Một số biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý và sử dụng nguyên vật liệu chính ở Công ty bánh kẹo Hải Hà - Pdf 49


Lời nói đầu
Từ khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các
doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nớc. Với cơ chế cũ thì hoạt hoạt
động sản xuất kinh doanh cho tới hoạt động tiêu thụ sản phẩm hoàn toàn thụ
động, thực hiện theo kế hoạch nhà nớc giao. Trong cơ chế thị trờng hiện nay, các
Công ty phải thay đổi nhanh chóng những suy nghĩ của mình về công việc kinh
doanh. Để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh các doanh
nghiệp phải thờng xuyên thay đổi mẫu mã nâng cao chất lợng sản phẩm và điều
kiện không kém phần quan trọng là phải hạ giá thành. Nhng để hạ gía thành sản
phẩm ta phải xem xét các yếu tố cấu thành nên sản phẩm, trong đó nguyên vật
liệu là một trong các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh và cũng là yếu tố
cấu thành nên thực thể sản phẩm, chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành. Do vậy,
việc phấn đấu sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu là một yêu cầu thờng
xuyên phải đợc thực hiện trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
Công ty bánh kẹo Hải Hà là một doanh nghiệp nhà nớc chuyên sản xuất
kinh doanh các loại kẹo, do phải sử dụng rất nhiều loại nguyên vật liệu nên việc
sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu là một yêu cầu không thể thiếu đợc.
Trong thời gian qua Công ty đã có nhiều biện pháp góp phần sử dụng hợp lý và
tiết kiệm nguyên vật liệu tuy nhiên do những nguyên nhân chủ quan và khách
quan nên việc quản lý và sử dụng nguyên vật liệu ở Công ty còn một số tồn tại
cần khắc phục. Sau thời gian thực tập ở Công ty nhận thức đợc tầm quan trọng
của vấn đề này, em đã chọn đề tài: Một số biện pháp nhằm tăng cờng công tác
quản lý và sử dụng nguyên vật liệu chính ở Công ty bánh kẹo Hải Hà để làm
chuyên đề tốt nghiệp của mình. Chuyên đề đợc hoàn thành với sự quan tâm, giúp
đỡ của các phòng ban đặc biệt là Phòng kinh doanh cùng với sự giúp đỡ của thầy
giáo Đỗ Văn L. Do cách tiếp cận có nhiều hạn chế nên chuyên đề này không
tránh khỏi những thiếu sót, rất mong đợc sự đóng góp của thầy giáo cùng các bạn
quan tâm đến vấn đề này.


sản phẩm, thiếu nguyên vật liệu thì quá trình sản xuất bị gián đoạn hoặc không
thể sản xuất đợc. C.Mark còn chỉ rõ: Nguyên liệu có thể hình thành thực thể
chủ yếu của một sản phẩm hay chỉ gia nhập sản phẩm dới hình thức vật liệu
phụ .
2

