BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG THỊ HẠNH
THỂ TÀI KÝ SỰ CHIẾN TRANH
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1945 - 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Nghệ An, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG THỊ HẠNH
THỂ TÀI KÝ SỰ CHIẾN TRANH
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1945 - 1975
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. BIỆN MINH ĐIỀN
Nghệ An, 2015
các trận đánh, các chiến dịch của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mĩ. Ký sự phản ánh nhiều mặt của hiện thực đời sống
gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc ta trong công cuộc chống giặc ngoại
xâm giành lại độc lập và thống nhất đất nước. Bên cạnh những kỳ tích,
chiến công, ký sự đồng thời cũng thể hiện những hy sinh, mất mát, đau
thương của những người lính, sự tàn bạo của kẻ thù,… Dòng ký sự chiến
tranh ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt ấy mang đậm cảm hứng lịch sử dân
tộc với âm điệu hùng tráng, lãng mạn đã thực sự khẳng định vị trí của
mình, xứng đáng là “đội quân xung kích” của văn học thời kỳ chiến tranh.
Thực hiện đề tài này chúng tôi sẽ có điều kiện tìm hiểu sâu hơn những đặc
điểm của ký sự chiến tranh cũng như những thành tựu và quy luật vận động
của thể loại kí trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975.
1.3. Từ trước đến nay (thời điểm người làm luận văn), hầu hết các bài
viết, bài nghiên cứu chỉ nêu lên những đánh giá chung về thể loại kí hoặc
một số bút kí, tùy bút của một số tác giả tiêu biểu như Nguyễn Tuân,
Hoàng Phủ Ngọc Tường,… Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về
thể tài ký sự chiến tranh trong văn học Việt Nam 1945 – 1975. Mặt khác,
công tác giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống yêu nước cho thế
hệ trẻ hôm nay và mai sau, đặc biệt qua con đường văn học nghệ thuật
(trong đó có sự tham gia của các tác phẩm ký sự chiến tranh) có vai trò
quan trọng đặc biệt.
Việc thực hiện đề tài này không chỉ có ý nghĩa góp thêm tiếng nói
khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của ký sự chiến tranh giai đoạn
5
1945 – 1975, mà còn có ý nghĩa thực tiễn, trước hết là giúp cho người viết
luận văn trong công tác chuyên môn, giảng dạy văn học trong nhà trường
phổ thông.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn Thể tài ký sự chiến tranh
càng phát triển mạnh mẽ và gặt hái được nhiều thành công. Thể loại ký
ngày càng được độc giả quan tâm cả trên hai phương diện lý thuyết và thực
tiễn sáng tác.
Theo Từ điển văn học (bộ mới), ký là “Thể văn tự sự viết về người thật,
việc thật, có ý nghĩa thời sự, trung thành với hiện thực ở mức cao”[17, 47].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Ký là “một loại hình văn học trung
gian, nằm giữa báo chí và văn học gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự
như bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật kí, tùy bút…”[12, 162].
Trong cuốn này các tác giả nhấn mạnh vai trò tôn trọng sự thật của thể loại
ký. “Nhà văn viết ký luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực
đời sống được phản ánh trong tác phẩm”[12].
Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học xác định: “Ký là tên gọi
chung của một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài
văn học (báo chí, ghi chép…), chủ yếu là văn xuôi tự sự” [3, 179].
Theo Hà Minh Đức trong cuốn giáo trình Lý luận văn học, “Ký không
phải là một thể loại đồng nhất mà bao gồm nhiều hình thức ghi chép, miêu
tả và biểu hiện về cuộc sống trong văn xuôi từ ký sự, phóng sự, bút ký, du
ký đến nhật ký, tùy bút, tiểu phẩm văn học, bút ký chính luận”[9, 190].
