Khuynh hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1955 1964 - Pdf 38

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Văn học Việt Nam giai đoạn 1955 - 1964 nhìn dưới góc độ văn học
sử mang một đặc điểm chung là khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
Đây là khuynh hướng chủ đạo có thể nói bao trùm toàn bộ sự vận động và
phát triển ở nhiều thể loại. Tuy nhiên, nếu quan sát kĩ ta vẫn có thể thấy bên
cạnh khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn ấy, sự tồn tại của một mạch
ngầm chảy song song với dòng chủ lưu là khuynh hướng thế sự đời tư.
Khuynh hướng này từ khi xuất hiện đã được coi như một hiện tượng dị biệt và
chẳng phải ngẫu nhiên nó bị đối xử khá lạnh nhạt, trong đó có một số tác giả
và tác phẩm của họ từng bị đông đảo bạn đọc và giới cầm bút lúc bấy giờ lên
án, phê phán mạnh mẽ.
1.2. Sau năm 1975, khi chiến tranh kết thúc, hòa bình đã lập lại, con
người trở về với đời sống thực tại thường ngày, phải đối diện với bao cam go
thử thách vì yêu cầu của cuộc sống mới, thị hiếu của công chúng thay đổi,
khuynh hướng thế sự đời tư đã trở lại như một nhu cầu tất yếu của văn học,
được đông đảo công chúng đón nhận và giới nghiên cứu đề cao. Thái độ đối
xử khác nhau giữa hai giai đoạn văn học cho cùng một đối tượng khiến nhu
cầu tìm hiểu, thẩm định lại các tác phẩm từng là nghi án văn học thuộc
khuynh hướng nói trên thuộc giai đoạn 1955 - 1964 đã trở nên cần thiết.
Chính vì vậy, chúng tôi muốn vận dụng một số lí thuyết mới trong việc
đọc lại tiểu thuyết mang khuynh hướng thế sự đời tư chặng 1955-1964 với
mục đích cố gắng tạo một cái nhìn khách quan trên cả hai bình diện đóng góp
cũng như hạn chế của hiện tượng này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Những ý kiến tranh luận


Có thể khẳng định những tác phẩm viết theo khuynh hướng thế sự đời
tư trong giai đoạn 1955 - 1964 ngay từ khi ra đời đã gây một hiệu ứng nhiều
chiều từ công chúng thưởng thức cũng như giới cầm bút. Người khen thì ít mà

của tác giả một cách tùy tiện. Tác giả lộ rõ mặt là một tên hề khả ố, bỡn cợt cả
những công việc nghiêm trang nhất của quần chúng, của cách mạng, khiến
khó ai có thể nén nổi sự căm phẫn. Vũ Bão sở dĩ mắc sai lầm lớn là vì anh
hoàn toàn thiếu những lo lắng cần có ở một người viết của giai cấp công
nhân.
Ở cuốn Vào đời – Hà Minh Tuân, nhà phê bình Nguyễn Phan Ngọc
trong bài viết: “Vào đời, một quyển truyện đầy rẫy tư tưởng tư sản phản
động, một khuynh hướng nghệ thuật suy đồi” in trên Tạp chí văn học số 2/
1963 cũng đã phê phán khá mạnh mẽ Hà Minh Tuân khi sa vào “Khách quan
chủ nghĩa”, trực tiếp tấn công vào phong trào thanh niên xung phong tình
nguyện đi sản xuất, đi khai hoang. Mặt khác, nhà phê bình còn cho rằng, tác
giả Vào đời đã cố tình gợi lại những thành kiến sai lầm đối với cuộc đấu tranh
cải cách ruộng đất. Ông còn phân tích và chỉ ra khá kĩ lưỡng khi nội dung
truyện chỉ tập trung moi móc, bêu riếu và bơm to một vài thiếu sót của cách
mạng. Ông khẳng định Hà Minh Tuân đã trắng trợn xuyên tạc hiện tượng xã
hội trong những năm 1957 - 1960 ở nước ta. Và Phan Ngọc cho rằng đó là
một quyển truyện xấu, chống lại nhiều nghị quyết, nhiều chính sách của Đảng
và Nhà nước, đả kích vào cán bộ thuộc nhiều bộ máy của nền chuyên chính
vô sản. Nó reo rắc một khuynh hướng nghệ thuật xấu.


