Cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Việt Nam mười năm đầu thế kỷ XXI - Pdf 25


I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN
TRN TH MINH TM

cảm hứng thế sự đời t- trong thơ việt nam
m-ời năm đầu thế kỷ xxi
LUN VN THC S CHUYấN NGNH VN HC VIT NAM
Lun vn Thc s chuyờn ngnh Vn hc Vit Nam
Mó s: 60 22 34

Ngi hng dn khoa hc: GS.TS. Lờ Vn Lõn
H Ni - 2012 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 6
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 7
5. Cấu trúc luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chƣơng 1. TÌNH HÌNH XÃ HỘI VÀ THƠ CA VIỆT NAM MƢỜI NĂM
ĐẦU THẾ KỶ XXI 8
1.1. Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XXI 8

3.2.1. Ngôn ngữ đời thường, trần tục 81
3.2.2. Ngôn ngữ trong sáng, giản dị 83
3.2.3. Ngôn ngữ hàm súc 85
3.3. Hình ảnh 87
3.3.1. Những hình ảnh mang tính dân gian 87
3.3.2. Những hình ảnh đời thường, trần tục hóa 88
3.3.3. Những hình ảnh lạ hóa mang màu sắc siêu thực 93
3.4. Giọng điệu 95
3.4.1. Giọng giãi bày, tâm sự 96
3.4.2. Giọng chiêm nghiệm, triết lý 97
3.4.3. Giọng tự sự khách quan 99
3.4.4. Giọng cảm thương 100
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong những năm gần đây thơ không đạt được nhiều thành tựu như
là tiểu thuyết. Điều này không lạ bởi lẽ quy luật sáng tạo thẩm mĩ cho thấy
các thể loại không bao giờ phát triển song hành cùng nhau. Tuy vậy, thơ vẫn
là thể loại văn học giàu truyền thống nhất trong các thể loại văn học. Xét về
mặt lịch sử, thơ là một “thể loại già”, còn tiểu thuyết là một “sinh ngữ trẻ”.
Thơ ra đời bắt đầu từ lúc loài người có nhu cầu bộc lộ đời sống tâm hồn, tình
cảm và nó đã song hành cùng loài người với bao thăng trầm từ đó đến nay.
Cho dù ở thời điểm này, thơ đang ở trong cơn “bĩ cực” nhưng nó vẫn xứng
đáng được quan tâm, nghiên cứu.
1.2. Về thơ Việt Nam đương đại, hiện có nhiều đánh giá khác nhau.
Người bảo “nền rộng nhưng thiếu đỉnh”. Người bảo “thơ đi ngang”. Người lại
quả quyết, thơ hiện nay “ngang ngửa” thậm chí “chất lượng và bề thế hơn”

2.1. Tình hình nghiên cứu về thơ ca mười năm đầu thế kỷ XXI.
Mười năm đầu thế kỷ vừa mới đi qua, khoảng cách thời gian từ đó đến
nay chưa đủ để các nhà phê bình, nghiên cứu đưa ra một công trình bàn về thơ
Việt Nam giai đoạn này. Tuy vậy, trên các báo viết, báo mạng và trong các cuộc
hội thảo văn học có một vài ý kiến bàn về thơ hiện nay, chủ yếu xung quanh hai
vấn đề chính: đánh giá về thực trạng của thơ và vấn đề thơ hiện đại, hậu hiện đại.
Đánh giá về thực trạng thơ hiện nay, trong hội thảo Thơ Việt hiện đại
nhìn từ miền Trung, nhiều ý kiến tỏ ra bi quan “thơ đang có vấn đề và cần đổi
mới nó” (Hữu Thỉnh), “tình trạng vè hóa thơ” (Nguyễn Trọng Tạo), “thơ của
chúng ta èo uột, làng nhàng, thiếu bứt phá, thiếu thăng hoa” (Nguyễn Hoàng
Đức), “Cái khó mà thơ lâm phải hiện nay là thời kỳ giáp hạt tư tưởng, sự

