Khuynh hướng thế sự trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1975 đến 1985 - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU THỦY KHUYNH HƢỚNG THẾ SỰ
TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1975- 1985 NGUYỄN THỊ THU THỦY KHUYNH HƢỚNG THẾ SỰ
TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1975- 1985
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phan Trọng Thưởng Nguyễn Thị Thu Thủy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất cứ công trình nào khác.

Thái Nguyên, ngày 3 tháng 4 năm 2013
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Thủy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2.1.4. Những chuyện đời thường, vụn vặt 54
2.1.5. Cảm hứng nhân đạo. 57
2.2. Các dạng thức nghệ thuật quen thuộc 61
2.2.1. Dạng thức các xung đột. 61
2.2.2. Dạng thức tự chiêm nghiệm, triết lý. 64
2.2.3. Dạng thức đời tư, đời thường, những mảnh đời bất hạnh. 67
CHƢƠNG 3: NHỮNG THÀNH TỰU NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU. 69
3.1. Nghệ thuật xây dựng kết cấu cốt truyện. 69
3.2. Nghệ thuật trần thuật. 73
3.2.1. Trần thuật từ nhiều điểm nhìn . 73
3.2.2. Sự đa thanh trong giọng điệu trần thuật. 76
3.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 79
3.3.1. Sự xuất hiện kiểu nhân vật mới. 79
3.3.2. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình, hành động. 81
3.3.3. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật. 83
3.4. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ. 85
3.4.1. Ngôn ngữ đậm chất hiện thực: 85
3.4.2. Ngôn ngữ mang đậm cá tính nhân vật và cá tính nhà văn. 87
3.4.3. Yếu tố thông tin và tính triết luận. 88
PHẦN KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Ở khuynh hướng thế sự, nhiều tác phẩm đã dành sự quan tâm cho thời hậu
chiến như quá trình hòa hợp dân tộc, từ bỏ các thói quen trong thời chiến để
hòa nhịp với cuộc sống thời bình, những vấn đề đạo đức mới xuất hiện trong
quan hệ thường nhật, phổ biến….Một số tác giả đã đề cập kịp thời những vấn
đề nảy sinh trong buổi giao thời đó của đất nước. Góp phần tạo nên hướng mới
của văn học, chúng ta phải kể đến Nguyễn Minh Châu- với tiểu thuyết Miền
cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những người từ trong rừng ra
(1982), đặc biệt là với tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành
(1983), Bến quê (1985)- Nguyễn Minh Châu xứng đáng là người “mở đường
tinh anh và tài năng” đã đi được xa nhất” ở chặng đầu này. Ngoài ra, một loạt
các tác giả khác (Nguyễn Khải với tiểu thuyết Cha và con và…(1979), Gặp gỡ
cuối năm (1982), Thời gian của người (1985); Nguyễn Mạnh Tuấn với
Những khoảng cách còn lại (1980), Đứng trước biển (1982), Cù lao tràm
(1985); Ma Văn Kháng với Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn
(1985)…) đã cùng đem đến một diện mạo mới mẻ cho văn học nước nhà.
Nhìn chung, văn học thời kì này đã bứt ra khỏi những mô típ đề tài quen
thuộc từ giai đoạn trước, mở ra hướng tiếp cận mới với hiện thực nhiều mặt,
nhất là cái hiện thực đời thường với nhiều vấn đề thế sự nổi cộm, nhức nhối.
Thậm chí, có những vùng phản ánh bị coi là cấm kị trong chiến tranh cũng
được đưa vào trong văn học. Những tác phẩm có ý nghĩa tiên phong ấy đã
giúp văn học xích lại gần hơn với đời sống. Đặc biệt khi chú ý mối quan tâm
tới “cái thường ngày”, các nhà văn tỏ ra rất nhạy cảm trước những chuyển
động sâu xa trong đời sống tâm lí thời bình. Những điều như trên cho thấy,
khuynh hướng thế sự là một vùng khám phá đầy bí ẩn và hấp dẫn của tiểu
thuyết thời kì hậu chiến.