Vì mỗi vật đều có những thuộc tính riêng và do đó mà nó sẵn sàng có thể
dùng vào nhiều việc, cho nên cũng một sản phẩm mà nó lại có thể dùng làm
nguyên liệu cho nhiều quá trình lao động khác nhau. Ví dụ nh ngũ cốc dùng làm
nguyên liệu cho ngời xay, ngời làm bột, ngời chăn nuôi. Trong quá trình lao
động, cùng một sản phẩm có thể dùng làm t liệu lao động, vừa dùng làm nguyên
liệu- chẳng hạn nh trong ngành chăn nuôi gia súc súc vật tức là vật liệu đã bị
lao động tác động rồi thì nay cũng làm chức năng t liệu để làm phân bón.
Một sản phẩm tuy đã tồn tại dới một hình thức thích hợp với sự tiêu dùng
nhng lại có thể trở thành nguyên vật liệu cho một sản phẩm khác, nho là nguyên
liệu cho rợu vang. Cũng có những sản phẩm lao động chỉ dùng làm nguyên vật
liệu đợc, chứ không thể dùng vào việc gì khác cả, trong trạng thái đó sản phẩm
chỉ có thể, nh ngời ta nói là sản phẩm trung đoạn hay từng bậc, chẳng hạn nh
bông, sợi, vải. Nguyên liệu gốc đó, tuy bản thân là sản phẩm nhng có thể còn
phải trải qua một chuỗi thay đổi, trong đó dới một hình thức luôn luôn thay đổi,
nó luôn luôn làm chức năng là nguyên liệu cho đến khi quá trình lao động cuối
cùng loại nó ra thành đối tợng tiêu dùng hay t liệu lao động.
2. Phân loại nguyên vật liệu:
Phân loại nguyên vật liệu là việc làm thờng xuyên nhằm mục đích tạo
thuận lợi cho công tác quản lý và sử dụng. Do vậy việc phân loại nguyên vật liệu
đợc tiến hành linh hoạt tuỳ theo các mục đích khác nhau theo các tiêu thức nhất
định.
a. Căn cứ vào tính chất, mức độ tác động của lao động vào đối tợng lao
động, nguyên vật liệu đợc phân thành:
- Nguyên liệu nguyên thuỷ: là loại mà mức độ tác động của con ngời còn

Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất, trực tiếp cấu
tạo nên thực thể của sản phẩm. Thiếu nguyên vật liệu thì qúa trình sản xuất bị
gián đoạn hoặc không thể tiến hành đợc. Chất lợng của nguyên vật liệu ảnh hởng
trực tiếp đến chất lợng sản phẩm, đến hiệu quả sử dụng vốn. Vì vậy, vấn đề đặt ra
đối với yếu tố này trong công tác quản lý là phải cung ứng đúng tiến độ, số lợng ,
chủng loại và quy cách. Chỉ trên cơ sở đó mới đảm bảo nâng cao chỉ tiêu kinh tế
- kỹ thuật, sản xuất có lãi, chu kỳ sống của sản phẩm đó kéo dài. Nguyên vật liệu
có vai trò rất quan trọng trong sản xuất, nó thể hiện qua các mặt sau:
- Xét về mặt quá trình sản xuất kinh doanh: quá trình sản xuất kinh doanh
bắtđầu từ khi mua các yếu tố đầu vào ( sức lao động, máy móc thiết bị, nguyên
vật liệu ) đến khi đa chúng vào sản xuất và cuối cung là đa sản phẩm ra thị trờng.
Nh vậy, xét về chu kỳ sản xuất kinh doanh thì nguyên vật liệu nằm ở khâu đầu
tiên, nó chi phối ảnh hỏng và chịu sự chi phối của các khâu tiếp theo.
-` Xét về mặt vật chất, chất lợng của nguyên vật liệu ảnh hởng trực tiếp
đến chất lợng của sản phẩm. Do vậy, bảo đảm chất lợng là một biện pháp góp
phần nâng cao chất lợng sản phẩm.
4

- Xét về mặt tài chính, vốn bỏ ra mua nguyên vật liệu thờng chiếm một tỷ
lệ lớn trong vốn lu động (khoảng từ 40 đến 60% trong tổng số vốn lu động). Do
đó quản lý tốt nguyên vật liệu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lu
động và vốn kinh doanh.
- Xét về chi phí: trong cơ cấu giá thành yếu tố nguyên vật liệu cũng chiếm
một tỷ trọng cao (thờng từ 60 đến 80%). Điều này cho thấy sử dụng hợp lý và tiết
kiệm nguyên vật liệu là biện pháp cơ bản để hạ giá thành.
Nguyên vật liệu còn liên quan mật thiết có tính nhân quả tới kế hoạch sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nguyên vật liệu còn là đầu vào của quá trình sản xuất
kinh doanh, việc cung cấp kịp thời đúng số lợng, chủng loại với giá cả hợp lý sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
II. Nội dung của công tác quản lý nguyên vật liệu trong

Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu là cơ sở để tiến hành hạch toán
kinh tế nội bộ, là cơ sở để tính toán giá thành chính xác, đồng thời còn là cơ sở
để tính toán nhu cầu về vố lu động và huy động các nguồn vốn một cách hợp lý.
Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu là mục tiêu cụ thể để thúc đẩy
cán bộ công nhân viên sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu, ngăn ngừa
mọi lãng phí có thể xảy ra.
Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu là thớc đo đánh giá trình độ
tiến bộ khoa học kỹ thuật và ứng dụng kỹ thuật mới, công nghệ mới vào sản xuất.
Ngoài ra , định mức tiêu dùng nguyên vật liệu còn là cơ sở để xác định các mục
tiêu cho các phong trào thi đua hợp lý hoá để sản xuất và cải tiến kỹ thuật trong
các doanh nghiệp.
Ngoài những ý nghĩa quan trọng nêu trên còn một điều quan trọng nữa đối
với cán bộ công nhân viên chức trong doanh nghiệp là phải nhận thức rằng: Định
mức tiêu dùng nguyên vật liệu là một chỉ tiêu động, nó đòi hỏi phải thờng xuyên
đợc đổi mới và hoàn thiện theo sự tiến bộ của kỹ thuật, sự hoàn thiện và đổi mới
của các mặt quản lý, sự đổi mới của công nhân không ngừng đợc nâng cao. Nếu
không nhận thức đợc vấn đề này thì ngợc lại là sự cản trở và kìm hãm sản xuất.
c. Phơng pháp xây dựng định mức tiêu dùng nguyên vật liệu :
Phơng pháp xây dựng định mức tiêu dùng nguyên vật liệu, có ý nghĩa
quyết định tới chất lợng của định mức. Tuỳ theo những đặc điểm kinh tế kỹ thuật
và những điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà lựa chọn phơng pháp xây
dựng định mức thích hợp. Trong thực tiễn có ba phơng pháp xây dựng định mức.
- Phơng pháp thống kê kinh nghiệm:
Đây là phơng pháp xây dựng cơ cấu định mức dựa vào hai căn cứ đó là
các số liệu thống kê về định mức tiêu dùng nguyên vật liệu của kỳ báo cáo và
những kinh nghiệm của công nhân tiên tiến trên cơ sở đó dùng phơng pháp bình
quân gia quyền để xác định định mức.
6

Phơng pháp này đơn giản, dễ vận dụng có thể tiến hành nhanh chóng, kịp

phơng pháp phấn đấu giảm định mức.
2. Công tác tiếp nhận nguyên vật liệu:
7

Tiếp nhận là bớc chuyển giao trách nhiệm giữa bộ phận mua, vận chuyển
với bộ phận quản lý nguyên vật liệu trong nội bộ doanh nghiệp, là cơ sở để hạch
toán chính xác phí lu thông và giá cả nguyên vật liệu.
Tổ chức tiếp nhận tốt sẽ tạo điều kiện cho thủ kho nắm chắc số lợng, chất
lợng và chủng loại nguyên vật liệu, phát hiện kịp thời tình trạng của nguyên vật
liệu, hạn chế hiện tợng nhầm lẫn, tham ô, thiếu trách nhiệm có thể xảy ra. Xuất
phát từ đó, tổ chức tiếp nhận phải thực hiện hai nhiệm vụ sau:
Một là phải tiếp nhận một cách chính xác về chất lợng, số lợng và chủng
loại nguyên vật liệu, theo đúng nội dung điều khoản đã ký kết hợp đồng kinh tế,
hoá đơn, phiếu giao hàng, phiếu vận chuyển, thời hạn thực hiện.
Hai là phải vận chuyển một cách nhanh chóng nhất để đa nguyên vật liệu
từ địa điểm tiếp nhận vaò kho của doanh nghiệp, tránh h hỏng, mất mát và đảm
bảo sẵn sàng cấp phát cho sản xuất .
Tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu cũng còn có ý nghĩa trong công tác sử
dụng đảm bảo chất lọng nguyên vật liệu tốt là góp phần tránh gây lãng phí khi sử
dụng biểu hiện khi nguyên vật liệu kém phẩm chất bị loại khỏi dây chuyền sản
xuất. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, công tác tiếp nhận phải tuân thủ những yêu
cầu sau:
- Mọi nguyên vật liệu phải có đầy đủ giấy tờ hợp lệ.
- Mọi nguyên vật liệu tiếp nhận phải qua thủ tục kiểm nhận và kiểm
nghiệm, xác định chính xác số lợng, chất lợng, chủng loại. Phải có biên bản xác
nhận về kiểm tra.
- Khi tiếp nhận thủ kho ghi số thực nhận, cùng với ngời giao hàng ký vào
phiếu nhập kho và vào cột nhập của thẻ kho, chuyển phiếu nhập kho cho bộ phận
kế toán nhận vào sổ giao nhận chứng từ.
Bên doanh nghiệp và bên cung ứng phải thống nhất địa điểm tiếp nhận,

Dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy.
Nguyên vật liệu nhập trớc - xuất trớc
Nguyên vật liệu nhập sau - xuất sau.
Xuất phát từ nhiệm vụ trên, nội dung chủ yếu của tổ chức bảo quản gồm:
Một là: cán bộ kho phải có hệ thống sổ sách để theo dõi quản lý nguyên
vật liệu, sổ sách phải theo nguyên tắc cập nhật, ghi sổ theo nguyên tắc luỹ kế sao
cho dòng cuối cùng của sổ phản ánh lợng nhập, xuất, tồn đến thời điểm đó.
Hai là: việc cung ứng nguyên vật liệu có đảm bảo hay không về số lợng và
chất lợng thì định kỳ 10 đến 15 ngày thủ kho phải thông báo lợng tồn kho và tình
trạng của từng loại nguyên vật liệu tồn kho để trởng phòng vật t biết làm cơ sở
cho việc xây dựng kế hoạch tiến độ mua nguyên vật liệu.
Ba là: kho phải có hệ thống nội quy, quy chế nh nội quy ra vào, nội quy
bảo quản, nội quy về nhập, xuất nguyên vật liệu, nội quy phòng hoả hoạn, nội
9

quy kiểm tra định kỳ và các quy chế nh: quy chế về khen thởng, quy chế về sử lý
nguyên vật liệu thừa, thiếu, mất mát, h hỏng... nhằm đa công tác bảo quản đi vào
nề nếp.
4. Công tác cấp phát nguyên vật liệu:
Cấp phát nguyên vật liệu là hình thức chuyển nguyên vật liệu từ kho tới
các bộ phận sản xuất. Cấp phát nguyên vật liệu một cách chính xác, kịp thời cho
các bộ phận sản xuất sẽ tạo điều kiện thuận lợi để tận dụng triệt để và có hiệu
quả công suất thiết bị và thời gian lao động của công nhân, máy móc thiết bị làm
cho sản xuất đợc tiến hành liên tục, từ đó làm tăng chất lợng sản phẩm đồng thời
làm giảm giá thành của sản phẩm. Tổ chức tốt việc cấp phát nguyên vật liệu còn
là điều kiện tốt cho việc thực hiện chế độ trả lơng theo sản phẩm và chế độ hạch
toán kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp.
Trong thực tế ngời ta thờng sử dụng hai hình thức cấp phát:
a. Cấp phát theo yêu cầu của phân xởng hoặc đơn vị sử dụng:
Hình thức cấp phát này chủ yếu dựa vào nhu cầu của các đơn vị, phòng vật