3
khủng hoảng của nó cũng do đó mà ra.” (Vũ Quần Phương), “thơ đang mất
chỗ đứng trong ồ ạt của cạnh tranh thị trường… Nhiều bài thơ nhợt nhạt,
quanh quẩn, ngô nghê, được viết với một trạng thái vô cảm… thơ Việt đang
trong cơn bĩ cực trên cả hai phương diện chủ quan và khách quan” (Lê
Thành Nghị), “Sự kiện thơ ca mất giá như thế diễn tiến qua nhiều năm”
(Nguyễn Chí Hoan) [59]. Nhưng cũng nhiều ý kiến nhận định lạc quan về thơ
đương đại “Quan sát trên thi đàn Việt những năm gần đây có thể thấy các tác
giả trẻ đang khao khát thể hiện tiếng nói của thế hệ mình như một giá trị. Giá
trị ấy được đảm bảo bằng cái mới, cái hiện đại trong quan niệm về thơ, trong
giọng điệu, bút pháp, hình thức thể hiện Dù có thể những tìm tòi, cách tân
chưa trở thành xu hướng chủ đạo, chưa dễ tìm được sự đồng thuận trong
đánh giá và tiếp nhận của người đọc nhưng vẫn có thể cảm nhận được một
nguồn sinh lực mới đang tiềm ẩn trong thơ hiện nay” [78], “còn về giá trị, về
định tính, chắc chắn rằng nhiều tác giả và tác phẩm thi ca của ta tuy đến
chậm nhưng ít nhiều đã có chỗ đứng trong lòng độc giả bè bạn (nhiều hội
thơ, nhiều tuyển thơ các nước đã có tác giả Việt xuất hiện, một vài thi phẩm
đã được dịch, độc giả các nước đánh giá cao). Dẫu vậy thì cũng cần công

đây là thơ “vô lối” như đã từng đánh giá thơ hiện đại. Nhà nghiên cứu
Nguyễn Hoà thì cho rằng: “hậu hiện đại là một cái áo quá rộng cho một cơ
thể còm” và đề xuất “hãy đi hết hiện đại đã rồi hãy nghĩ đến hậu hiện đại”
[28]. Nhà văn Đỗ Ngọc Yên thì cho thơ cách tân (hiện đại, hậu hiện đại) chỉ là
một mớ hỗn độn “nhân danh cách tân nhiều người đã cho ra đời một thứ
chẳng biết gọi là gì: văn nói, ghi chép, nhật ký, chỉ biết rằng nó giống như
món “óc sống” khiến công chúng không thể nào tiêu hóa nổi” [82]. Ở phía
bên kia, Inrasara là người nhiệt thành ca ngợi thơ hậu hiện đại: “Thơ hậu hiện
đại là trò chơi địa phương của những kẻ tự nguyện sáng tác ngoài lề trong

5
thời đại toàn cầu hóa. Với tinh thần phá chấp triệt để qua tầm nhìn rộng mở
và thái độ dân chủ tuyệt đối, thế hệ nhà thơ hậu hiện đại hôm nay là kẻ sáng
tạo tiền vệ đang đổi mới thơ Việt, đổi mới cách viết và cách đọc, qua đó thúc
đẩy công cuộc giải lãnh thổ hoá deterritorialize, giải quốc gia hoá
denationalize và giải địa phương hóa delocalize văn học. Họ đang có đó, như
một hiện tượng” [35]. Thậm chí Inrasara còn kỳ vọng thơ hậu hiện đại có thể
“làm một cuộc cách mạng cho thơ Việt” [35]. Một số nhà nghiên cứu thì có
cái nhìn toàn diện hơn, một mặt họ thừa nhận những sáng tạo thơ theo lối hiện
đại và hậu hiện đại là những nỗ lực đáng được trân trọng trong hành trình
cách tân thơ Việt, có những tác phẩm thực sự giá trị; mặt khác họ phê phán
những sáng tạo cực đoan đang phá hoại giá trị thẩm mĩ của thơ ca. Tiêu biểu
cho khuynh hướng đánh giá này là các tác giả Nguyễn Đăng Điệp, Lưu
Khánh Thơ, Trần Quang Đạo, Nguyễn Thanh Tâm
2.2. Những vấn đề liên quan đến đề tài
Cảm hứng thế sự, đời tư là một trong cảm hứng chính của thơ ca Việt
Nam từ xưa đến nay; tuỳ vào từng thời kỳ mà hai dòng cảm hứng này hoặc
nổi trội hoặc mờ nhạt so với cảm hứng sử thi. Cảm hứng chủ đạo của văn học
Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng giai đoạn 1945 - 1975 là cảm hứng sử
thi, nhưng sau 1975, đặc biệt là sau đổi mới 1986, cảm hứng thế sự đời tư