Căn cứ vào những cơ sở khác nhau, giới nghiên cứu đã đưa ra những
ý kiến đánh giá khác nhau về các thể ký. Có người căn cứ vào phương thức
biểu hiện và chất liệu kết cấu để chia ký thành ba loại: ký tự sự, ký trữ tình
và ký chính luận. Lại có người căn cứ vào bút pháp và đối tượng được phản
ánh để chia ký thành hàng chục tiểu loại như: phóng sự, ký sự, tùy bút, bút
ký, hồi ký, nhật ký, du ký, chính luận, tản văn…
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều quan niệm khác nhau về ký và các
thể ký. Dù đứng ở góc độ nào các nhà nghiên cứu cũng khẳng định những
biểu hiện của đời sống có thật. Ký phản ánh những vấn đề, sự kiện, con
7
8
văn bản viết bằng dao, đúc trên bia và chuông khánh. Đến thể kỷ XV, ký
bắt đầu thể hiện dưới dạng các văn bản bằng chữ Hán. Từ thế kỷ XVIII,
đặc biệt là thế kỷ XIX ký mới thực sự ra đời như Thượng kinh ký sự, Vũ
trung tùy bút…
Đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Tám, ký giữ một vai trò quan trọng.
Nhiều tác phẩm ký lần lượt xuất hiện góp phần tạo nên bộ mặt đa dạng của
đời sống văn học: Việc làng, Tập án cái đình - Ngô Tất Tố, Ngõ hẻm ngoại
ô - Đình Lạp, Tôi kéo xe, Tam Lang - Vũ Trọng Phụng… Trong văn học
cách mạng, thể loại ký bắt đầu từ sáng tác của Nguyễn Ái Quốc những năm
20 của thế kỷ XX. Sau Cách mạng tháng Tám đến nay có nhiều tác phẩm
ký có giá trị: ký sự của Trần Đăng, Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy
Tưởng, Trận Thanh Hương của Nguyễn Khắc Thứ, các tác phẩm ký sự của
Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Hoàng Phủ Ngọc Tường..., những tác phẩm ấy
đã phản ánh kịp thời, nhiều mặt của hiện thực bộn bề nhưng phong phú.
Bước vào công cuộc chống Mĩ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã
hội, ký luôn có mặt hàng đầu, trở thành vũ khí xung kích: Họ sống và chiến
đấu (Nguyễn Khải), Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Chúng tôi ở Cồn
Cỏ (Hồ Phương), Sống như Anh (Trần Đình Vân), Ký sự miền đất lửa
(Nguyễn Sinh và Vũ Kỳ Lân), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (Nguyễn Tuân)…
Đặc biệt là hàng loạt ký sự về mùa xuân đại thắng 1975, ghi lại thời điểm
hào hùng của dân tộc ta trong công cuộc đánh Mĩ cứu nước: Tháng ba ở
Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Bắc Hải Vân xuân 1975 của Xuân Thiều,
Nhật ký chiến dịch của Nguyễn Thành Vân – Nguyễn Trọng Oánh…
Sau năm 1975 đến nay, thể ký tiếp tục thể hiện vai trò của mình trong
việc tiếp cận đời sống thời hậu chiến. Hàng loạt bài ký, phóng sự ra đời thu
hút sự quan tâm của công chúng bạn đọc: Cái đêm hôm ấy đêm gì (Phùng
Gia Lộc), Chuyện ông vua lốp (Nhật Linh), Chuyện làng ngày ấy (Võ Văn
Trực), ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, của Phan Quang… “Ký đã đáp ứng
được yêu cầu nào đó của nghệ thuật và tự khẳng định ký không phải thừa
chân thực và đầy cảm xúc.
10
Bước sang giai đoạn chống Mĩ cứu nước, một số ký sự đã khẳng định
được vị trí xứng đáng của mình trong đời sống văn học lúc bấy giờ: Họ sống
và chiến đấu, Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải), Chúng tôi ở Cồn Cỏ
(Hồ Phương), Ký sự miền đất lửa (Nguyễn Sinh – Vũ Kỳ Lân)… Tháng ba
ở Tây Nguyên đã làm sống dậy những sự kiện lịch sử diễn ra trong thời điểm
cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Ở một phương diện
khác, Ký sự miền đất lửa đã ghi lại không khí của một thời kỳ chiến đấu kiên
cường, oanh liệt trên mảnh đất Vĩnh Linh anh hùng trong cuộc đọ sức trường
kỳ với đế quốc Mĩ.
Các tác phẩm ký sự đã ghi lại một cách trung thực, đầy xúc động
những diễn biến của những sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Thực tế của
đời sống cách mạng và kháng chiến, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc đã tạo điều kiện cho thể tài ký sự phát triển, đáp ứng được yêu cầu đặt
ra của thời đại.
