Cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Việt Nam 1975 - 2000 - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRỊNH THỊ HẰNG Cảm hứng thế sự đời tư trong thơ Việt Nam
1975 - 2000 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
5.04.33 Người hướng dẫn: GS.TS. Lê Văn Lân

Hà nội - 2006


3.2.1. Nhiều vấn đề của cuộc sống được nhận thức lại dẫn đến sự thay đổi ý nghĩa của
một số biểu trưng trong thơ. 83
3.2.2. Sự xuất hiện của một số biểu trưng mới 86
3.2.3. Các biểu trưng mang dáng dấp dân gian. 87
3.3. Thể loại. 88
3.3.1. Giới thuyết về khái niệm. 88
3.3.2 Một số thể thơ, truyền thống và cách tân. 89

2
PHẦN KẾT LUẬN. 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 1
PHẦN MỞ ĐẦU

1, L‎ý do chọn đề tài.
1.1 Một thời kỳ thơ ca đang lưu chuyển.
Thơ ca Việt Nam sau chiến tranh, tính từ thời điểm 1975
đến nay đã diễn ra hơn 1/4 thế kỷ và vẫn đang trong giai đoạn định hình.
Nhận diện một giai đoạn thơ ca đang lƣu chuyển là công việc không dễ
dàng. Những năm trở lại đây vấn đề nhìn nhận văn học sau chiến tranh
đang gây nên nhiều cuộc tranh cãi trong giới phê bình và sáng tác với
nhiều ý‎ kiến phân tán, không trùng khớp và thậm chí đối nghịch nhau.
Một trong những khó khăn của việc đánh giá đó là chúng ta chƣa
có một khoảng cách cần thiết để nhìn nhận và đánh giá một cách khách
quan, toàn diện văn học trong những tƣơng quan nhiều mặt: thời đại, lịch
sử, dân tộc và sự phát triển của con ngƣời Việt Nam.
Mặt khác, văn học nói chung và thơ ca nói riêng đang chịu sự tác
động sâu sắc của nền kinh tế thị trƣờng. Bên cạnh thuận lợi là chúng ta có

2.1.Tình hình nghiên cứu chung về thơ sau 1975.
Thơ Việt Nam từ 1975 đến nay mới đi đƣợc trên một phần tƣ thế
kỷ. Vì thế, những công trình nghiên cứu thực sự có bề dày về thơ ca giai
đoạn này còn rất ít ỏi. Nhƣng với đặc điểm của một nền thơ ca đang lƣu
chuyển, thêm vào đó là tác động mạnh mẽ của tinh thần dân chủ trong
sáng tác cũng nhƣ phê bình và những biến đổi nội tại của nó…thơ ca giai
đoạn này lại có khả năng tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi( đặc biệt
cuộc tranh luận kéo dài tới nửa năm trên báo Văn Nghệ). Vấn đề nhận
định giá trị văn học thời kỳ này trong tƣơng quan so sánh với thành tựu
thơ ca dân tộc, thêm vào đó là cách đặt vấn đề định hƣớng sáng tác, về
đổi mới - sáng tạo vì thị hiếu hay vì những giá trị đích thực của văn
chƣơng…là những vấn đề mang tính thời sự của thơ 1975-2000. Có thể