sự đời tư cùng với những đăc điểm về hình thức thể hiện thơ giai đoạn này.
Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi, cho đến thời điểm này vẫn chưa
có ý kiến nào bàn về cảm hứng chủ đạo nói chung và cảm hứng thế sự, đời tư
nói riêng trong thơ Việt Nam mười năm đầu thế kỷ XXI. Việc nghiên cứu
cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI là một việc làm
cần thiết để góp phần làm rõ hơn sự vận động của thơ Việt Nam hiện đại.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích

7
Luận văn hướng tới mục đích khảo sát, tìm hiểu những đặc điểm về nội
dung và hình thức nghệ thuật của thơ ca mười năm đầu thế kỷ XXI, từ đó góp
phần nhận diện nền thơ ca Việt Nam đương đại.
3.2. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những tác phẩm, tác giả tiêu biểu
của thơ ca Việt Nam mười năm đầu thế kỷ XXI.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Do số lượng tác phẩm thơ được in ấn và xuất bản trong mười năm đầu
thế kỷ XXI là rất nhiều nên luận văn chú trọng tìm hiểu các tác phẩm tiêu
biểu đã được tuyển chọn trong tuyển thơ Thơ mười năm đầu thế kỷ XXI (2
tập) do Nxb Hội nhà văn phát hành tháng 10 năm 2010 [65]. Khi cần thiết
chúng tôi mở rộng tới một số bài thơ khác (nằm ngoài tuyển thơ trên) nhằm
làm rõ hơn những nhận định của luận văn.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp chủ đạo là:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp xã hội học lịch sử
- Phương pháp hệ thống

được mở rộng. Quốc phòng, an ninh được tăng cường.
Mười năm qua cũng đánh dấu quá trình hội nhập quốc tế mạnh mẽ của
nước ta tiêu biểu là sự kiện gia nhập WTO vào năm 2006. Giao lưu văn hoá
phát triển, văn học nói chung và thơ ca nói riêng được tiếp cận với những trào
lưu nghệ thuật hiện đại của thế giới. Với sự phát triển của các phương tiện
thông tin truyền thông, đặc biệt là mạng Internet, tác phẩm văn học dễ dàng

9
đến với công chúng, đời sống văn học trở nên phong phú, sôi nổi hơn.
Internet đã thay đổi cách viết - công bố - đọc - nghĩ - cảm của người sáng tác
lẫn người đọc. Qua các website, blog cá nhân, các tác giả tự do trình bày
những thử nghiệm mới, từ đó ra đời những khuynh hướng, trào lưu mới trong
văn học. Có một sự thật là: số lượng người in sáng tác và đọc trên mạng là rất
lớn, vượt trội so với văn chương giấy và ngày càng tăng; các cuộc luận bàn
sôi nổi về văn chương cũng phần lớn diễn ra ở trên Internet.
Bên cạnh đó, nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, bất
ổn. Đầu thế kỷ XXI, thế giới lâm vào một cuộc suy thoái kinh tế có quy mô
toàn cầu; ảnh hưởng bởi điều đó tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước giảm
sút rõ rệt. Thảm họa thiên tai do khí hậu biến đổi diễn ra thường xuyên hơn,
mức độ tàn phá khủng khiếp hơn không chỉ ở nước ta mà trên toàn thế giới
khiến loài người phải thực sự suy nghĩ nghiêm túc về sự tồn vong của mình.
Hội nhập quốc tế cũng làm nảy sinh nguy cơ mai một các giá trị văn hóa
truyền thống trước sự xâm thực của văn hóa ngoại lai. Cuối thập niên đầu tiên
của thế kỷ XXI, tình hình biển Đông trở nên vô cùng căng thẳng, chủ quyền
biển, đảo của nước ta bị đe doạ bởi các thế lực bành trướng…
Tất cả những vấn đề xã hội đó có tác động không nhỏ đến cảm hứng
chủ đạo trong thơ Việt Nam mười năm đầu thế kỷ XXI.
1.2. Đời sống thơ ca mƣời năm đầu thế kỷ XXI
1.2.1. Cách tân là vấn đề cấp thiết của thơ ca
Từ giữa thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều người đã nói đến sự