phát nguyên vật liệu, thực hiện tốt các quy định của Nhà nớc và của doanh
nghiệp.
5. Công tác theo dõi sử dụng và thu hồi phế liệu phế phẩm:
Giữa bộ phận sử dụng và bộ phận quản lý nguyên vật liệu phải có sự trao
đổi thờng xuyên để thực hiện đợc việc hạch toán và đánh giá tình hình sử dụng
nguyên vật liệu. Đối chiếu giữa lợng nguyên vật liệu nhận về với số lọng sản
phẩm giao nộp, nhờ đó mới chỉ đảm bảo đợc việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm
nguyên vật liệu, bảo đảm hạch toán đầy đủ, chính xác nguyên vật liệu và giá
thành. Khi tiến hành thanh quyết toán phải tính riêng cho từng loại nguyên vật
liệu, thời gian tiến hành thanh quyết toán tuỳ thuộc vào độ dài của chu kỳ sản
xuất, có thể là một tháng hoặc một quý tiến hành một lần.
Nội dung của biểu thanh quyết toán phải phản ánh đợc:
- Lợng nguyên vật liệu nhận trong tháng hoặc quý.
- Lợng nguyên vật liệu sản xuất ra sản phẩm.
- Lợng nguyên vật liệu làm ra sản phẩm hỏng và kém chất lợng.
- Lợng nguyên vật liệu còn tồn đọng.
- Lợng nguyên vật liệu mất mát, hao hụt.
- Đánh giá chung tình hình sử dụng nguyên vật liệu.
Về mặt nguyên tắc mọi phế liệu, phế phẩm của các đơn vị sử dụng đều
phải nộp về kho phế liệu của Công ty. Sau khi thanh quyết toán cần có chế độ
kích thích vật chất thoả đáng, nên sử dụng vật t tiết kiệm thì đơn vị và cá nhân đ-
ợc thởng từ 30% đến 50% giá trị tiết kiệm và tiếp tục tính vào điểm thi đua.
III. Kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu trong các doanh
nghiệp
11

1. Căn cứ xây dựng kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu trong các
doanh nghiệp
Kế hoạch này là một bộ phận của hệ thống kế hoạch công nghiệp. Nhiệm
vụ của kế hoạch này là xác định chính xác lợng nguyên vật liệu cần có để đảm

12

kết hợp đồng mua bán nguyên vật liệu, tổ chức vận chuyển, tổ chức tiếp nhận,
bảo quản cấp phát cho nhu cầu sử dụng và thu hồi phế liệu.
Việc tính toán các chỉ tiêu kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu đợc thực
hiện theo hai phơng pháp :
- Đối với các loại nguyên vật liệu có định mức tiêu hao thì tính trực tiếp:
Số lợng sản phẩm * định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm.
- Đối với những loại nguyên vật liệu cha xây dựng đợc định mức thì dùng
phơng pháp tính gián tiếp mức tiêu hao ký trớc* tỉ lệ tăng sản lợng của năm nay.
3. Các chỉ tiêu của kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu trong các doanh
nghiệp
Toàn bộ lợng nguyên vật liệu cần mua trong năm để phục vụ cho sản xuất
đợc thể hiện thông qua kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu của các doanh nghiệp.
Nội dung cuả kế hoạch này đợc thể hiện qua 3 chỉ tiêu:
a. Lợng nguyên vật liệu cần dùng:
Lợng nguyên vật liệu cần dùng là lợng nguyên vật liệu đợc sử dụng một
cách hợp lý và tiết kiệm trong kỳ kế hoạch (thông thờng là một năm). Lợng vật
liệu cần dùng phải đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất sản phẩm cả về mặt
hiện vật và giá trị, đồng thời cũng phải tính đến nhu cầu vật liệu cho chế thử sản
phẩm mới, tự trang tự chế, sửa chữa máy móc thiết bị ...
Lợng nguyên vật liệu cần dùng đợc tính toán cụ thể cho từng loại, từng thứ
theo quy cách, cỡ loại của nó ở từng bộ phận sử dụng, sau đó tổng hợp lại cho
toàn doanh nghiệp. Khi tính toán phải dựa trên cơ sở định mức tiêu dùng nguyên
vật liệu cho một sản phẩm, nhiệm vụ sản xuất, chế thử sản phẩm mới và sửa chữa
trong kỳ kế hoạch. Tuỳ thuộc vào từng loại nguyên liệu, từng loại sản phẩm
(hoặc công việc), đặc điểm kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp mà vận dụng
phơng pháp tính toán thích hợp.
a.1. Tính lợng nguyên vật liệu chính cần dùng:
Để tính lợng nguyên vật liệu chính cần dùng, ta có thể dùng nhiều phơng