3
nói, lý‎ luận phê bình về thơ sau chiến tranh vẫn còn đang ở dạng phân tán
và chƣa ngã ngũ.
Cuộc tranh luận tốn nhiều giấy mực nhất và theo chúng tôi cũng là
vấn đề thời sự nhất của thơ Việt Nam sau chiến tranh là sự ra đời của chủ
nghĩa hiện đại. Chúng tôi hệ thống thành ba quan điểm:
Quan điểm cổ vũ và giới thuyết cho thơ hiện đại. Đó là quan điểm
của các nhà thơ Lê Đạt, Hoàng Hƣng, Nguyễn Quang Thiều và các nhà
nghiên cứu văn học nhƣ Đỗ Đức Hiểu, Phạm Xuân Nguyên…Họ cho
rằng sau 60 năm, cuộc cách mạng thơ ca lần thứ nhất đang kết thúc. Lịch
sử văn học đang chờ đợi một cuộc cách mạng thi ca mới và lần này
hƣớng đi của nó là tƣợng trƣng siêu thực. Những ngƣời theo quan điểm
này tích cực giới thiệu các tập thơ Người đi tìm mặt(Hoàng Hƣng), Ô
mai, Bến lạ(Đặng Đình Hƣng), Bóng chữ(Lê Đạt)…và cho rằng các tập
thơ này là thơ hiện đại đang đến cả về quan niệm lẫn thi pháp.
Quan điểm thứ hai phủ nhận triệt để thơ hiện đại hôm nay , cho đó
là thứ thơ quái dị do chịu nhiều ảnh hƣởng của các trào lƣu chủ nghĩa

Trong khi đó nhận định của hội đồng tuyển chọn Tuyển tập thơ
Việt Nam 1975-2000 lại toát lên sự lạc quan: “Kể từ 1945 đây là giai đoạn
thơ nƣớc ta có bƣớc phát triển mở rộng nhất. Việc mở rộng các chủ đề và
đa dạng hoá phƣơng pháp sáng tác tạo nên một bức tranh thơ rực rỡ sắc
màu và còn đang biến đổi” (Tập1- tr5).
Chúng tôi điểm qua các vấn đề đang đƣợc tranh luận trong thơ Việt
Nam 1975-2000 với mong muón phản ánh đời sống văn học sau chiến
tranh. Đó là một giai đoạn thơ ca đầy phức tạp và đang đòi hỏi đƣợc
nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống để trả lời câu hỏi thơ Việt Nam
đang đứng ở đâu. Tất nhiên điều này không xa mục đích đề tài: tìm kiếm
sự ổn định của cảm hứng thế sự đời tƣ trong tính bất ổn của thơ đƣơng
đại.
2. 2. Những vấn đề liên quan đến đề tài.

5
Nhận diện một giai đoạn văn học, nhất là giai đoạn văn học đang
lƣu chuyển luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà
nghiên cứu. Hầu hết trong các công trình nghiên cứu văn học có bề dày
các tác giả đều cố gắng hệ thống các đặc điểm của thơ ca Việt Nam sau
chiến tranh.
Cảm hứng thế sự đời tƣ đựơc xem là một đặc điểm của thơ ca thời
kỳ này. Tác giả Vũ Tuấn Anh trong chuyên luận: Nửa thế kỷ thơ Việt
Năm 1945-1975 dành cả chƣơng ba để trình bày về các kiểu cái tôi trữ
tình trong thơ sau 1975. Tác giả hệ thống thành các nội dung: “Cái tôi
tiếp tục khuynh hƣớng sử thi và đối thoại với sử thi”, “Cái tôi gắn với
những vấn đề nhân sinh thế sự”, “Cái tôi trở về với những giá trị truyền
thống và nhân bản”, “Cái tôi sáng tạo có tính chất cực đoan” (tr189). Tác
giả cũng đã bàn đến hình thức của thơ Việt Nam đƣơng đại trên bình
diện cấu trúc, ngôn ngữ, hình tƣợng.
Trong chuyên luận Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990 tác giả Lê

lên những suy ngẫm về hạnh phúc, về số phận của tập thể và từng cá nhân
trong cuộc sống hiện tại”(24- tr 248).
Các bài viết mang tính cảm nhận về các tác giả, tác phẩm thơ sau
chiến tranh cũng xuất hiện khá nhiều trên các báo và tạp chí. Điều này tạo
nên cái nhìn đa chiều về một thời kỳ thơ ca.
Khảo sát các công trình nghiên cứu thơ ca sau chiến tranh, chúng
tôi thấy rằng cảm hứng thế sự đời tƣ là một đặc điểm của thơ ca giai
đoạn này và nó có tính khu biệt làm thay đổi diện mạo thơ ca đƣơng đại
trong tiến trình thơ ca dân tộc. Tuy nhiên, nó chƣa đƣợc tập trung nghiên
cứu độc lập nhƣ một đặc điểm quan trọng nhất của thơ Việt Nam sau
chiến tranh cho đến thời điểm này, bắt đầu có dấu hiệu từ khuynh hƣớng
phi sử thi và là một trong những nguyên nhân góp phần chi phối sự hình
thành của chủ nghĩa hiện đại sau này.
3. Nhiệm vụ của luận văn.