Do thực tiễn sáng tác theo thể loại ký ngày càng phát triển mạnh nên
lịch sử nghiên cứu về ký cũng có một bề dày đáng kể. Tuy nhiên các công
trình nghiên cứu về ký cũng chủ yếu là từ những tác phẩm cụ thể. Thành
tựu nghiên cứu về nó, trên phương diện lý thuyết còn hạn chế, chủ yếu
được nêu ở các bộ từ điển văn học, các công trình lịch sử văn học. Có thể thấy
Hoàng Ngọc Hiến là người quan tâm nhiều đến thể loại này, thể hiện ở các
công trình của ông: Văn học - học văn (tiểu luận và phê bình, 1992), Văn học
và học văn (tiểu luận và phê bình, 1997), Văn học gần và xa (tiểu luận,
2000),... Các công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam hiện đại, tiêu biểu
như: Văn học trên hành trình của thế kỷ XX (Phong Lê, 1997), Văn học Việt
Nam hiện đại - lịch sử và lý luận (Phong Lê, 2003), Lí luận và phê bình văn
học (Trần Đình Sử, 1996), Những vấn đề thi pháp học hiện đại (Trần Đình
cứu nước. Ông theo dõi, khảo sát con người xã hội chủ nghĩa, ca ngợi nó
trên đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng”[33, 258].
12
Hà Minh Đức trong cuốn Ký viết về chiến tranh cách mạng và xây
dựng chủ nghĩa xã hội, trong mục nói về ký sự có đề cập đến ký sự của
Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng… và khẳng định có nhiều đóng góp.
Năm 2007, tác giả Hà Công Tài và Phan Diễm Hương tuyển chọn và
giới thiệu cuốn Nguyễn Khải về tác giả và tác phẩm, trong đó đã có những
trang đánh giá về tác phẩm kí sự Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn
Khải: “Ghi lại một cách trung thực đầy xúc động những diễn biến của sự
kiện lớn vào bậc nhất trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc ta… kí sự
Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải cũng như thiên hồi kí Đại thắng
mùa xuân của Đại tướng Văn Tiến Dũng là một trong những thể nghiệm
của thể loại này trong việc ghi lại những ngày, tháng, năm 1975 đầy biến
cố dân tộc”[50, 320].
Cuốn Từ điển văn học bộ mới của nhóm tác giả Đỗ Đức Hiểu,
Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá đồng chủ biên đề cập đến
các tác phẩm kí sự chống Mỹ giai đoạn 1954 - 1975 như Chúng tôi ở Cồn
Cỏ, Sóng Hòn Mê… Ngoài ra các tác giả còn khẳng định những thành tựu
về thể kí sự mà Nguyễn Khải đã gặt hái được: “Bám sát cuộc sống hiện tại,
hướng ngòi bút về những vấn đề thời sự của đời sống, tác phẩm của
Nguyễn Khải có sức mạnh của lí trí tỉnh táo, nhạy bén, năng lực phân tích
tâm lý và diễn biến tư tưởng cùng với những nhận xét thông minh sắc sảo”
[17, 1156].
Trong Văn học 1975 - 1985 tác phẩm và dư luận, nhóm tác giả Ngô
Trang, Vân Trang, Bảo Hưng sưu tầm và chủ biên, khi bàn về các tác phẩm
ký sự giai đoạn 1954 - 1975 có đánh giá về tác phẩm Ký sự miền đất lửa:
“Phản ánh hiện thực nóng bỏng và đầy tinh oanh liệt trên mảnh đất Vĩnh
Mạnh chủ biên, các tác giả đã nêu lên những thành tựu của kí, kí sự chiến
tranh: “Đặc biệt là có sự bùng nổ của thể kí, ghi lấy bao nhiêu là sự tích
anh hùng, chia vui với quân dân cả nước và giữ lại tư liệu cho sáng tác dài
hơi” [32, 146]...
14
2.2.3. Vấn đề Thể tài ký sự chiến tranh trong văn học Việt Nam
giai đoạn 1945-1975
Thể tài ký sự chiến tranh trong văn học Việt Nam 1945-1975 còn là
vấn đề mới trong nghiên cứu, tìm hiểu. Đề tài không trùng với công trình
hay luận án, luận văn, bài báo nào đã công bố.