cứu. Tác giả luận văn không kì vọng nhiều chỉ mong muốn góp một phần nhỏ
bé vào công việc nghiên cứu một phương diện trong một giai đoạn văn học
quan trọng của nền văn học nước nhà.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những bài nghiên cứu, những ý kiến có đề cập đến khuynh hướng thế
sự trong văn xuôi sau 1975 nói chung và tiểu thuyết 1975- 1985 nói riêng.
Mười năm sau chiến tranh, văn xuôi được đánh giá là loại hình văn học
phát triển và có những thành tựu đáng kể ở cả thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
và ký. Chính vì thế, giai đoạn này đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà
nghiên cứu, phê bình văn học. Chúng tôi nhận thấy có khá nhiều ý kiến, bài
viết nghiên cứu về văn xuôi sau 1975 nói chung, về tiểu thuyết 1975- 1985
nói riêng trong đó có đề cập đến khuynh hướng thế sự. Những bài viết đó tập
trung ở các công trình như: Văn học 1975- 1985, tác phẩm và dư luận (Nxb
Hội nhà văn, 1997), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, những vấn đề lịch sử và lí
luận (Nxb Giáo dục, 2004), Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề
nghiên cứu và giảng dạy (Nxb Giáo dục, 2009)
Trong bài “Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lịch sử văn học Việt
Nam từ sau 1975”, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long đã phân loại văn xuôi
thành các khuynh hướng chính là khuynh hướng sử thi, khuynh hướng
nhận thức lại, khuynh hướng thế sự đời tư và khuynh hướng triết luận.
Đồng thời, tác giả cũng phác họa những nét lớn của sự đổi mới biểu hiện qua
sự mở rộng quan niệm về hiện thực, sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con
người, đổi mới nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ, giọng điệu. Từ đó, nhà
nghiên cứu đã đặt ra vấn đề rất có ý nghĩa là muốn hình dung chính xác và
đầy đủ về diện mạo và đặc điểm của văn xuôi thì còn cần làm rõ hơn các

khuynh hướng thế sự đã nhen nhóm trong tiểu thuyết giai đoạn này song lại thể
hiện nổi bật hơn cả ở hai tập truyện ngắn “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành” và “Bến quê”. Với các tác giả như Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Khải, Ma
Văn Kháng,…khuynh hướng thế sự biểu hiện rõ rệt trong tiểu thuyết của họ.
Chúng tôi nhận thấy những bài viết, những ý kiến đánh giá về các tác giả này rất
nhiều. Đặc biệt đáng chú ý là ý kiến của các nhà phê bình, nhà nghiên cứu, các
nhà văn như Phong Lê, Vân Thanh, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Thiếu
Mai, Hoàng Như Mai, Lã Nguyên, Tôn Phương Lan, Lê Kim Vinh, Huỳnh Như
Phương, Nguyễn Tri Nguyên, Vũ Quần Phương, Trần Đăng Suyền, Trần Cương,
Ngọc Trai, Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Nguyên Ngọc, Vương Trí Nhàn, Đỗ
Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Long, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn
Bích Thu… Sự tiếp cận, đánh giá của các nhà nghiên cứu cũng rất đa dạng. Có ý
kiến khen ở mặt này nhưng chê ở mặt khác. Nhưng các ý kiến đều thừa nhận
sáng tác của những nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma
Văn Kháng… đã đốt lên nhiệt tình tìm kiếm chân lí, báo trước khả năng tự đổi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
mới của nền văn học Việt Nam khi nó dám sòng phẳng với quá khứ, bất chấp trở
lực ngăn cản [29\343].
Qủa thực, là những người đi tiên phong trong hành trình đổi mới, các tác
giả trên đã có nhiều đóng góp tích cực tạo nên những chuyển biến rõ rệt của văn
học nhưng cũng khó có thể tránh khỏi những hạn chế nhất định. Mặc dù vậy,
những nỗ lực của họ đã được ghi nhận và không ai có thể phủ nhận công lao
khai phá, mở đường của họ trong một chặng đường mới của văn học nước nhà.