7
3.1. Xác định mối quan hệ đời sống xã hội đối với sự chuyển biến
của thơ ca về nội dung cũng như hình thức.
Các khuynh hƣớng sử thi, khuynh hƣớng trở về với vấn đề nhân
sinh thế sự, khuynh hƣớng chủ nghĩa hiện đại trong thơ ca 1975 đến nay
đều có nguyên nhân xã hội. Tuy nhiên, mối quan hệ văn học- đời sống
không phải mối quan hệ giản đơn, một chiều, và không phải bất cứ hiện
tƣợng văn học nào cũng đƣợc lý‎ giải từ nguyên nhân xã hội, mà văn học
có những quy luật sáng tạo riêng của nó. Luận văn chú ý mô tả tình hình
xã hội Việt Nam từ Đại hội ĐCS lần thứ VI với tƣ cách là một nhân tố
tác động sâu sắc đến sự hình thành cảm hứng thế sự đời tƣ sau 1975- là
đối tƣợng nghiên cứu của luận văn Luận văn cũng xây dựng các nguyên
tắc có tính lý luận đối với sự chuyển biến của thời kỳ văn học nhƣ: Quan
niệm thẩm mỹ, hệ thống hình tƣợng, đề tài…
3.2. Trình bày nội dung cảm hứng thế sự đời tư.

mong muốn nhận diện một giai đoạn văn học trong tính toàn diện của nó.
4.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Thơ Việt Nam sau chiến tranh đƣợc xác định từ mốc 1975 đến nay
và vẫn trong thời kỳ lƣu chuyển, có thể kéo dài về sau này, đến khi có
một thời kỳ văn học mới với những yếu tố mới mẻ có thể thay đổi diện
mạo của nó. Chúng tôi khu biệt từ 1975-2000 để có thể khảo sát và
nghiên cứu đối tƣợng một cách tƣơng đối ổn định, nhất là trong thời kỳ
thơ ca chịu ảnh hƣởng sâu sắc của kinh tế thị trƣờng và đƣợc xuất bản
một cách ồ ạt không thể kiểm soát.
Về nguyên tắc, phƣơng pháp tiếp cận tác giả tác phẩm là bình
đẳng. Tuy nhiên, luận văn chú trọng phân tích những tác giả, tác phẩm đã
đƣợc rộng rãi độc giả biết đến, hoặc đã đựơc in nhiều lần qua các tập thơ.
5. ‎Ý nghĩa và đóng góp của luận văn.
Thực hiện đề tài cảm hứng thế sự đời tƣ trong thơ Việt Nam 1975-
2000, chúng tôi mong muốn đạt tới những đóng góp sau:

9
5.1 Về mặt lịch sử văn học: Tiếp cận thể tài thế sự đời tƣ trong thơ
Việt Nam 1975-2000 dƣới cả góc độ nội dung và hình thức, nhìn nhận nó
nhƣ là yếu tố quan trọng nhất mang nhiều thành tựu cách tân về nội dung
cũng nhƣ hình thức của thơ ca sau chiến tranh. Đề tài không nằm ngoài
mục đích nhận diện cái tôi trữ tình của một giai đoạn thơ, khả năng phản
ánh tinh thần thời đại của nó thông qua mối quan hệ giữa văn học và đời
sống, quan hệ giữa con ngƣời với thơ ca.
5.2. Về mặt lý‎ luận văn học: Nghiên cứu cảm hứng thế sự đời tƣ
trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Xem xét sự mở rộng chức
năng xã hội- thẩm mỹ của các yếu tố phƣơng thức, phƣơng tiện thơ ca,
nhƣ là sự tiến hoá của thể loại trữ tình.
5.3. Trong sự nghiệp đổi mới văn học hiện nay, luận văn góp
phần đánh giá khách quan đối với một giai đoạn văn học, đặc biệt là khi

PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG1
TÌNH HÌNH XÃ HỘI VÀ SỰ ĐỔI MỚI THƠ VIỆT NAM
1975-2000

1.1.Đời sống xã hội và đời sống thơ ca.
Sau chiến tranh, thơ Việt Nam chuyển biến khá phức tạp và hình
thành nhiều xu hƣớng khác nhau. Theo cách hình dung mà giới nghiên
cứu văn học đang chấp nhận, chúng tôi tạm chia sự phát triển của thơ
đƣơng đại làm hai chặng: Từ 1975-1985 và từ 1986 đến nay. Thực tế, sự
phân chia này chỉ mang tính quy ƣớc. Một số bài thơ theo tinh thần đổi
mới của những năm 1986 trở lại đây đã xuất hiện trƣớc đó nhƣ : Tản mạn
thời tôi sống(Nguyễn Trọng Tạo), Đánh thức tiềm lực(Nguyễn Duy), Nói
với con(Thạch Quỳ)…Tuy nhiên, những sáng tác theo xu hƣớng này vẫn
chƣa có mảnh đất thực sự để phát triển, và các tác giả của nó một thời
gian dài bị đem ra phê phán, chỉ trích, thậm chí là kỷ luật…Những hiện
tƣợng nhƣ vậy không hiếm trong văn chƣơng khi mà sự đổi mới đã đƣợc

11
thực hiện nhƣ là nhu cầu tự nhiên của nghệ thuật nhƣng lại phải chịu sự
ràng buộc của quan niệm và thi pháp cũ.
1.1.1.Những chuyển biến của đời sống xã hội mười năm sau
chiến tranh và một giai đoạn thơ ca.
Mƣời năm sau chiến tranh, xã hội Việt Nam có những chuyển biến
quan trọng ảnh hƣởng sâu sắc đến đời sống văn học, ở cả khía cạnh thuận
chiều và không thuận chiều.
Sự kiện lịch sử có ‎ý nghĩa trọng đại là chiến thắng mùa xuân năm
1975 của quân và dân ta trong công cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ
xâm lƣợc. Chiến thắng đã mở ra kỷ nguyên phát triển rực rỡ của dân tộc
ta: Kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất đất nƣớc, tiến lên chủ nghĩa xã

đoàn(Nguyễn Đức Mậu), Ngày hội của rạng đông(Võ Văn Trực); Đất
nước hình tia chớp, Mặt trời trong lòng đất(Trần Mạnh Hảo)…đã khiến
nhiều ngƣời kỳ vọng vào một thời đại trƣờng ca trong tƣơng lai nhƣng
trƣờng ca chỉ thực sự phát triển trong giai đoạn mƣời năm sau chiến
tranh, nhƣ một thể loại có tính lịch sử đặc biệt.
Với đặc trƣng là một hình thức tự sự có vần, dung lƣợng phản ánh
rộng lớn, tổng hợp hiện thực khách quan, “Sự phát triển của trƣờng ca
Việt Nam hiện đại chứng tỏ xu hƣớng thơ muốn vƣơn tới bao quát nhiều
nội dung của cuộc sống hiện tại và quá khứ, của đất nƣớc và con ngƣời
sau một thời kỳ biến động lớn của lịch sử dân tộc”(56- tr.114). Mƣời năm
sau chiến tranh, chúng ta đã có một độ lùi cần thiết để có thể thức nhận
cuộc sống một cách tỉnh táo, toàn diện, cụ thể hơn, ở cả bề rộng và bề
sâu, ở cả tầm vĩ mô và vi mô. Có lẽ đây cũng là sự khắc phục những hạn
chế của thơ ca trong giai đoạn kháng chiến. Trong chiến tranh, do những
yêu cầu mang tính thời sự , quá tập trung đề cao vấn đề dân tộc Tổ quốc
mà đôi khi chúng ta lãng quên những gì thuộc về cá nhân, về riêng tƣ.
Thời kỳ này các nhà thơ đều có mong muốn khái quát hình tƣợng
về Tổ quốc, nhân dân, về chặng đƣờng đi tới chiến thắng của dân tộc.
Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh là con đƣờng vƣợt qua gian khổ, là

