là hiểm hoạ, là tổn thất nặng nề mà
mọi cố gắng bù đắp của con người chỉ có thể xoa dịu chứ không thể làm lành vết
thương khủng khiếp đó. Là một tâm hồn nhạy cảm với đau buồn, mất mát, ngay từ
giữa cuộc chiến nhà thơ hiểu ngay rằng chính nhân dân là người phải gánh chịu tất cả.
3.2. Thể hiện qua lăng kính đời tư
3.2.1. Cái tôi trữ tình đổ vỡ trong tự vấn đời tư
Lưu Quang Vũ là nhà thơ có phong cách với tư tưởng đầy triển vọng.
Cơn địa chấn đầu tiên khi Lưu Quang Vũ bước chân từ nhà trường vào con
đường quân đội bị trung đội trưởng gọi lên, bắt đốt gia tài thơ của mình và đi ra khỏi
quân đội. Bị coi là đào ngũ – chính là một trong những vết chàm đầu tiên của ông.
Sau khi kết hôn với nữ nghệ sĩ Tố Uyên với sự đổ vỡ trong hôn nhân Lưu Quang
Vũ đã rơi vào bi kịch tình yêu và không hề kêu oán một lời mà ông tự nhận về phần
mình khi tưởng trái tim và gia cảnh “ngọc vàng” nhưng ngược lại đó là “ván nát sàn
hoang”
“Anh thương em suốt đời trên sóng nước
Cướp được tàu anh tưởng có ngọc vàng
Ngờ đâu chỉ là ván nát sàn hoang
Còn trơ lại một hồn thơ tai ác quá”
Vì không chịu nổi cái nghèo “cơm, áo, gạo, tiền” nên con chim vành khuyên của
màn ảnh Việt đã để lại đứa con của mình và dứt áo ra đi. Lưu Quang Vũ từng nói với
con rằng:
“Con ơi! Con hãy tha thứ cho cha
Cha không thể sống cùng mẹ nữa
Đời cha nắng gắt
Mà mẹ con cần suối mát của đồng vuông”
Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ vẫn rất vị tha, nồng hậu. Phải chăng, khi
nhân thì mái ấm của nữ sĩ Xuân Quỳnh cũng không khá hơn là mấy. Chính vì lẽ đó,
mà họ đã phải lòng nhau, yêu thương cho hoàn cảnh của nhau và khi hai tâm hồn hòa
chung nhịp đập, họ đã cùng nhau vượt qua, cùng nhau xây nên một mái nhà hạnh
phúc. Nhưng thật không may, trong chuyến đi ở bãi biển Đồ Sơn cả hai bị tai nạn, họ
ra đi trong niềm tiếc thương khôn xiết của mọi người.
3.2.2. Cái tôi trữ tình cô đơn đến tuyệt vọng
Lưu Quang Vũ từ nhỏ đã mang trái tim của người nghệ sĩ, có tình yêu nghệ thuật
nồng cháy. Ông đến với thơ như chim về với tổ, như nước về với nguồn. Thơ ông là
11
tiếng lòng nhớ nhung, là nỗi nhớ yêu thương hay phải chăng thơ ông là nỗi buồn mà
xa hơn nữa là nỗi cô đơn, đâu chỉ vậy nỗi cô đơn ấy đã đi đến cô độc.
Khi con người ta có những dư chấn trong cuộc đời thì thơ là tiếng lòng trải
nghiệm của họ:
“Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh
Thắp một ngọn đèn hồng như ánh lửa
Đêm sâu quá đêm nào biết ngủ
Chỉ con người đến ngủ giữa đêm thôi”
(Bầy ong trong đêm sâu)
Từng trải qua bao mất mát con người ta sẽ tự cảm thấy bản thân như ngày càng
bị xã hội ruồng bỏ, họ trở nên bi lụy. Đầu tiên đó là sự dằn vặt bản thân, về đêm là lúc
con người ta sống thật với bản thân mình nhất, họ suy nghĩ về bản thân. Ban ngày kìm
nén bao nhiêu thì ban đêm khi ở một mình bản thể con người bộc lộ nỗi niềm thầm kín
bấy nhiêu. Bởi trong tâm thức ấy đã quá tải và đang rên rỉ một cách nhọc nhằn. Con
người tự hòa mình vào màn đêm u uẩn “chỉ con người đến ngủ giữa đêm thôi”. Dĩ
vãng kéo ta về, tương lai gọi ta đến, nỗi buồn, sự cô đơn cứ dai dẳng xảy đến. Trong
con người Lưu Quang Vũ lúc này, nỗi buồn đã bước lên một cung bậc khác đó là nỗi
đau đớn, mệt mỏi:
“Hai ta không đi một ngã đường dài
Quang Vũ, dư chấn đời tư làm cho anh cô đơn đến giằng xé:“Nhớ vai em chập chờn
hoa gạo đỏ/ Nhớ vầng trăng xẻ nữa lúc xa xôi”.