Cùng quan điểm với Nguyễn Phan Ngọc, nhà phê bình Trung Ngôn
trong bài viết “Sai lầm của Hà Minh Tuân trong quyển Vào đời là sai lầm về
lập trường tư tưởng” in trên Tạp chí văn học số 2/1963. Ông nhận định rằng,
Vào đời là một tác phẩm xấu, có hại và non yếu về mặt nghệ thuật.
Từ những bài viết phê bình của các cây bút trên ta thấy được quan điểm
nghệ thuật, cách thẩm định giá trị tác phẩm văn học của một thời đại. Chính
vì những cách nhìn máy móc, khiên cưỡng mang màu sắc lập trường ấy mà
nhiều tác phẩm viết theo khuynh hướng thế sự đời tư phải chịu một sự phán
xét, đánh giá thiếu khách quan; thậm chí, không ít trường hợp, cả tác phẩm

giả trong một giai đoạn văn học nói riêng và tổng thể nền văn học Việt Nam
nói chung.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích
Đề tài nghiên cứu nhằm hướng đến việc khẳng định và minh chứng cho
giá trị của các tác phẩm nêu trên qua hai bình diện về nội dung và những đặc
sắc nghệ thuật. Trên cơ sở đó, chúng tôi đối sánh với các sáng tác trong tổng
thể nền văn học 1945 - 1975 và cả sau 1975 để thấy được giá trị của các tác
phẩm trên. Từ đó, luận văn góp phần thay đổi cách nhìn, cách tư duy cho bạn
đọc và giới nghiên cứu khi tiếp xúc với các tác phẩm này.
4.2. Nhiệm vụ
Từ mục đích nghiên cứu đã nêu trên, luận văn hướng tới các nhiệm vụ
cơ bản sau:
- Chỉ ra được bối cảnh lịch sử - văn hóa - xã hội và vị trí của khuynh
hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1955- 1964;


- Làm sáng rõ khuynh hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết nhìn từ góc
độ nội dung;
- Phát hiện những điểm nhấn trong nghệ thuật tiểu thuyết.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đáp ứng được mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp loại hình
Sử dụng phương pháp nghiên cứu này để làm nổi bật loại hình tiểu
thuyết thế sự đời tư cùng với những đặc trưng cơ bản cũng như các đặc điểm
riêng của nó.
5.2. Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này có tác dụng cung cấp những dữ liệu chính xác tạo cơ
sở cho những kết luận của luận văn. Trên cơ sở đó, người viết sẽ đi phân tích

văn học. Đồng thời, luận văn cũng góp phần làm rõ hơn về mối quan hệ giữa
văn học với hiện thực trên bước đường phát triển của tiểu thuyết Việt Nam.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 3
chương, cụ thể:
Chương 1:
Bối cảnh lịch sử- văn hóa- xã hội và vị trí của khuynh hướng thế sự
đời tư trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1955- 1964
Chương 2:
Khuynh hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết 1955-1964 nhìn từ góc
độ nội dung
Chương 3:


Khuynh hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết 1955-1964 nhìn từ nghệ
thuật
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
BỐI CẢNH LỊCH SỬ - VĂN HÓA – XÃ HỘI VÀ VỊ TRÍ CỦA
KHUYNH HƯỚNG THẾ SỰ ĐƠI TƯ TRONG TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1955 - 1964
1.1. Những biến động trong đời sống xã hội, tư tưởng và văn hóa miền Bắc
giai đoạn 1955-1964.
1.1.1. Những biến động trong đời sống, kinh tế, xã hội miền Bắc giai đoạn
1955-1964
Có thể nói, chặng đường 1955 - 1964 đã mở ra một giai đoạn mới trong
tiến trình cách mạng Việt Nam. Kháng chiến chống Pháp đã kết thúc sau trận
chiến Điện Biên Phủ vang dội. Hiệp định Giơnevơ được kí kết, công nhận nền
độc lập và sự toàn vẹn của chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, ngay sau
khi hiệp định Giơnevơ đươc kí kết (7 - 1954), đất nước ta tạm chia cắt làm hai

Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc xây dựng cuộc sống mới và thu được
những thắng lợi bước đầu.
Công cuộc cải cách ruộng đất (1953 - 1956) đã tác động mạnh mẽ đến
đời sống xã hội. Xóa bỏ chế độ phong kiến - một nhiệm vụ chiến lược và cơ
bản của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được nhanh chóng hoàn thành ở
trung du và đồng bằng. Miền Bắc phá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất, đem lại
ruộng đất và ưu thế chính trị ở nông thôn cho nhân dân, thực hiện “Người cày
có ruộng”. Ước vọng sâu xa của nông dân trong bao thế kỉ đã trở thành hiện


thực, nông dân thực sự làm chủ nông thôn. Đó là sự kiện chưa từng có trong
lịch sử nước ta. Tuy nhiên trong quá trình cải cách ruộng đất, ta đã phạm phải
những sai lầm nghiêm trọng “Sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính
phủ có chỗ thiếu cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc; địch phá hại điên cuồng; một
số cán bộ chưa nắm vững chính sách, chưa thật đi đúng đường lối quần
chúng” [48, 32]. Nguyên nhân sai lầm là không nắm vững những biến đổi về
sở hữu ruộng đất về giai cấp địa chủ và chế độ phong kiến ở nông thôn. Mặt
khác, do không nắm vững đường lối độc lập tự chủ, áp dụng máy móc những
kinh nghiệm của nước ngoài, cường điệu tính chất đấu tranh giai cấp nên
đụng nhầm vào nội bộ nông dân. Đứng trước tình hình ấy Đảng phải lãnh đạo
sửa sai, ngày 08/08/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào nông
thôn và cán bộ, nói rõ thắng lợi và những sai lầm của cải cách ruộng đất.
Người nhấn mạnh: “Trung Ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm
điểm những sai lầm, khuyết điểm ấy có kế hoạch, kiên quyết sửa chữa, nhằm
đoàn kết nhân dân, ổn định nông thôn đẩy mạnh sản xuất” [48, 159 - 160].
Với những thành tựu đã đạt được như trên, miền Bắc cơ bản đã khắc
phục được hậu quả chiến tranh. Đây là thời đoạn lịch sử quá độ chuẩn bị cho
miền Bắc bước vào thời kì lịch sử mới.
Tại Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 111958) đã vạch chủ trương cải tạo thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với
các thành phần kinh tế tư bản tư doanh, tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công và

và điều kiện cụ thể đất nước.
Cùng với xây dựng đời sống kinh tế, đời sống văn hóa có nhiều thay
đổi, trình độ văn hóa được nâng lên. Văn hóa giáo dục đang trên đà phát triển,


nạn mù chữ dần được thanh toán. Các lớp đào tạo đại học, trung học chuyên
nghiệp được mở rộng và nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân, báo chí
thời kì này đã trở thành món ăn tinh thần của đông đảo quần chúng nhân dân.
Đây cũng là điều kiện để văn nghệ sĩ có cơ hội nhận thức đầy đủ hơn về mọi
hiện tượng trong đời sống và dẫn đến mong muốn nhận thức ngày càng đúng
đắn, hoàn chỉnh về con người và xã hội.
1.1.2. Những biến động trong đời sống chính trị, tư tưởng văn hóa miền Bắc
và thế giới
Những năm đầu hòa bình ở miền Bắc Việt Nam cũng là những năm thế
giới có nhiều biến động trong đời sống chính trị văn hóa xã hội.
Trong những năm 1953 - 1957, được sự ủng hộ của Đảng Cộng sản và
đông đảo quần chúng nhân dân, Chính phủ quốc dân các nước đã thi hành
nhiều chính sách tiến bộ. Năm 1955, Inđônêxia là một trong những nước và
lãnh đạo Hội nghị Á-Phi. Tháng 4/1956, Chính phủ Inđônêxia đã hủy bỏ hiệp
ước Lahay. Đầu năm 1957, sắc lệnh quốc hữu hóa các xí nghiệp tư bản Hà
Lan đã được công bố và một số các xí nghiệp, tài sản của bọn tư bản lũng
đoạn Hà Lan đã bị tịch thu và quốc hữu hóa. Đảng Cộng sản đã giành lại
được quyền hoạt động hợp pháp và giữ địa vị xứng đáng của mình trong công
cuộc lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực
phản cách mạng. Từ năm 1957, Tổng thống Xucacno đã thực hiện “Chế độ
dân chủ có lãnh đạo”. Trong những năm 1955-1964, Chính phủ Inđônêxia do
tổng thống Xucacno cầm đầu đã thi hành nhiều chính sách đối nội và đối
ngoại làm cho địa vị của nước Inđônêxia không ngừng được nâng cao trên
trường quốc tế và phong trào cách mạng Inđônêxia cũng mạnh mẽ hơn bao
giờ hết.