Như vậy, qua các bài nghiên cứu, bài báo, chúng ta có thể thấy văn xuôi
sau 1975 nói chung, tiểu thuyết 1975- 1985 nói riêng có sự xuất hiện khá nổi
bật của khuynh hướng thế sự. Vấn đề là phải đi sâu nghiên cứu làm rõ những

Ở phạm vi hẹp hơn, trong luận văn “Bước đầu tìm hiểu một số đặc điểm
tiểu thuyết Nguyễn Mạnh Tuấn” (Đại học Sư phạm Hà Nội, 198?), tác giả
Nguyễn Quốc Khánh đã giúp chúng ta nhận thấy những đổi mới cơ bản của
tiểu thuyết Nguyễn Mạnh Tuấn so với tiểu thuyết giai đoạn trước. Đó là tác
giả đã đi thẳng vào những vấn đề thời sự nóng bỏng của đời sống. Ngôn ngữ
tiểu thuyết của ông thì đơn giản, dễ hiểu nhưng cũng giàu tính chất triết
luận…Đây chính là những biểu hiện của tiểu thuyết sáng tác theo khuynh
hướng thế sự. Sự nghiên cứu về một tác giả như thế chính là một minh chứng
cụ thể nhất cho thấy rõ sự chuyển biến sâu sắc của văn học giai đoạn này.
Có thể nói, những luận án, luận văn, công trình khoa học của những
người đi trước bước đầu đã hé mở cho thấy sự chuyển biến của văn học từ
khuynh hướng sử thi sang khuynh hướng thế sự. Những nghiên cứu này chính
là nguồn tư liệu quý giá để chúng tôi đi sâu nghiên cứu làm rõ hơn những
biểu hiện và những thành tựu của khuynh hướng thế sự trong chặng đường
đầu của văn học thời kì đổi mới qua một thể loại tiêu biểu.
Như vậy, qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu bao gồm các cuốn
sách, các bài báo, các ý kiến trong cuộc trao đổi, thảo luận, các cuộc hội thảo
và một số luận văn, luận án đã có, chúng tôi nhận thấy nhìn chung việc nghiên
cứu tiểu thuyết 1975- 1985 đã lật xới lên được nhiều vấn đề, đặc biệt các bài
viết đã có đề cập đến sự xuất hiện của vấn đề thế sự trong tiểu thuyết giai
đoạn 1975- 1985 nói chung và trong các tác phẩm cụ thể của một số tác giả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
tiêu biểu nói riêng. Tuy nhiên, các ý kiến khi nhắc đến khuynh hướng thế sự
trong tiểu thuyết mới chỉ dừng lại ở mức điểm báo hoặc những phác thảo sơ
bộ. Có thể nói, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, sâu sắc
khuynh hướng thế sự trong tiểu thuyết giai đoạn 1975- 1985.

Trong quá trình thực hiện, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
5. Đóng góp của luận văn
Với những phát hiện, nghiên cứu này, người viết hy vọng kết quả của đề
tài sẽ góp phần thuận lợi cho việc tìm hiểu khuynh hướng thế sự trong tiểu
thuyết giai đoạn 1975- 1985 đối với giới giáo viên phổ thông, sinh viên, học
sinh và phần nào gợi ý cho người đọc yêu thích tiểu thuyết Việt Nam hiểu
hơn một giai đoạn của tiểu thuyết nước nhà. Hy vọng rằng, luận văn này sẽ
trở thành một tư liệu hữu ích cho tất cả những ai quan tâm đến tiểu thuyết
Việt Nam giai đoạn 1975- 1985 nói riêng, tiểu thuyết Việt Nam nói chung.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn chia làm ba chương:
Chương 1: Tiền đề lịch sử thẩm mĩ nảy sinh khuynh hướng thế sự.