13
“sẵn sàng giẫm lên nhiều thử thách”để tìm về ngọn lửa của niềm tin và
lòng khát khao chiến thắng. Những người đi tới biển của Thanh Thảo
cũng là cuộc hành trình nhiệt huyết và dữ dội của tuổi hai mƣơi vì tự do
của nhân dân, của dân tộc. Trong cuộc hành trình ấy, chúng ta thấy hiện
lên khuôn mặt đất nƣớc vừa khái quát vừa cụ thể. Đất nƣớc là sự góp mặt
của nhân dân, của những ngƣời mẹ, ngƣời em, ngƣời chị…dịu dàng, bao
dung, hiền hậu. Đất nƣớc ấy cũng là “tôi”, “chúng tôi”, “lứa tuổi hai
mƣơi trập trùng áo lính, xanh màu áo lính”, thế hệ có thể làm nên lịch sử.
Tất cả góp mặt làm nên một đất nƣớc vừa bình dị lại vừa hào hùng, vừa

xuất hiện một mạch ngầm là những suy tƣ rất riêng của cái tôi nghệ sĩ,
dẫn dắt ngƣời đọc hƣớng đến chiều sâu số phận con ngƣời. Những suy tƣ
đó thƣờng xuất hiện ở từng phần của trƣờng ca nhƣ một sự lặp lại đầy ám
ảnh, kéo cảm xúc đi về phía suy tƣ, trầm lắng. Ngô Văn Phú mở đầu
trƣờng ca của mình: “Tôi chạy loạn về quê- Sống bên bà ngoại- Cây dâu
bóng toả nửa vườn- Tôi đi hái lá- Cho tầm mùa xuân”. Thanh Thảo trong
“Những người đi tới biển” cũng chọn sự khởi đầu đầy suy tƣ: “Khi con
thưa với mẹ- mưa bay mờ đồng ta- Ngày mai con đi- chiếc áo lính thức
tròn đêm có mẹ”. Hữu Thỉnh lựa chọn Mẹ làm điểm tựa cho cảm xúc:
“Mẹ đang đi gánh rạ giữa đồng- Rạ chẳng nặng mà nặng nhiều vì gió”;
“Nếu mẹ biết chỉ còn đêm nay-Đêm nay nữa là con vào thành phố- Mẹ sẽ
khóc- Rồi mẹ đi nhóm lửa- Tưởng sáng ra là con đã có nhà”…Cách cấu
trúc trƣờng ca nhƣ vậy đã mở ra chiều hiện thực thứ hai cho tác phẩm,
hiện thực chiều sâu số phận con ngƣời trong bề dày thăm thẳm với nỗi
khổ và niềm đau, bên cạnh một hiện thực mang tính khái quát và hoành
tráng về sự vận động của số phận tổ quốc.
Trong thơ đã xuất hiện khuynh hƣớng phi sử thi hoá. Sự không
thuần khiết của sử thi là kết quả của cái nhìn đầy đủ, tỉnh táo và hiện thực
đối với chiến tranh. Nhà thơ đứng từ nhiều góc độ hiện thực, nhập nhiều
vai và nói bằng nhiều giọng. Không còn giàn đồng ca nhƣ trƣớc kia, thơ
ca giờ đây cố gắng thể hiện những nét riêng biệt của đối tƣợng. “Con