Họ chẳng thấy thiếu gì hết và còn tránh được khối điều phiền toái. Bởi thơ là
một thể loại văn chương vô cùng đáng ngờ, và có đủ lý do để nhắc nhở ta hãy
coi chừng nó.” Ý kiến của Macel Reich Ranicky rõ ràng đã hơi quá. Chúng
tôi cho rằng thơ là một nghệ thuật luôn luôn cần thiết cho loài người, nói như

11
Hoài Thanh “… từ bao giờ đến bây giờ, từ Homère đến Kinh thi, đến ca dao
Việt Nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó đã ra đời
giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến
ngày tận thế” [75, tr. 42]. Vấn đề là ở chỗ làm sao để thơ “chạm” đến được
đời sống tinh thần của xã hội hôm nay, để theo kịp nhu cầu của bạn đọc. Thơ
phải cách tân, đó là vấn đề sống còn của thơ!
Cách tân thơ không chỉ là là đòi hỏi từ thực tiễn đời sống mà còn từ
chính nhu cầu nội tại của thơ. Thơ là một nghệ thuật mà nghệ thuật đồng
nghĩa với sự sáng tạo. Thế nhưng lối viết theo kiểu thơ Mới ra đời cách đây
gần một thế kỷ vẫn còn ảnh hưởng đến tận bây giờ, thậm chí có nhà thơ còn
cho rằng thơ hiện nay chỉ là vệt kéo dài của thơ Mới. Không ai phủ nhận
những thành tựu đột phá của thơ Mới đối với văn học dân tộc, nhưng cái hay
lặp đi lặp lại mãi cũng nhàm. Có một thực tế là những bài thơ giọng điệu đều
đều, du dương không còn thu hút được nhiều độc giả hiện nay.
Xã hội thay đổi, nhu cầu thẩm mĩ cuả con người cũng thay đổi, thơ
cũng cần thay đổi để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ mới ấy. Theo những điều tra
xã hội học của nhóm nghiên cứu đề tài Công chúng và giao lưu quảng bá văn
học thời kỳ đổi mới do PGS.TS. Tôn Thảo Miên làm chủ nhiệm (Viện Văn
học - 2011), sự thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của công chúng về mặt đề tài, chủ
đề được thể hiện khá cụ thể. Các đề tài, chủ đề được nêu ra nhằm khảo sát thị
hiếu của công chúng như đề tài chiến tranh, nông thôn, tình yêu, hôn nhân,
lịch sử, dã sử, trinh thám, viễn tưởng, kinh dị… đã giúp minh định những
diễn trạng thị hiếu thẩm mĩ trong đời sống văn học. Kết quả điều tra ngẫu
nhiên trên 636 đối tượng tại Hà Nội đã cho thấy 65.9% số người được hỏi đã

với sự thôi thúc phải đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ mới của công chúng, cách tân
thơ là nhu cầu nội tại của thơ ca hiện nay