Chương 2: Đặc điểm và những dạng thức nghệ thuật của khuynh hướng
thế sự.
Chương 3: Những thành tựu nghệ thuật tiêu biểu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1:
TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ THẨM MỸ NẢY SINH KHUYNH HƢỚNG
THẾ SỰ
1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội.
1.1.1. Tình hình đất nước sau chiến tranh.

Việt Nam và sự chống phá cách mạng của các thế lực thù địch. Đặc biệt, cuộc
chiến tranh giải phóng đã kết thúc nhưng tiếng súng vẫn nổ ra ở biên giới phía
Bắc và Tây Nam của Tổ quốc. Chiến trường Campuchia vẫn còn những cuộc
tàn sát đẫm máu.
Những khó khăn chồng chất đó đã đẩy nước ta rơi vào tình trạng khủng
hoảng kinh tế- xã hội nặng nề, nhất là ở nửa đầu những năm 80. Đến giữa
thập kỉ đó thì sự khủng hoảng ngày càng trở nên trầm trọng. Nhà văn Nguyễn
Khải nhận xét hiện trạng xã hội lúc này là: ngổn ngang, bề bộn bóng tối và
ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động bất ngờ [38/70].
Có thể nói, cuộc chiến tranh đã khép lại nhưng một chiến trường mới lập
tức mở ra trên chiến trường cũ. Nhiệm vụ của dân tộc ta lúc này là hết sức
nặng nề như nhà văn Nguyễn Minh Châu phát biểu: Bước ra khỏi một cuộc
chiến tranh cũng cần thiết phải có đầy đủ trí tuệ và nghị lực như bước vào
một cuộc chiến tranh [13\120]. Toàn Đảng, toàn dân ta đã xác định cần phải
nỗ lực chung sức chung lòng đưa đất nước vượt qua khó khăn, thử thách để
xây dựng, gìn giữ và bảo vệ đất nước.
1.1.2. Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, hoàn thành
thống nhất về mặt nhà nước, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Chiến tranh đã đi qua nhưng mất mát, đau thương thì vẫn còn ở lại. Việc
khắc phục hậu quả của hai cuộc chiến tranh, khôi phục kinh tế, hơn nữa cần
hoàn thành thống nhất về mặt nhà nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
hoàn cảnh muôn vàn khó khăn như nước ta không phải là một công việc đơn
giản. Nhưng đó là yêu cầu cấp bách để nhân dân ta gìn giữ nền độc lập và xây
dựng, phát triển đất nước của mình.
Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách của thời hậu chiến và
những yếu tố khác như thời tiết thất thường, thiên tai dồn dập…nhưng miền Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội sẽ gắn liền với việc thực hiện
những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước.
Tiếp đó, các Đại hội toàn quốc lần thứ IV, lần thứ V của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong các năm 1976, 1982 đã vạch ra những đường lối để đưa đất
nước đi lên chủ nghĩa xã hội thông qua việc thực hiện các kế hoạch Nhà nước 5
năm 1976- 1980 và 1981- 1985. Việc thực hiện những kế hoạch này đã đạt
được những thành tựu nhất định ở nhiều mặt tuy nhiên vẫn còn tồn tại rất nhiều
hạn chế, bất cập. Vì thế, cuộc sống sau chiến tranh vẫn vận hành một cách khó
nhọc, đầy khó khăn, phức tạp. Kinh tế vẫn rơi vào tình trạng khủng hoảng. Đời
sống của nhân dân vẫn còn bộn bề những khó khăn. Nhiều lao động chưa có
việc làm. Mặt khác, trong xã hội nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực. Một số
cán bộ có hành vi lộng quyền, tham nhũng nhưng chưa bị trừng trị nghiêm
khắc, kịp thời. Công bằng xã hội bị vi phạm. Tất cả những điều ấy đã tác động
sâu sắc và làm lay động dữ dội suy nghĩ và và niềm tin của mọi tầng lớp nhân
dân. Quả thực, Chiến tranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh giản dị của
nó. Hòa bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những
gió xoáy bên trong. Nhiều người không chết trong nhà tù, trên trận địa trong
chiến tranh mà lại chết trong ao tù trưởng giả khi cả nước đã giành được tự do
và độc lập [53/14].