15
ngừơi sử thi vốn vẫn tồn tại trong vô vàn các quan hệ và các bình diện:
tập thể- cá nhân, lý tƣởng- hiện thực, tiền tuyến- hậu phƣơng, sống- chết,
đƣợc- mất, cho- nhận, cống hiến- hƣởng thụ(…), nếu trƣớc đây con ngƣời
đó đƣợc nhìn nghiêng về mặt dân tộc, tập thể, lý tƣởng, chiến trƣờng,
cống hiến thì giờ đây những cảm nhận đã nghiêng về trục đối lập”(56- tr
92). Nhiều vấn đề về hiện thực đã đƣợc nhìn nhận lại bằng cái nhìn suy
tƣ hơn và nhiều day dứt hơn.

Computer, Internet, di chuyển trên xe ô tô và xe máy đời mới của nƣớc
ngoài, mua hàng tiêu dùng của mọi quốc gia trong siêu thị. Trƣớc kia, nếu
ngƣời ta đồng nhất cái nghèo với sự trong sạch thì giờ đây vƣơn lên làm
giàu trở thành nỗ lực chung của toàn xã hội. Song song với quá trình đô
thị hoá, công nghiệp hoá là dòng ngƣời từ nông thôn ra thành phố để học
tập, lao động và thử vận may trong nhiều lĩnh vực. Thông tin và kinh tế
thị trƣờng đã đến với mọi gia đình trên khắp đất nƣớc, làm thay đổi nếp
sống, nếp nghĩ có tính chất truyền thống, đƣa con ngƣời vào cuộc sống
hiện đại. Đời sống văn hoá cũng có nhiều thay đổi. Từ một nền văn hoá
mang đậm tính cộng đồng, làng quê, đã hình thành một nền văn hoá dân
tộc, hiện đại.
Trong công cuộc đổi mới đất nƣớc, chúng ta không ngừng nỗ lực
vƣơn lên phát triển để phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Chúng
ta cởi mở hơn trong tiếp nhận, giao lƣu văn hoá, kinh tế với các nƣớc
trong khu vực cũng nhƣ các nƣớc Phƣơng Tây. Bên cạnh những sản
phẩm vật chất du nhập từ nƣớc ngoài đƣợc ngƣời Việt Nam sử dụng thì
các sản phẩm tinh thần cũng đựơc ta chú ý.
Ý thức cá nhân gắn với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa
Tƣ bản. Ở Việt Nam, ý thức cá nhân manh nha trong thời kỳ phong kiến
nhƣng không có cơ hội để phát triển thực sự hài hoà với ý thức cộng đồng
xã hội. Diện mạo của nó đang hình thành nhƣng chắc chắn không thể là
chủ nghĩa cá nhân cực đoan và suy đồi. Có thể nói, ý thức cá nhân của
con ngƣời hôm nay là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài vì sự tiến bộ

17
và vì những giá trị nhân văn cuả loài ngƣời. Cơ sở pháp lý của ý thức cá
nhân trong con ngƣời Việt Nam đƣơng đại là “Quyền sống, quyền tự do,
quyền mƣu cầu hạnh phúc” đã đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng ghi
nhận trong “Tuyên ngôn độc lập”(1945) và định hƣớng vì con ngƣời của
Đảng cộng sản Việt Nam tại đại hội VI, 1986. Ý thức cá nhân còn xuất