Tuy nhiên, một số công trình nghiên cứu (đã nêu trên đây) mặc dù
chưa chuyên sâu về thể tài ký sự chiến tranh giai đoạn 1945 – 1975 nhưng
ít nhiều cũng đã đề cập đến một số tác phẩm cụ thể. Đây là những đóng
góp đáng quý. Tiếp thu thành tựu của những người đi trước, luận văn này
đi sâu tìm hiểu thể tài ký sự chiến tranh trong văn học Việt Nam giai đoạn
1945 – 1975 với một cái nhìn toàn diện, hệ thống.
3. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Thể tài ký sự chiến tranh trong
văn học Việt Nam 1945 – 1975.
3.2. Giới hạn của đề tài
Đề tài bao quát tất cả các tác phẩm ký sự giai đoạn 1945 – 1975 viết
về chiến tranh.
Văn bản tác phẩm dùng để khảo sát, luận văn dựa vào bộ sách Ký sự
chiến tranh (2 tập), Nxb Văn học, Hà Nội, 2006.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.1. Mục đích nghiên cứu
1975 nói riêng, ký sự Việt Nam hiện đại nói chung.
6.2. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được triển
khai trong ba chương:
Chương 1. Vai trò và vị thế của thể tài ký sự chiến tranh trong văn
học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975.
16
Chương 2. Ký sự chiến tranh trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 –
1975 nhìn trên phương diện chức năng và nội dung của thể loại.
Chương 3. Ký sự chiến tranh trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 –
1975 nhìn trên phương diện thi pháp thể loại.
Cuối cùng là tài liệu tham khảo.
Chương 1
VAI TRÒ VÀ VỊ THẾ CỦA THỂ TÀI KÝ SỰ CHIẾN TRANH
TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1975
1.1. Bối cảnh chiến tranh và sự vận động, phát triển của văn học
Việt Nam 1945 - 1975
1.1.1. Bối cảnh chiến tranh của văn học Việt Nam 1945 - 1975
Trong tiến trình của văn học Việt Nam, giai đoạn 1945 - 1975 có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là quá trình ba mươi năm phát triển của văn
học cách mạng gắn liền với giai đoạn lịch sử có nhiều biến đổi quan trọng,
nhiều sự kiện liên tiếp nổ ra đã tác động đến vận mệnh dân tộc cũng như mọi
mặt của đời sống xã hội lúc bấy giờ. Những sự kiện lịch sử nổi bật có thể
17
chia làm hai giai đoạn nhỏ: giai đoạn 1945 – 1954, và giai đoạn 1955 –
18
Ngoài ra quân Nhật đang chờ để giải giáp, một bộ phận theo lệnh đế
quốc Anh đánh lại lực lượng vũ trang cách mạng tạo điều kiện cho quân
Pháp mở rộng chiếm đóng Nam Bộ.
Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đứng trước tình thế hiểm nghèo
“ngàn cân treo sợi tóc”. Trong hoàn cảnh đó ngày 25-11-1945, Trung ương
Đảng ra bản chỉ thị Kháng chiến kiến quốc. Vượt qua mọi khó khăn Đảng
và nhân dân ta bước đầu xây dựng chính quyền cách mạng, giải quyết “giặc
đói”, “giặc giốt” và khó khăn về tài chính. Ngày 6-1-1946, chính phủ nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa tổ chức cuộc tổng tuyển cử bầu quốc hội trong
cả nước. Thắng lợi của tổng tuyển cử bầu quốc hội đã giáng một đòn mạnh
mẽ vào âm mưu chia rẽ, lật đổ và xâm lược của đế quốc và tay sai, tạo cơ
sở pháp lý vững chắc cho Nhà nước cách mạng để thực hiện nhiệm vụ đối
nội, đối ngoại. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
được quốc hội thông qua góp phần củng cố xây dựng chính quyền cách
mạng.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước
tổ chức hũ gạo cứu đói. Nhà nước tổ chức “ngày đồng tâm” để lấy gạo cứu
đói, không dùng lương thực để nấu rượu. Toàn dân hăng hái thi đua lao
động sản xuất, nạn đói được đẩy lùi, đời sống nhân dân được cải thiện, sản
xuất nông nghiệp nhanh chóng được phục hồi. Chính phủ phát động quyên
góp, thực hiện “Tuần lễ vàng”, xây dựng “Quỹ độc lập”, từng bước giải
quyết những khó khăn về tài chính. Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
kí sắc lệnh thành lập “Nha bình dân học vụ”, kêu gọi mọi người đi học. Sau
một thời gian ngắn có trên 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ. Việc bài trừ
mê tín dị đoan được quần chúng nhân dân hưởng ứng sôi nổi, kết hợp xây
dựng nếp sống văn hóa mới.