Nỗi nhớ ngày càng ăn sâu vào tâm hồn của nhà thơ bởi sự cô đơn đến tuyệt vọng.
Ông hoài niệm lại những ký ức xa xưa, một nữa tình yêu của ông thật sự quan trọng
đến nhường nào. Những người cô đơn, đa cảm thường chuốc lấy nỗi buồn của đời tư,
của nhân tình thế thái, của những nỗi đau và hoài niệm. Nỗi buồn ấy đâu chỉ là ngây
dại, đâu chỉ là quay quắt, mà đó là nỗi cô độc khi con người ta tìm kiếm mãi mà không
có lối ra:
“Đêm nay tôi chẳng biết lối về
Phía nào cũng hàng rào trước mặt
Thế giới có bao nhiêu tường vách
Ngăn cản con người đến với nhau.”
(Mấy đoạn thơ)
Mảnh đất tình yêu được gieo vào hạt giống buồn thương man mác, cái tôi dỗi
hờn dường như rơi vào cõi đơn độc. Ông khắc khoải giữa tình yêu và số phận, đó là
tiếng thơ lặng lẽ thương đời:
“Anh là con ong bay giữa đời lận đận
Trời đêm dài chẳng có một ngôi sao.”
13
(Bầy ong trong đêm sâu)
Nỗi buồn ấy đôi lúc lo âu về hạnh phúc mong manh, Những ngày chưa có em:
“Mưa trên đường xa mưa trên cửa sổ tâm hồn
Ôi tuổi thanh xuân trôi qua bằng những đêm trăn trở”
Con người đôi lúc cô đơn, những lúc ấy trước mắt họ tương lai như mù tối, chuỗi
ngày trôi qua của tuổi thanh xuân được thêu dệt bằng những đêm trăn trở. Dường như
đôi mắt ấy đã in hằn những nỗi buồn, sự lo âu thấp thỏm khi phải sống mà không có
một ai để yêu thương, đâu chỉ vậy tình yêu đầu tiên rời bỏ ông đã làm cho nỗi buồn ấy
càng thấm dần vào con người đa cảm này. Hay đó là nỗi buồn về thế thái nhân tình:
rằng: “Nếu thế hệ nào trưởng thành cũng thấy ít nhiều bơ vơ, thì thế hệ 20 là thế hệ bơ
vơ hơn hết, lạc loài hơn hết.”
Ông thấy cô đơn trong chính con người mình cũng như ông thấy cô đơn, lạc lõng
giữa những con người trong xã hội:
“Trên bình nguyên đá và cát bỏng
Nỗi cô quạnh con người dưới nắng.”
(Di chúc tình yêu)
Mọi cung bậc cảm xúc được Lưu Quang Vũ gói trọn trong những bài thơ nồng
đượm đến say đắm, ngọt dịu đến chạnh lòng, mỗi bài thơ để lại cho ta cảm xúc khác
nhau nhưng vẫn gặp nhau bởi nỗi buồn lan tỏa trong không gian thơ đầy tình yêu dang
dở.
Lưu Quang Vũ mang trong mình nhiều nỗi đau, nhiều niềm day dứt trong lòng.