trên thế giới”.
Cùng với những giá trị vật chất, giá trị tinh thần của một dân tộc đã
trở thành tài sản chung của các dân tộc. Giờ đây trong điều kiện cuộc
sống hội nhập quốc tế, văn học Việt Nam sẽ phải trở thành một bộ phận
của văn học thế giới. Chúng ta cũng đang nỗ lực xây dựng một nền văn
học của cái mới, của đƣơng thời, hợp thời của thế kỷ XXI theo đúng tinh
thần hiện đại hoá văn học. Trong cuộc sống hiện tại, khi nhân loại đang
có xu hƣớng “Làng toàn cầu” thì một dân tộc chỉ có thể tồn tại bằng cách
không ngừng gìn giữ và phát huy bản sắc của mình. Đồng thời ngƣời ta
nhận ra mối quan hệ không phải là đối lập mà là cộng thông giữa các
phạm trù cá nhân, dân tộc, nhân loại. Trong phần tinh hoa của nó, văn
học dân tộc có giá trị toàn nhân loại. Đó là mối quan hệ biện chứng giữa
cái chung và cái riêng. Giao lƣu, hội nhập, cộng sinh văn hoá là tiền đề
phát triển của văn học Việt Nam đƣơng đại. Đó cũng chính là tiền đề của
nền thơ ca đƣơng đại phức tạp và đa dạng.
1.1.2.2. Những xu hướng chính của thơ Việt Nam từ sau 1986.
Từ 1986 đến nay, thơ Việt Nam hình thành và phát triển theo hai
xu hƣớng cơ bản: Thơ quay về với vấn đề nhân sinh thế sự và sự xuất
hiện của mảng thơ mang xu hƣớng chủ nghĩa hiện đại. Sở dĩ chúng tôi
không phân tách hai xu hƣớng thơ trên theo hai phần riêng biệt vì cho đến
nay chúng vẫn đồng tồn tại. Sau sự xuất hiện của trƣờng ca, chúng ta thấy
rằng trƣờng ca dƣờng nhƣ không trở lại, nhƣ một thể loại có tính chất lịch
sử, cuối những năm tám mƣơi là sự trở lại của cảm hứng thế sự đời tƣ
nhƣ một tất yếu của thơ sau chiến tranh. Và những năm đầu thập niên
chín mƣơi của thế kỷ XX là sự xuất hiện ồ ạt của các tác giả có xu hƣớng

19
hiện đại chủ nghĩa, kể cả ở phƣơng diện sáng tác và lý luận. Cho đến nay,
thơ ca vẫn không ngừng tìm kiếm để đạt đƣợc những giá trị đẹp đẽ trên
nhiều phƣơng diện. Nhƣng theo cách hình dung của chúng tôi, hai xu

tìm mặt, Ngựa biển, Đặng Đình Hƣng với Bến Lạ, Ô mai, Lê Đạt với
Bóng chữ, Nguyễn Quang Thiều với Sự mất ngủ của lửa và một số nhà
thơ trẻ khác.
Xu hƣớng thơ hiện đại chủ nghĩa đã thu hút đƣợc sự quan tâm của
dƣ luận và gây nên những cuộc tranh luận ồn ào, đặc biệt, cuộc tranh luận
trên báo Văn nghệ 1994. Một số ý kiến bốc lên ca ngợi đây thực sự là
những sáng tạo, tiên phong thể hiện nỗi khát khao tự nhận thức triệt để
của con ngƣời hiện đại; là cuộc phơi bày tận cùng bản ngã “để cho ngòi
bút dẫn dắt bởi một lực giấu mặt, khiến đồng hiện bên nhau những mảnh
vụn thực tại xa cách về không gian, thời gian, giống nhƣ trong giấc mơ
hoà tấu những ngôn ngữ của trí tuệ, tình cảm, trực giác, tiềm thức, tâm
linh. Những ý kiến trái ngƣợc cho đây là trò chơi “bịt mắt, bắt dê” giữa
tác giả và ngƣời đọc “ngõ hầu lần mò, dắt díu nhau về phía sau của mặt
trăng, phía toàn bản năng và những cơn hôn mê ú ớ”.
Vậy thực chất thơ chủ nghĩa hiện đại cần đƣợc hiểu nhƣ thế nào?
Trong các nhà thơ, nhà lý luận theo xu hƣớng hiện đại chủ nghĩa, Hoàng
Hƣng và Lê Đạt là những ngƣời tích cực phát ngôn về mặt lý luận, khao
khát làm một cuộc cách mạng thi ca mới. Giới thuyết thơ hiện đại, Hoàng
Hƣng giải thích: “Thơ hiện đại là nỗi khát khao tự nhận thức triệt để con
ngƣời hiện đại. Nó đòi ghi hình trực tiếp diễn biến vật lộn sinh thành
trong bóng tối của bản ngã, đề cao, tuân thủ tuyệt đối hoá mục đích sáng
tạo ngôn ngữ của thơ, muốn tạo nghĩa mới cho con chữ, muốn sống lại sự
trinh nguyên của con âm để cho ngòi bút dẫn dắt bởi một lực giấu mặt,
khiến đồng hiện bên nhau những mảnh vụn thực tại xa cách về không
gian và thời gian, giống nhƣ trong giấc mơ hoà tâú những ngôn ngữ của
trí tuệ, tình cảm, trực giác, tiềm thức, tâm linh”.