nghĩa anh em.


Nối tiếp những sự kiện chính trị ở Liên Xô, Hà Lan cũng có những biến
cố quan trọng, đáng chú ý là ngày 28/6/1956, Hà Lan nổi dậy “Công nhân
xưởng Stalin đã đình công và kéo về trung tâm thành phố”. Khẩu hiệu của họ
là “Chúng tôi đòi bánh mì”. Công nhân các nhà máy khác đã nhanh chóng
hưởng ứng cuộc biểu tình. Cuộc đối đầu giữa công nhân và nhà cầm quyền đã
nổ ra trên đường phố Pozman, có hơn 100 ngàn người đã xuống đường cùng
công nhân các nhà máy tập trung ở quảng trường Lâu đài và họ hô to các chữ
“Tự do”, “Công bằng”, “Đả đảo Liên Xô”. Những người biểu tình đã vào
các trụ sở Đảng công nhân xã hội chủ nghĩa BaLan ở Poznan và xé những lá
cờ đỏ… công cuộc biểu tình sau đó trở thành cuộc bạo động. Sử gia Lukaz
Jastrzab đánh giá rằng: “Người biểu tình thời đó tuy đã bộc lộ ý thức phản
kháng dân sự vô cùng to lớn nhưng cuộc biểu tình đã xuất phát từ chính
nguyên nhân xã hội chứ không phải là một cuộc nổi dậy nhằm chống chính
quyền cộng sản” [47, 26].
Thời kì này ở Hungari cũng nhiều biến động. Ngày 10/11/1956,
Hungari nổi dậy chống chính quyền đương thời vì chế độ này đã không bảo
đảm được quyền tự do dân chủ cho nhân dân. Chính trong quá trình biểu tình,
cuộc tấn công vũ trang vào những cứ điểm chiến lược quan trọng, cuộc bạo
động vũ trang được chuẩn bị trước và nhằm chống lại nền dân chủ nhân dân
đã nổ ra.
Như vậy, năm 1956 có thể coi là năm bản lề đối với toàn bộ khối chủ
nghĩa xã hội. Các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vốn được coi là thành trì
của chủ nghĩa xã hội đang phải đương đầu với những cơn sóng gió. Liên Xô
được xem là anh cả, là niềm tin, là mẫu hình lí tưởng của chủ nghĩa xã hội
nhưng bây giờ lại hiện ra những nhược điểm, những cực đoan, sai lầm dẫn
đến niềm tin vào Đảng Cộng sản có chỗ bị chao đảo lung lay. Đại hội Đảng
Cộng sản Liên Xô với “báo cáo mật” của Khrushchev về tội trạng của Stalin