13
1.2.2. Phong trào cách tân và cuộc cách mạng thơ chưa thành
Cách tân thơ Việt hiện đại không phải đến bây giờ mới bắt đầu thực
hiện. Đầu tiên phải kể đến Trần Dần rồi Hoàng Cầm, Thanh Thảo, Nguyễn
Duy, Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng, Đặng Đình Hưng,… họ đã thử
nghiệm cách tân thơ từ thập niên 80 của thế kỷ XX. Sang thế kỷ XXI, thế hệ
các nhà thơ trẻ hơn có một khát khao mãnh liệt tiếp tục sự nghiệp làm mới thơ
của thế hệ tiền bối. Nhiều trào lưu, khuynh hướng sáng tác thơ ra đời làm
không khí thơ trở nên sôi động. Có thể kể đến các trào lưu tiêu biểu sau đây:
Thơ tân hình thức (new formalism poetry), là phong trào thơ do Khế
Iêm khai sinh ở Mĩ vào năm 2000 (chủ yếu đăng ở Tạp chí Thơ, Hoa Kì),
truyền bá sang Việt Nam, được các thi sĩ không chính lưu ở Sài Gòn tích cực
hưởng ứng, tạo không khí thơ sôi động một thời. Trong cuốn tiểu luận có tên
Tứ khúc (bản tự in), Khế Iêm cho rằng, Tân hình thức trong thơ Việt có
những đặc tính chính: cách nói thông thường, vắt dòng, kỹ thuật lặp lại và
tính truyện. Mặc dù Tân hình thức Việt với khát vọng cách tân thành thực,
chủ trương dòng thơ “mang tinh thần Việt, có khả năng hòa giải và tiếp
nhận rất cao, không hề có sự phân biệt giữa dòng này và dòng khác”, “thơ
Tân hình thức bỏ vần, tiếp tục hòa giải với nền văn hóa phương Tây. Và
cũng trong tinh thần hòa giải, giữa truyền thống và tự do, thơ Tân hình
thức Việt là một dòng chảy mới, như tiếng nói của mọi người Việt, tha thiết
với sự chuyển đổi, để có thể đập chung một nhịp đập với cộng đồng thế
giới rộng lớn. Và bởi tính cách bình dân của nó, thơ Tân hình thức có khả
năng chuyên chở tình cảm của mọi con người, phá vỡ tính cao cấp, khó
hiểu…có khả năng lấp đi khoảng cách giữa người đọc và sáng tác” [41],
nhưng đó chỉ là sự tiếp thu sơ sài, tùy tiện thi pháp New Formalism, thậm
chí có những lập luận khá cực đoan và sai lầm. Trong bài Thơ mở rộng

Qua ghép tim heo phổi bò óc ni - lông răng
Giả và đôi tay từ cái thây ma của 1
Thằng mĩ trắng serial killer & da
Mặt là da đít và tứ chi bằng xương bằng

15
Thịt plastic hồng với con mắt cao đài độc
Nhãn & khối óc là một con chíp tôi thảo
Những program hạnh phúc dài hạn cho mai sau
Tôi ngó lại đời mình ôi nó mới tinh ôi
Nó mới tuyệt xinh ôi nó tột đỉnh ôi cám ơn
Ôi danke scho’n herr doctor frankensto’n
(Chỉnh hình mùa phục sinh - Nguyễn Đăng Thường)
Tuy vậy cũng phải thừa nhận rằng, trong thơ Tân hình thức thỉnh
thoảng cũng có những bài thơ hay, câu thơ hay, ý tưởng lạ:
Tôi sống trong ngôi nhà không cửa
Mỗi người đến thăm phải mang theo cửa
Trên lưng. Lắp vào ngồi nói chuyện, xong,
Khi từ biệt họ ra đi cùng với cửa
Sự riêng tư của tôi phụ thuộc vào
Việc viếng thăm của những người này
(Nhà không cửa - Phan Nhiên Hạo)
khát vọng tức tưởi máu xông từ
đầu mắt tay khi đỉnh điểm thái
dương loe lóe những con chữ bỗng
hiển linh thì nắng được tẩm liệm
trong suốt, trong suốt. Trong và suốt!
(Những con chữ nhảy lò cò - Lê Hưng Tiến)
Chỉ tiếc rằng những bài thơ như thế còn quá ít, chưa đủ để thơ Tân hình
thức thu hút được sự quan tâm của bạn đọc.