Bản thân ông là một người đa sầu, đa cảm, lại thêm những địa chấn đời tư trong quá
khứ, càng phần nào khiến ông nhạy cảm với tất cả mọi thứ xung quanh hơn, dễ tổn
thương hơn. Chính vì thế, từ những cảm xúc đời thường, cái tôi chấn thương trong ông
dễ phần dằn vặt, nhạy cảm. Ngay cả ngồi bên cạnh người thân cũng cảm thấy nỗi cô
đơn dâng trào:
“Tôi là đứa con cô đơn ngay khi ngồi cạnh mẹ
Thằng bé lẻ loi giữa lớp học ồn ào
Bàn chân hồ nghi giữa đường phố xôn xao”
(Mấy đoạn thơ)
3.3. Thể hiện sự bận tâm đến những thân phận nhỏ bé
Lưu Quang Vũ tin rằng, “khi một tiếng gọi cất lên thì bao giờ cũng có tiếng
thưa, không tiếng gọi nào lại rơi vào im lặng đáng sợ cả” [dẫn theo 4]. Chính vì quan
niệm sống ấy đã khiến cho nhà thơ cứ mãi trăn trở với thực tại, buộc phải nói lên tiếng
15
...
“Đôi môi em không trong vắt nụ cười
16
Em chẳng biết yêu đương mà mơ ước
Không được đọc những trang sách đẹp
Không biết tin vào những bài ca”.
(Những tuổi thơ)
Sở dĩ Lưu Quang Vũ “ăn không ngon, ngủ không yên” là bởi ông cảm giác như
mình bất lực trước thời đại. Chặng đường ông trải qua và chiêm nghiệm là hành trình
đã cho, lấy của ông rất nhiều, đó là một trong những lí do giải thích vì sao thơ của ông
có những “cái khác” nhưng vẫn đảm bảo được sự rung cảm từ thơ mang lại. Những
điều trông thấy này đã làm kết đọng trong lòng Lưu Quang Vũ một nỗi buồn ám ảnh,
không dễ dàng nguôi ngoai. Liên tưởng của anh, càng đắp thêm vào những cái “bi
thương” hơn nữa, có lúc Lưu Quang Vũ đã rơi vào tâm thế bế tắc:
“Có những lúc tâm hồn tôi rách nát
Như một chiếc lá khô, như một chồng gạch vụn
Một tấm gương chẳng biết soi gì
Một đáy giếng cạn không một hốc mắt đen sì
Trời chật chội như chiếc lồng trống rỗng
Thành phố đầy bụi bặm
Những mặt người lì nhẵn chen nhau”
(Có những lúc).
Lưu Quang Vũ luôn luôn băn khoăn một câu hỏi giữa con người với con người,
con người là gì đối với nhau, có nên tin vào đôi mắt của mình không hay chỉ tin theo
niềm tin có sẵn, cái niềm tin đã được định trước, vạch sẵn. Có khá nhiều nhà thơ sống
trong những năm kháng chiến ấy đã chọn cách thứ hai, tiện và lợi đi đôi nhưng cũng
không ít những nhà thơ đã chọn cách thứ nhấ: Đau trong tâm hồn hơn, và có khi còn
khổ cả thân xác. Ở một góc độ nào đấy, có thể cảm nhận được sự bi lụy trong thơ ông,
Có thể nói thơ tình của Lưu Quang Vũ dậy sóng từ khoảng năm 1970. Đó là
những trang thơ đời thường mang đậm khát khao bình dị về tình yêu, những trăn trở
suy tư của cảm xúc cá nhân,… tất cả mọi thứ như đã ăn sâu vào máu thịt, nhịp thở và
tâm hồn của con người ấy.
Tình yêu là thứ tình cảm mà con người luôn muốn chinh phục và khám phá. Bởi
lẽ, nó mang lại cho ta nhiều cung bậc cảm xúc:
“Ngực anh thở gắn liền với đất
Có nhiều đêm anh khát những chùm sao”.
(Đất)
Thời 1945 – 1975, tình yêu đôi lứa phải đặt sau tình yêu Tổ quốc, con người yêu
nước phải tôn tình yêu tổ quốc thành mối thờ thiêng liêng. Nhưng cơn địa chấn đời tư
18
đã làm cho những vần thơ của Lưu Quang Vũ trở nên “lạc điệu”, “nhầm đường rẽ lối”.