khách quan hơn và nhận ra thần tượng đã bị hao khuyết, và họ muốn thể hiện
tinh thần đấu tranh cho sự tự do dân chủ qua những sáng tác của mình.
1.2. Vị trí xu hướng thế sự đời tư trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn
1955-1964
1.2.1. Vài nét về đặc điểm văn xuôi mười năm sau kháng chiến chống thực
dân Pháp
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, hòa bình được lập lại,
văn xuôi miền Bắc có bước phát triển mạnh mẽ và khá toàn diện. Sự mở rộng
phạm vi phản ánh hiện thực đời sống là phương diện biến đổi dễ nhận ra trước
tiên ở văn xuôi thời kì này so với giai đoạn trước. Cuộc kháng chiến chống
Pháp vẫn là đề tài thu hút sự chú ý của nhiều cây bút và đã có được nhiều tác
phẩm thành công ngay từ những năm đầu hòa bình: các tiểu thuyết Đất nước
đứng lên của Nguyên Ngọc, Vượt Côn Đảo của Phùng Quán, Một chuyện
chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái, Bên kia biên giới và Trước giờ nổ súng của
Lê Khâm, Phá vây của Phù Thăng, Nhãn đầu mùa của Xuân Tùng và Trần
Thanh... nhiều truyện ngắn của Bùi Hiển, Nguyễn Kiên, Hữu Mai, Nguyễn
Đình Thi và những tập kỉ niệm sâu sắc trong đời bộ đội của nhiều chiến sĩ,
cán bộ. Những sáng tác này đã làm sống lại hình ảnh của cuộc kháng chiến
trường kì và anh dũng của toàn dân ở nhiều địa phương trên nhiều mặt trận,
trong những hoàn cảnh đầy khó khăn, những thử thách nghiệt ngã, những
chiến công to lớn và cả sự hi sinh nhiều khi thầm lặng. Nhiều tác phẩm đã xây
dựng được những hình tượng đẹp và có giá trị điển hình về nhiều tầng lớp, thế
hệ con người Việt Nam kháng chiến mà tiêu biểu là các nhân vật: anh hùng
Núp trong Đất nước đứng lên, chị Tư Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh
viện.
Trong các tác phẩm viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các
biến cố và sự kiện dù trọng đại đến đâu cũng không che lấp các nhân vật mà



thể hiện con đường đi và số phận của nhiều nhân vật đại diện cho những tầng
lớp xã hội trong sự vận động mạnh mẽ của lịch sử với nhiều biến cố to lớn và
dữ dội.
Hướng vào đời sống hiện tại, phản ánh những đổi thay của đất nước và
con người trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới và đấu tranh thống nhất
nước nhà là đề tài đã thu hút nhiều cây bút văn xuôi và đã có những tác phẩm
thành công, gây được tiếng vang trong công chúng văn học đương thời. Cuộc
cải cách ruộng đất diễn ra ở nông thôn miền Bắc trong những năm 1954-1956
với những kết quả và những sai lầm, ấu trĩ, cực đoan của nó, tiếp đó là chủ
trương sửa sai, tất cả đã tạo nên những biến động, xáo trộn ghê gớm trong
cuộc sống và các quan hệ ở nông thôn, để lại những dấu ấn sâu đậm, lâu dài
trong bộ mặt đời sống tinh thần và đời sống nông thôn ở nước ta. Hiện thực
phức tạp ấy còn được phản ánh khá mờ nhạt trong văn học giai đoạn này.
Những sáng tác hồi đầu thiên về cái nhìn một chiều - hướng vào việc tố cáo
tội ác của giai cấp địa chủ phong kiến, đề cao tinh thần đấu tranh, khẳng định
những thắng lợi của cuộc cải cách ruộng đất- thường không tránh khỏi tình
trạng công thức, sơ lược (truyện dài Truyện anh Lục cuả Nguyễn Huy Tưởng,
Bếp đỏ lửa của Nguyễn Văn Bổng, tập truyện ngắn Nông dân với địa chủ của
Nguyễn Công Hoan...). Trong văn xuôi viết về cải cách ruộng đất và sửa sai,
đáng kể hơn cả là một số tác phẩm ít nhiều có cái nhìn chân thực, phản ánh sự
phức tạp của hiện thực ấy, với những thắng lợi và cả sai lầm mất mát (Những
ngày bão táp của Hữu Mai, Sắp cưới của Vũ Bão, Xung đột của Nguyễn
Khải…). Từ năm 1958, nhiều tác phẩm viết về nông thôn trong phong trào
hợp tác hóa nông nghiệp và xây dựng hợp tác xã như tiểu thuyết Xung đột
(phần 2), các truyện Tầm nhìn xa, Người trở về, Chủ tịch huyện của Nguyễn
Khải; Cái sân gạch và vụ lúa chiêm của Đào Vũ; Bão biển của Chu Văn….