21
Đề cao vô thức, các nhà thơ hiện đại có ý thức xoá bỏ vần luật, cú
pháp, thực hiện một thứ tự do không giới hạn cho ngôn ngữ: Mọi từ đều

trƣớc mọi cái”. Nó tạo nên thế giới ngôn ngữ thơ nhiều ấn tƣợng, biến ảo
khôn lƣờng, chú ý đến vẻ đẹp của ngôn từ, hình ảnh, âm thanh, ngôn ngữ
gợi nhiều hơn tả. Khi sự chú ý hình thức đến mức cực đoan, nó sẽ là
nguyên nhân dẫn đến sự bế tắc của thơ.
Đối với các nhà thơ chủ nghĩa hiện đại thì thơ chính là sự lựa chọn
chốc lát, trở về cuộc sống tức thì, thu mình vào cuộc sống tâm linh, chẳng
cần bận tâm tới ý thức, tới những gì đã định sẵn. Ở đây ta thấy cái vô lý,
buông xuôi, than vãn. Quay về với đời thƣờng vô nghĩa nhàm chán, buồn
bực rồi thèm muốn vô biên nhƣng chỉ là huyễn tƣởng thất vọng: họ phơi
bày bản năng uẩn ức, chửi thề, phá ngang, thách thức số phận; họ nửa
tỉnh nửa say để trở thành điên loạn. Trong thực chất thơ theo xu hƣớng
này không chỉ đi vào quỹ đạo thơ tƣợng trƣng, mà còn có thể thấy những
đặc điểm của chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa hiện sinh và thấp thoáng
quan niệm hậu hiện đại.
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách thực sự khách quan, chúng ta
thấy rằng thơ xu hƣớng hiện đại chủ nghĩa hiện đại Việt Nam thời kỳ sau
1975 cũng có những đóng góp đáng kể. Với tƣ duy đổi mới nền văn học
thơ hiện đại chủ nghĩa có thể xa rời thực tế lịch sử nhƣng không xa rời
thế giới tinh thần vi diệu, phức tạp của con ngƣời. Đặc biệt đáng ghi nhận
là ý thức tìm tòi, sáng tạo những giá trị thơ mới mẻ, góp phần thúc đẩy
hành trình thơ ca nhân loại tiến về phía trƣớc. “Có thời kỳ do những định
hƣớng, do những yêu cầu của đất nƣớc, thơ chúng ta nhiều khi dài dòng
mô tả kể lể, nói cho hết và nói cho đủ, thiên về phản ánh trực tiếp đời
sống, trong những cái giống nhƣ, cái có lý, nên đã hạn chế khả năng biểu
hiện, sức tƣởng tƣợng phong phú và những liên tƣởng độc đáo của
thơ”(39- tr394). Mở rộng chiều kích và chú ý những đặc trƣng thơ, thơ
hiện đại Việt Nam có thêm phẩm chất mới, diện mạo mới. Thơ cần có
nhiều tìm tòi để nói đƣợc những điều sâu kín nhất, mong manh nhất, mơ

Trích đoạn Ngôn ngữ Ngôn ngữ đời thường suồng sã Ngôn ngữ trong sáng, giản dị Sự xuất hiện của một số biểu trưng mới Giới thuyết về khái niệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status