Tất cả những thực tế gian nan của thời hậu chiến đã đè nặng lên cuộc
sống của nhân dân ta. Nhưng với sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của một dân
tộc đã có mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, chúng ta vẫn kiên trì và
từng bước đưa đất nước vượt qua khó khăn thử thách để phát triển.
1.1.3. Đấu tranh bảo toàn lãnh thổ Tổ quốc.
Ba mươi năm chìm trong khói lửa chiến tranh ác liệt, đất nước vừa được
độc lập tự do, nhân dân ta chưa được tận hưởng niềm vui chiến thắng lại phải

cho phù hợp với thời đại mới.
1.2. Bối cảnh văn học.
Dấu mốc 1975 đánh dấu sự sang trang của lịch sử đất nước ta. Rời bỏ
cuộc sống bất bình thường của chiến tranh, chúng ta trở lại cuộc sống bình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
thường của thời bình với bao mới mẻ, bỡ ngỡ. Hòa chung vào không khí của
cả dân tộc, văn học cũng đã có sự vận động, biến đổi để theo sát những vấn đề
nóng bỏng của đời sống.
Thời chiến tranh, do yêu cầu của lịch sử, văn học chủ yếu mang khuynh
hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Bởi lẽ, là con đẻ của cách mạng và
những cuộc chiến tranh lớn, văn học trước 1975 không thể không mang
những đặc điểm của văn học thời chiến. Chiến tranh và cách mạng bao giờ
cũng có nhu cầu đặt lên trên hết vấn đề chúng ta và chúng nó, vấn đề cộng
đồng dân tộc và lịch sử [29/340].
Khuynh hướng sử thi đã chi phối hầu hết các sáng tác thuộc đủ mọi thể
loại văn học. Nó không chỉ thể hiện trong tiểu thuyết mà còn ở truyện ngắn và
kí. Nó cũng thấm sâu vào thơ trữ tình, vào kịch bản sân khấu. Khuynh hướng
sử thi chi phối tới việc lựa chọn đề tài, chủ đề, xây dựng hình tượng nhân vật
và thậm chí chi phối cả đặc điểm kết cấu tác phẩm, nghệ thuật trần thuật trong
văn xuôi và cái tôi trữ tình trong thơ.
Đấy là thời kì văn học của những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa lịch sử,
của chủ nghĩa yêu nước và anh hùng cách mạng. Vận mệnh của Tổ quốc đang
đứng trước những thử thách gay gắt. Cả dân tộc muôn người như một sát cánh
bên nhau trong cuộc chiến đấu vì lí tưởng chung của cả dân tộc. Vì thế, nền văn
học của giai đoạn lịch sử ấy không thể là tiếng nói của những số phận cá nhân
mà phải là tiếng nói của cả cộng đồng dân tộc và nhân dân. Những chủ đề bao

phù hợp với xu hướng mới của thời đại.
Trong bối cảnh ấy, văn học đã trải qua những trăn trở vật vã, tìm tòi
thầm lặng cho một cuộc chuyển mình. Sự chuyển đổi ấy còn xuất phát từ yêu
cầu nội tại của chính nền văn học. Đó là sự phát triển của tư duy nghệ thuật ở
một trình độ mới để tạo cho văn học một diện mạo mới.
Sự vận động của văn học giai đoạn này thể hiện trên nhiều phương diện
nhưng trước tiên phải kể đến là sự chuyển đổi về khuynh hướng sáng tác.