Cũng viết về công cuộc xây dựng cuộc sống mới nhưng nhiều tác phẩm lại
tập trung thể hiện sự thay đổi số phận của những người lao động bình thường,

phương diện cộng đồng hoàn toàn phù hợp với yêu cầu cách mạng và tâm lí
thời đại. Chiến tranh đặt ra vấn đề sống còn cho dân tộc, mọi quyền lợi, mọi
ứng xử phải nhìn theo quan điểm “địch - ta”, sự thống nhất muôn người như
một trở thành nguyên tắc tối thượng. Cá nhân tự nguyện hòa tan trong cộng
đồng: “Con đường giải quyết mọi bi kịch, mọi vướng mắc cá nhân là hướng
về cách mạng, về cộng đồng” [38, 46]. Con người được nhận thức và đánh
giá chủ yếu theo tiêu chí giai cấp. Từ những mối quan hệ xã hội chung nhất
đến bản ngã cá nhân đều được nhìn nhận theo chuẩn mực định sẵn. Hiện thực
về con người là cái “Có thể biết trước”. Mặc dù lúc đó văn học cũng đề cao
hiện thực khách quan nhưng có phương diện hiện thực được thừa nhận, có
phương diện bị coi là chủ nghĩa khách quan tư sản. Lợi ích giai cấp và dân tộc
bắt buộc nhà văn phải lựa chọn lập trường miêu tả như vậy.
Tuy nhiên, văn học mười năm từ sau cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp - những năm tạm thời có hòa bình ở miền Bắc từ 1955-1964 đã có
những bước phát triển mới cả về bề rộng và bề sâu. Sau cuộc kháng chiến
thắng lợi, một nửa đất nước được giải phóng, nhân dân ta bước vào khôi phục
đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề và từ nền kinh tế còn kém phát triển,
lựa chọn con đường đi theo chủ nghĩa xã hội. Văn học đứng trước những yêu
cầu đa dạng của xã hội: Một mặt là những nhu cầu tất yếu của con người
trong cuộc sống hòa bình sau hàng chục năm chiến tranh, mặt khác phải tiếp
tục cuộc đấu tranh cho những mục tiêu cách mạng: Thống nhất Tổ Quốc và
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quan niệm về con người trong văn học thời kì này
cũng trở nên đa dạng hơn và không tránh khỏi có cả những khác biệt, trái
ngược giữa những quan niệm khác nhau.


Trung tâm quan niệm con người trong văn học thời kì này là khái niệm
Con người mới. Nếu như văn học những năm chống thực dân Pháp dừng lại ở
quan niệm con người tập thể, chưa chú ý đến những tính cách riêng, nhân vật
chưa tách khỏi những đám đông mà hòa tan vào trong tập thể thì văn học

chung, nằm trong cái chung.
Nhìn chung, văn học của mười năm sau cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp đã thể hiện một kiểu quan niệm về con người được hình thành trong
môi trường xã hội - lịch sử của thời kì quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội theo
mô hình còn giản đơn và mang màu sắc lí tưởng hóa. Từ con người quần
chúng với những hình tượng tập thể trong văn học thời kháng chiến chống
thực dân Pháp đến những hình tương nhân vật mang tính đại diện cho một
tầng lớp, một tập thể mà ở chiều sâu của nó là sự thống nhất riêng chung, là tư
tưởng và lối sống hết mình vì tập thể, vì sự nghiệp chung, đó là bước vận
động của quan niệm nghệ thuật về con người qua hai chặng đường văn học.
Về mặt nghệ thuật thể hiện, văn học những năm 1955-1964 cũng có
nhiều nét mới trong xây dựng hình tượng, tính cách. Nổi lên là hai kiểu hình
tượng nhân vật: Con người riêng tư, nhỏ bé được lớn lên nhờ cách mạng, đi
tới sự hòa nhập đến cuộc đời chung, với tập thể và kiểu nhân vật đại diện cho
những phẩm chất, cho số phận và con đường của giai cấp, dân tộc, thế hệ.
Kiểu xây dựng hình tượng con người mới đã mang lại cho văn học
mười năm sau cách mạng những diện mạo mới mẻ. Ở đây cái riêng tư đã
được đề cập tới mặc dù số lượng còn ít ỏi nhưng cũng đã phần nào làm thay
đổi cách nhìn nhận trong mối liên cảm với hiện thực khách quan của nhà văn.
1.2.3. Khuynh hướng thế sự đời tư và vị trí của nó trong tiểu thuyết giai đoạn
1955-1964