Những thế lực thù địch lần lượt bị khuất phục bằng chính sách ngoại
giao kiên quyết nhưng uyển chuyển của ta. Khi mọi biện pháp ngoại giao
không còn hiệu quả, trước dã tâm của Pháp nhằm áp đặt chế độ thuộc địa
– 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) chấn động địa
20
cầu, buộc Pháp phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Đông Dương, rút hết
quân đội về nước, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trong gần một
thế kỷ trên đất nước Việt Nam.
Cuộc kháng chiến chín năm kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải
phóng, chuyển sang giai đoạn Cách mạng xã hội chủ nghĩa… chính quyền
kiểu mới ở các cấp từng bước được củng cố, tổ chức Đảng vững mạnh hơn.
Nhà nước tiến hành những biện pháp khắc phục khó khăn, văn hóa giáo
dục không ngừng được nâng cao, nạn mù chữ cơ bản được thanh toán,
tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính thức giảng dạy trong tất cả các cấp
học. Một số trường đại học được mở ra để đào tạo nhân tài cho đất nước.
Sau năm 1954, với việc kí kết và thực hiện hiệp định Giơnevơ, nước
Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác
nhau. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Ở miền Nam, sau khi Pháp rút khỏi khi chưa thực hiện cuộc hiệp thương
tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam – Bắc, (tháng 5 – 1956) Mỹ vào
thay chân Pháp, đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, âm mưu chia
cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn
cứ quân sự của Mỹ.
Từ năm 1954 – 1965, Đảng và nhân dân ta tiến hành xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài
Gòn ở miền Nam.
Đối với miền Bắc, nhiệm vụ cách mạng đặt ra là hoàn thành cải cách
ruộng đất (1954 – 1957). Cuộc cải cách ruộng đất từ cuối năm 1953 đến
năm 1956 đã thực hiện năm đợt cải cách, khẩu hiệu “người cày có ruộng”
đã hoàn thành. Mặc dù còn nhiều hạn chế song sau cải cách bộ mặt nông
thôn miền Bắc có nhiều thay đổi, nền kinh tế dần được khôi phục và bước
trị, tinh thần và vật chất để bảo vệ, liên tiếp đánh thắng các cuộc chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mỹ sau này, đồng thời làm tròn nhiệm vụ cơ sở
của cách mạng giải phóng miền Nam, làm hậu phương lớn của tiền tuyến
miền Nam và là hậu phương lớn của cách mạng ba nước Đông
Dương”[14,179].
22
Ở miền Nam, sau khi hiệp định Giơnevơ được kí kết, Mỹ đã đưa Ngô
Đình Diệm lên làm thủ tướng bù nhìn, đưa lối sống Mỹ vào Việt Nam để
đồng hóa về mặt văn hóa đối vối từng lớp thanh - thiếu niên Việt Nam.