có một giọng điệu riêng, vẫn là khát vọng muốn thể hiện cái tôi bản lĩnh
nhưng không ồn ào, không nổi loạn, phá phách mà lặng lẽ, âm thầm, quyết

17
liệt “… một cái tôi to đùng / tôi đã đem nhét dưới đáy chiếc ba lô cũ màu xám
xanh / tách khỏi những gương mặt quen / tôi / người lạ / buổi chiều, café vỉa
hè Nguyễn Du / ngồi nghe đường phố thở / nghe mình đang thở.” (Tôi), “mai
mốt người xa rồi / tôi sẽ đổ tuột thành phố vào dòng sông Hàn nguội ngắt”
(Thành phố). Ngoài thơ của các tác giả kể trên, xu hướng nữ quyền xuất hiện
nhiều trong thơ của một số tác giả nữ khác như Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền
Thư, Trang Thanh …
Thơ thị giác (visual poetry) trong đó thơ trình diễn (poetry
performance) là một nhánh nổi bật. Thơ thị giác kết hợp thơ với ảnh chụp, với
hình vẽ, video đã được Đinh Linh, Đỗ Kh., Tam Lệ, Lê Văn Tài thực hiện
từ vài năm trước. Năm 2001, tại quán cafe EraWine - TP Hồ Chí Minh, họa sĩ
Như Huy là người khơi mào cho thơ trình diễn Việt Nam, bằng một màn trình
diễn thơ trước ít khán giả. Mãi năm 2005, Hà Nội mới biết đến loại hình
nghệ thuật mới này qua chương trình Chiều buông đầy những tiếng thở dài
của nhà thơ Dương Tường tại L’Espace (Trung tâm Văn hóa Pháp). Chỉ từ
năm 2007, với sự hỗ trợ đắc lực của Hội đồng Anh, sau đó là Trung tâm văn
hóa Pháp, thơ trình diễn mới rộ lên. Sau đó, qua nỗ lực của các tên tuổi nổi
tiếng như Roger Robinson, Francesca Beard của Anh, Jean-Michel Maulpoix,
André Velter của Pháp kết hợp với các nhà thơ Việt Nam: Nguyễn Vĩnh Tiến,
Dạ Thảo Phương, Vi Thùy Linh, Trương Quế Chi, Ly Hoàng Ly, Nguyệt
Phạm, Phương Lan, Thanh Xuân rồi tại Sân Thơ Trẻ ở Văn Miếu vào năm
2008 và 2009, thơ trình diễn đã tiến những bước đáng kể. Thế nhưng, tìm đâu
sợi dây kết liên giữa nhà thơ trình diễn và khán giả để tương tác trúng tiết tạo
hiệu quả nghệ thuật cao thì vẫn chưa có câu trả lời. Nhìn lại các buổi trình
diễn của các nhà thơ Việt Nam, hầu như không thấy có sự giao lưu giữa nhà
thơ và khán giả. Các nhà thơ chọn thơ/ trình diễn thơ hết sức bản năng và chủ