Tuy nhiên, có mấy ai can đảm viết lên tiếng lòng như Lưu Quang Vũ trong giai đoạn
này. Lưu Quang Vũ đã đưa vào thơ sự giằng xé, đau khổ trong tình yêu, mà sau này Vi
Thùy Linh gọi đó là “đơn độc trong sáng tạo”.
Bất hạnh tình yêu đón đợi nhà thơ quá sớm, ngay từ lúc bắt đầu xây dựng gia
đình riêng. Trong Nửa đêm đến thành phố lạ gặp mưa, nhà thơ tự chất vấn tình yêu
“Có lẽ nào em lìa anh lần nữa”
Hay trong Mấy đoạn thơ:
“Tôi còn gì mà đau khổ nữa”
Mất niềm tin vào tình yêu, Lưu Quang Vũ thể hiện sự đau khổ đến tột cùng,
giằng xé. Nhà thơ trải mình đến tự trào:
“Anh như thằng bờm
Chẳng thiết trâu bò, chẳng thiết lim
Chỉ nhận nắm xôi người ngặt nghẽo”
(Ngã thư tháng Chạp)
Lưu Quang Vũ nhại lại thằng Bờm để nói về sự bất cần của mình. Con người ta
ảnh bởi vì một lần mất đi hạnh phúc, người ta sẽ luôn phấp phỏm, lo âu. Nhưng mỗi
người phụ nữ đi qua đời ông, ông đều dành cho họ một tình yêu chân thành. Đối với
“người đàn bà không tên” ấy, Lưu Quang Vũ chia sẻ:
“Là mây trắng của một đời cay cực
Vượt lên trên những mái nhà chật hẹp
Em em là mấy trắng của đời tôi”
(Thơ tình viết về một người đàn bà không tên III)
Những vần thơ của ông không trách móc, không oán hận, nhà thơ nhớ về những
ngày tháng tình yêu vẫn đương còn nồng ấm, nhớ lại những kỉ niệm trong tình yêu lứa
đôi. Và rồi theo dòng cảm xúc từ những nỗi nhớ hạnh phúc nhất cuộc đời của nhà thơ
cho đến nhớ đến cảnh “vầng trăng xẻ nửa lúc xa xôi”. Nỗi đau vẫn đang còn đó, giằng
xé bản thân của nhà thơ qua từng tháng ngày và giằng xé luôn một tâm hồn vốn dĩ
nhạy cảm, một hồn thơ trăn trở, thổn thức với thời gian. Con người ai cũng sẽ gặp
những cú sốc trong cuộc đời, nhưng đối với Lưu Quang Vũ, cú sốc tình yên đến một
cách chóng vánh khiến cho nhà thơ đau đớn, khắc khoải, day dứt với tình yêu và số
phận con người của mình.
“Nhớ vai em chập chờn hoa gạo đỏ
Nhớ vừng trăng xẻ nửa lúc xa xôi.”
(Từ Biệt)
Trong sự lẩn quẩn tự vấn, Lưu Quang Vũ lo sợ một nỗi lo về tình yêu và hạnh
phúc. Một lần đã trải qua những nỗi đau của sự đổ vỡ con người ta lại mất lòng tin vào
20
cuộc sống, huống hồ Lưu Quang Vũ là một hồn thơ nhạy cảm trong cuộc sống xã hội
và đặc biệt là trong tình yêu hôn nhân. Những sự hoài nghi, tự vấn là một điều dễ hiểu,
ông không thể nào yên phận được mà luôn luôn lo lắng, nghi ngờ đến “giọt sương
rơi”. Nhưng những lúc cô đơn, tuyệt vọng trong ông vẫn không nguội tắt lòng yêu:
“Ngọn gió âm thầm quằn quại vẫn yêu em”. Và trong suốt cuộc đời lắm khổ đau, ông
vẫn không nguôi khát vọng về một tình yêu đẹp, tình yêu dành cho “người đàn bà
sau đó nhà thơ vẫn tiếp tục hành trình tìm đến thềm cao của niềm tin.