Chúng vừa dụ dỗ, mua chuộc, vừa mị dân, vừa đàn áp trắng trợn, cưỡng
bức dân ta trong các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, vu khống, tố cáo cộng
sản… Với những thủ đoạn tàn ác và dã man chúng đã khiến cho cách mạng
Việt Nam gặp không ít những khó khăn, tổn thất nặng nề. Nhiều phong trào
đấu tranh chống Mỹ - Diệm đã diễn ra, nhân dân miền Nam từ đấu tranh
chính trị đòi thi hành hiệp định rồi phát triển lên đấu tranh chính trị có vũ
trang tự vệ chống những chính sách khủng bố của kẻ thù. Từ năm 1957 đến
năm 1959, Mỹ và tay sai tăng cường dùng bạo lực khủng bố phong trào đấu
tranh của quần chúng cách mạng. Tháng 5 – 1959, chính quyền Sài Gòn ra
luật 10 – 59, lê máy chém đi khắp nơi để tiêu diệt cộng sản làm cho lực
lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề. Phong trào đấu tranh của nhân dân ta
từ chỗ nhỏ lẻ ở từng địa phương sau đó lan nhanh, phá vỡ từng mảng lớn
chính quyền của địch. Tiêu biểu là ngày 17-1-1960, phong trào Đồng Khởi
nổ ra ở Mỏ Cày - Bến Tre sau đó lan nhanh khắp Nam Bộ, Tây Nguyên và
một số nơi ở Trung Bộ. Phong trào Đồng Khởi thắng lợi, nhân dân miền
Nam làm chủ được nhiều thôn xã. Thắng lợi của “Đồng Khởi” dẫn đến sự
ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (20-12-1960), đánh dấu
bước ngoặt của cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tấn
công, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên làm chiến tranh cách mạng. Từ cuối
Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, nhân dân miền Nam đã
đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ tiếp tục tiến lên.
Ở miền Bắc, quân và dân ta vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại
lần thứ nhất của Mỹ vừa làm nghĩa vụ hậu phương (1965 – 1968). Mỹ dựng
lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” (tháng 8 – 1964), sau đó lấy cớ “trả đũa”quân
giải phóng tấn công Mỹ ở Plâyku (tháng 2 – 1965), chính thức tiến hành
chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất. Chúng nhằm vào tất cả các
mục tiêu quan trọng như quân sự, giao thông, nhà máy, trường học, bệnh
viện… để đánh phá. Trong hơn bốn năm quân dân miền Bắc đoàn kết, triển
24
khai cuộc chiến tranh nhân dân bắn rơi hàng nghìn máy bay, đánh chìm
hàng trăm tàu chiến và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ, buộc Mỹ phải tuyên bố
ngừng ném bom phá hoại miền Bắc. Song song với chiến đấu chống chiến
tranh phá hoại, miền Bắc vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ chi viện cho miền
Nam. Từ năm 1959 tuyến đường chiến lược Hồ Chí Minh trên bộ và trên
biển bắt đầu được khai thông. Trong 4 năm (1965 – 1968), miền Bắc đã
đưa hơn ba mươi vạn cán bộ, bộ đội, hàng chục tấn vũ khí, lương thực,
thuốc men… vào chiến trường miền Nam.
Bước sang giai đoạn 1969 – 1973, miền Nam chiến đấu chống chiến
lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”. Với âm
mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, Mỹ tăng cường xây dựng quân đội Sài
Gòn làm lực lượng chiến đấu chủ yếu trên chiến trường thay cho quân Mỹ
rút dần về nước. Chúng tìm cách thỏa hiệp với Trung Quốc, hòa hoãn với
Liên Xô nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước này đối với nhân dân Việt
Nam và sẵn sàng Mỹ hóa chiến tranh trở lại. Trước tình hình đó quân và dân
ta phối hợp với quân dân các nước bạn như Campuchia, Lào lần lượt đập tan
các cuộc hành quân xâm lược Campuchia, Lào của quân Mỹ và quân đội Sài
Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục nghìn quân địch, giải phóng nhiều
1975 tình hình có lợi cho cách mạng, Bộ Chính trị đã bàn kế hạch giải
phóng miền Nam. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà
tiêu biểu là chiến dịch Hồ Chí Minh đã kết thúc sự nghiệp chống Mỹ cứu
nước của dân tộc ta. Cuộc chiến tranh kéo dài hơn 20 năm, dài hơn bất cứ
cuộc chiến tranh nào trong lịch sử và phải chống lại một đế quốc lớn mạnh
nhất đó là đế quốc Mỹ. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi đã
chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, hoàn thành cuộc
cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất tổ quốc, mở ra kỷ
nguyên mới của lịch sử dân tộc – kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất,
đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hiện thực đất nước chiến tranh trong suốt thời gian dài đã được văn
học tái hiện một cách chân thực và sinh động. Văn học 1945 – 1975 đã theo