Chiến tranh đã tạm thời đi qua, cuộc sống thời bình trở lại thì con
người cũng dần trở về với các mối quan hệ thế sự và nhu cầu của đời sống
riêng tư. Phản ánh đời sống trong các quan hệ hàng ngày cũng như đời sống
cá nhân của mỗi con người trở thành mối quan tâm lớn của văn học nói chung
cũng như của văn xuôi nói riêng. Khuynh hướng thế sự đời tư thực chất đã
xuất hiện rất sớm ngay từ những năm đầu của công cuộc hiện đại hóa văn học
qua một số tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách, Nhất Linh, Khái Hưng... Tuy

hơn bao giờ hết. Nhà văn bắt buộc phải đi theo mô hình đã được rập khuôn
sẵn có. Vậy nên, nếu có một tác phẩm nào đó đi ngoài luồng thì sẽ bị lên án
gay gắt. Chính vì lẽ đó mà trong giai đoạn này ta thường bắt gặp những kiểu
hình tượng nhân vật sử thi như chị Sứ trong Hòn Đất của nhà văn Anh Đức,
chị Tư Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái, anh hùng
Núp trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc,…tất cả đều tái hiện lên bức
tranh lịch sử của dân tộc ta.
Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa văn học và hiện thực thì bản chất
của văn học là sáng tạo dựa trên nền hiện thực khách quan. Qua lăng kính của
nhà văn được khúc xạ dưới tác phẩm, ta như được đắm mình vào một thế giới
nhân sinh thu nhỏ mà ở đó con người được khai thác một cách tuyệt đối dưới
mọi khía cạnh của đời sống. Thông qua tác phẩm, những sinh hoạt hàng ngày
cho đến những khát khao thầm kín nhất cũng được nhà văn trân trọng nâng
niu. Trong văn học sử thi, ta không hề thấy hình tượng con người được khai
thác theo cái nhìn đa chiều như vậy. Họ bước ra tác phẩm trong một hoàn
cảnh ĐAU THƯƠNG rồi hướng tới ÁNH SÁNG dưới sự nhào nặn gọt giũa
của nhà văn. Ở đó, con người luôn là hiện thân của những lí tưởng cao đẹp,
họ sống với tình yêu của đất nước, của cộng đồng chứ không vì sống với
những tình cảm riêng tư. Chính vì lẽ đó mà nền văn nghệ kháng chiến đã


dựng nên được một lầu sử thi cách mạng nhưng cũng không vì thế mà khỏa
lấp đi được tính đơn giản xuôi chiều trong việc xây dựng- tái hiện bức tranh
đời sống và hình tượng con người trong tác phẩm.
Chiến tranh đã qua đi, cuộc sống thời bình luôn là khoảng thời gian tĩnh
lặng nhất để nhà văn chiêm nghiệm về cuộc đời, về lẽ sống. Họ không thể cứ
mãi viết theo những gì mà Đảng nói, làm theo những gì mà Đảng giao. Bằng
cách này hay cách khác, họ luôn bộc lộ tinh thần yêu nước của mình. Hơn thế
nữa, trong vai trò của một người nghệ sĩ chân chính, họ luôn muốn tìm tòi và
bứt phá những gì đang có sẵn để tạo ra một “dấu vân tay” riêng cho mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status