22
KẾT LUẬN
Xuôi dòng văn học Việt Nam hiện đại, văn học thời 1945 – 1975 không quên
nhiệm vụ hòa chung vào không khí chiến đấu chống giặc ngoại xâm, nơi tinh thần dân
tộc được đẩy lên cao. Nếu Phạm Tiến Duật say sưa trong tiếng hát của những chiến sĩ
đầy sự lạc quan, yêu đời, tình yêu trong họ như một cơn gió nhẹ dịu lướt qua, Lâm Thị
Mỹ Dạ với những khúc ca đầy tin yêu về những cô gái tuổi đôi mươi mang trong mình
nhiều khát khao và hi vọng… thì Lưu Quang Vũ lại mang hơi thở mới lạ, độc đáo,
không trộn lẫn với bất kì ai trong nền văn chương lúc bấy giờ. Khuynh hướng thế sự
đời tư trong sáng tác của Lưu Quang Vũ, không chỉ đơn thuần là khai thác cái tôi cá
nhân trong mạch cảm xúc thời đại, mà còn là những trang viết giàu tính chiêm nghiệm,
triết lí, hiện sinh. Chất văn xuôi trong thơ ông, cũng như giọng điệu đa thanh đa cảm
trong từng tác phẩm, ta mới thấy hết được tài năng của ông. Các sáng tác của ông
trong giai đoạn 1945-1975 tuy không được đón nhận nồng nhiệt ở thời điểm đó, song
cho đến hôm nay lại vô cùng giàu giá trị, tạo tiền đề cho một làn gió mới trong xu
hướng hiện đại hóa văn học và đóng góp không nhỏ cho dòng chảy văn học Việt Nam.
Người nghệ sĩ chân chính, tài năng là người dám sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật bằng
chính tư duy, xúc cảm của bản thân mình và thổi vào đó sự tinh tế, chân thành. Chính
vì lẽ đó, Lưu Quang Vũ đã vô cùng thành công với những sáng tác mang hơi thở thế
sự - đời tư, mà cho đến nay không ai có thể vượt qua ông. Với sự khác biệt ấy, cảm
hứng thế sự đời tư ẩn chứa trong suy nghĩ của một người đàn ông đa sầu, đa cảm cùng
những dư chấn đời tư in đậm vào tâm thức của chính mình, Lưu Quang Vũ đã hoàn tất
quá trình sáng tạo cái tôi từ mạch thanh trong dịu nhẹ ở các sáng tác đầu tay đến sự
nhận thức sâu sắc, nhuần chín khi hồn thơ đong đầy gió bão:
“Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh
Thắp một ngọn đèn hồng như ánh lửa
5. Nguyễn Đăng Mạnh, (2013), Đặc điểm cơ bản của nền văn học mới Việt Nam
giai đoạn 1945-1975, nguồn: http://www.hoalinhthoai.com/philology/detail/PP57/DAC-DIEM-CO-BAN-CUA-NEN-VAN-HOC-MOI-VIET-NAM-GIAIDOAN-1945-1975.html, ngày truy cập: 11/03/2017.
6. Nguyễn Văn Nở, (2012), Cảm hứng thế sự - điểm gặp gỡ và khác biệt giữa tiểu
thuyết Hồ Biểu Chánh với tiểu thuyết của một số tác giả miền Bắc cùng thời,
nguồn:
http://se.ctu.edu.vn/bmnv/index.php?
option=com_content&view=article&id=39:cm-hng-th-s-im-gp-g-va-khac-bitgia-tiu-thuyt-h-biu-chanh-vi-tiu-thuyt-ca-mt-s-tac-gi-min-bc-cungthi&catid=26:vn-hc-hin-i, ngày truy cập: 11/03/2017.
7. Thivien.net,
(2008),
Lưu
Quang Vũ,
nguồn:
http://www.thivien.net/L
%C6%B0u-Quang-V%C5%A9/author-WpRofb64NUUZVCwLGK-ucg,
ngày
truy cập: 12/03/2017.
8. Lý Hoài Thu, (2017), Thơ Lưu Quang Vũ – gió và tình yêu thổi trên đất nước
tôi, nguồn: http://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/doi-song-van-hoa/tho-luuquang-vu-gio-va-tinh-yeu-thoi-tren-dat-nuoc-toi-254690,
12/03/2017.