19
1. Chủ nghĩa hậu hiện đại như là đỉnh cao của chủ nghĩa hiện đại (quan
điểm của Lyotard, Hassan), nói một cách khác nó là “cơn kịch phát của chủ
nghĩa hiện đại”; hay là sự nối dài của chủ nghĩa hiện đại (quan điểm của
Robert Hughes);
2. Chủ nghĩa hậu hiện đại như là sự quay trở về với truyền thống để chống
lại chủ nghĩa hiện đại (Smith, Portoghesi, Lipovetsky ); đặc biệt là trong
kiến trúc và nghệ thuật tạo hình, trong đó có sự kết hợp chiết trung giữa hiện
đại với quá khứ (Christopher Masters);
3. Chủ nghĩa hậu hiện đại như là một sự vượt khỏi chủ nghĩa hiện đại, một
phong trào lai tạp mới và tương phản với chủ nghĩa hiện đại (Jencks,
Koehler ) [8].
Cho dù khái niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại đến nay vẫn còn chưa
thống nhất nhưng trên thực tế đã hình thành quan điểm mỹ học hậu hiện đại.
Quan điểm mỹ học mang những đặc điểm như: xoá nhoà ranh giới giữa nghệ
thuật và đời sống thường ngày; phá bỏ những giai tầng văn hoá quý phái và
văn hoá đại chúng; phủ nhận tính chất nguyên thuỷ của một tác phẩm nghệ
thuật và cho rằng nghệ thuật cũng chỉ là một hiện tượng lặp lại; tính chất kết
dính nhiều mảng kết cấu khác nhau trong cùng một tác phẩm, tựa như một
bức tranh khảm có nhiều chất liệu dị biệt. Nghệ thuật hậu hiện đại cũng có
nhiều điểm tương đồng với quan niệm mỹ học hiện đại, như sự soi rọi nội
tâm, ý thức bản ngã, cách đoạn và không liên tục, tính đồng diễn… Nhưng
ngược lại, thái độ của chủ nghĩa hậu hiện đại trong mỹ học là phi cấu trúc, phi
tâm hoá và từ chối vai trò chủ thể của con người, một sự tiếp nhận, mô tả hiện
tượng không suy diễn, không chú ý đến chiều sâu, không diễn dịch bản chất
sự vật theo chủ quan tác giả; thay vào đó, tác giả cũng tham gia vào một trò
chơi ngoại biểu, tạo ra những đối kháng có tính chất mỉa mai và châm biếm
để người đọc tự tìm thấy trong tác phẩm và nếu cần tác giả sẽ chủ động lôi


như Đông La: “Tinh thần hậu hiện đại đã và đang phảng phất đâu đó trong
văn chương Việt Nam cũng là lẽ thường tình, nhưng không có tài, không hiểu
biết đến nơi đến chốn mà mê muội bắt chước, thì chỉ làm ra được những bản
sao tồi mà thôi. Cũng đã có những nhóm cực đoan đúng là đã làm ra được
văn chương hậu hiện đại thứ thiệt nhưng tiếc là chỉ mới ở dạng thấp nhất của
nó… Có quá nhiều sự thô bỉ, bẩn thỉu, nhầy nhụa và hằn học, thậm chí lưu
manh, trong văn chương “hậu hiện đại” này. Trong văn chương có hỗn loạn,
thô tục, bẩn thỉu, bởi cuộc sống có phần như thế, nhưng coi chúng là “đặc
trưng”, là “thi pháp” thì đã phi lý, phi mỹ, phi luân và cuối cùng là phi nhân
hóa những đặc tính của văn chương”. [42]
Thơ hậu hiện đại chưa tạo ra nhiều thành tựu như người ta mong đợi.
Nhưng thỉnh thoảng cũng xuất hiện một vài thi phẩm vận dụng có chọn lọc
một số thủ pháp hậu hiện đại tạo nên sự mới, lạ và hay, bài thơ Cánh cửa đỏ
của Văn Cầm Hải là một ví dụ, xin trích ra đây một đoạn:
người đồi mồi
hạt điện tử cô độc đất Việt.
đã bàng hoàng phím đàn tiên phong
bình luận biển Đông
vườn tôi đau ngọn sóng khô tràn tre nứa
bầy sói mọc lông ấm thành cổ
bởi mặt đất vắng dần âm tính
thơ lên cõi dương
một bàn tay lạc nốt
cảnh cửa đỏ ngặt nghẽo cảm giác
chúng điềm nhiên mời tôi ly trà đặc nắng
bã mặt trời nghẽn pha cuống họng

Trích đoạn Thơ mở rộng phản ỏnh cỏc hiện trạng xó hội trờn bỡnh diện đạo Niềm tin vào những điều tốt đẹp Hà Nộ i kinh đụ văn hiến nghỡn năm Những suy ngẫm về thơ ca Giọng cảm thương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status