Khuynh hướng sử thi tiếp tục mạch chảy của nó trong một số sáng tác, tuy
nhiên càng về sau, khuynh hướng này càng có xu hướng thu hẹp lại nhường
chỗ cho sự phát triển của khuynh hướng thế sự. Đến đầu những năm 80,
khuynh hướng thế sự dần trở thành khuynh hướng chính trong văn học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Ngay sau ngày giải phóng, một số nhà văn, nhà thơ đã quan tâm đến
các vấn đề thế sự. Nhà văn Thái Bá Lợi là một ví dụ. Với Hai người trở lại
trung đoàn (1976), Thái Bá Lợi chính là người mở đường báo hiệu cuộc đấu
tranh phức tạp chống lại sự xói mòn đạo đức của con người. Nhà văn Nguyên
Ngọc nhận xét tác phẩm này đã báo hiệu tuy còn mơ hồ về một cái gì như là
mầm mống, một thứ tiền thân của một kiểu người cơ hội chủ nghĩa, một trong
những kiểu người vừa khó nhận dạng vừa rất nguy hiểm, và cũng có ý nghĩa
báo hiệu cuộc đấu tranh phức tạp chống các loại tiêu cực đó. Đây không phải
là sự thất tín trừu tượng mà là sự khô chết của tâm hồn trước cám dỗ của
quyền lực và vật chất, là sự thờ ơ trước số phận của bạn hữu [52]. Nhưng
người “mở đường tinh anh và tài năng” đã đi được xa nhất ở chặng đầu này
phải kể đến là Nguyễn Minh Châu. Hai cuốn tiểu thuyết Miền cháy và Lửa từ
những ngôi nhà cùng xuất bản năm 1977 của Nguyễn Minh Châu đã mang
đến một sắc diện mới trong sáng tác của nhà văn. Hai cuốn tiểu thuyết này có

nắm bắt, khám phá và phản ánh kịp thời. Vấn đề cấp bách đặt ra lúc này là
văn học phải vận động, chuyển mình để phù hợp với thời đại.
Vào cuối những năm 70 đã xuất hiện nhu cầu nhìn lại giai đoạn văn học
trước đó, chỉ ra những giới hạn của nó và đã manh nha hình thành những
bước đi mới. Trước hết, đề tài chiến tranh vẫn thu hút sự chú ý của giới cầm
bút và công chúng bạn đọc nhưng các tác giả đã có những tìm tòi hướng khai
thác mới. Chẳng hạn, trong bộ tiểu thuyết hai tập Đất trắng (1979), Nguyễn
Trọng Oánh đã gây được sự chú ý trong dư luận khi một mặt tái hiện được
một giai đoạn đầy khó khăn, gian khổ của thời kì sau cuộc Tổng tiến công
năm Mậu Thân (1968), mặt khác, quan trọng hơn, tác giả đã chú ý diễn tả
những tác động nhiều mặt của hoàn cảnh chiến tranh đến tính cách và con
đường đi của các nhân vật, kể cả những tác động tiêu cực. Quan sát văn học
viết về đề tài chiến tranh sau 75 chúng tôi nhận thấy, nhu cầu nhìn lại nền văn
học thời chiến tranh để đánh giá đúng những thành công và nhất là chỉ ra
những hạn chế của nó để vượt qua đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà
văn, nhà lí luận phê bình văn học. Nhu cầu đổi mới văn học đã dần trở thành
đòi hỏi chung của cả giới sáng tác, lí luận và cả công chúng yêu văn học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
Bằng những tìm tòi, thể nghiệm trên cả sáng tác và hoạt động lí luận, phê
bình, văn học đã hình thành từng bước một tư duy nghệ thuật mới, trên cơ sở
đổi mới toàn diện các quan niệm về văn chương, về công chúng văn học.
Nhiều vấn đề cốt lõi cơ bản của quan niệm văn học trước đó vốn xem là
những chân lí hiển nhiên thì bây giờ cũng đòi hỏi phải được xem xét lại.
Nhiều vấn đề đã trở thành đề tài tranh cãi, bàn thảo khá sôi nổi cả trong và
ngoài giới văn học như: Văn học và hiện thực, văn nghệ và chính trị, chủ
nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status