pi
)(1 - K
di
)]
i=1
Trong đó :
V
cd
: lợng vật liệu cần dùng
S
i
: số lợng sản phẩm loại i kỳ kế hoạch
D
vi
: Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm loại i.
P
i
: Số lợng phế phẩm cho phép của loại sản phẩm i kỳ kế hoạch
P
di
: Số lợng phế liệu dùng lại của sản phẩm loại i.
K
pi
: Tỷ lệ phế phẩm cho phép loại sản phẩm i kỳ kế hoạch.
K
di
: Tỷ lệ phế liệu dùng lại loại sản phẩm i kỳ kế hoạch.
- Tính theo tỉ lệ chế thành :
n
V

=
N
i
7000
K
i
: hệ số quy đổi than từ các vùng khác nhau ra than tiêu chuẩn
N
i
: nhiệt lợng toả ra của 1 Kg than ở vùng (i) tơng ứng.
Công thức nhiệt lợng than cần dùng :
NL
cd
=
D
ni
* S
i
K
i
NL
cd
: lợng nhiên liệu cần dùng
D
ni
: định mức tiêu dùng nhiên liệu cho một đơn vị sản phẩm.
S
i
: số lợng sản phẩm sử dụng than tiêu chuẩn loại i.
K

dx
: Lợng nguyên vật liệu dự trữ thờng xuyên lớn nhất.
V
n
: Lợng nguyên vật liệu cần dùng bình quân một ngày đêm.
t
n
: Thời gian dự trữ thờng xuyên
Lợng nguyên vật liệu dùng bình quân phụ thuộc vào qui mô của doanh
nghiệp, còn thời gian dự trữ thuộc vào thị trờng mua ... nguồn vốn lu động và độ
dài của chu kỳ sản xuất.
Lợng nguyên vật lệu dự trữ thờng xuyên đợc minh hoạ qua sơ đồ :
b.2. Tính lợng nguyên vật liệu dự trữ bảo hiểm:
Lợng nguyên vật liệu dự trữ bảo hiểm là lợng nguyên vật liệu cần thiết tối
thiểu để đảm bảo cho sản xuất tiến hành đợc bình thờng (do các lần mua bị lỡ
hẹn). Công thức xác định:
V
db =
V
n *
t
b
Trong đó :
V
db
: Lợng nguyên vật liệu bảo hiểm
V
n :
Lợng nguyên vật liệu cần dùng bình quân một ngày đêm
t

- Lợng nguyên vật liệu cần dùng
- Lợng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ
- Lợng nguyên vật liệu dự trữ cuối kỳ
Công thức xác định:
V
c
= V
cd
+ V
d2
- V
d1
Trongđó:
V
c
: Lợng nguyên vật liệu cần mua
V
cd
: Lợng nguyên vật liệu cần dùng
V
d1
: Lợng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ kế hoạch
V
d2
: Lợng nguyên vật liệu dự trữ cuối kỳ
- Lợng nguyên vật liệu dự trữ cuối kỳ tính theo công thức:
V
d1
= ( V
k

17

Ví dụ nh tỉ lệ đờng trong cây mía, tỷ lệ dầu trong cây hạt có dầu, tỷ lệ thịt
trong xúc vật sống, tỷ lệ bông sơ trong bông hạt ... vì vậy, hệ số naỳ càng lớn
càng tốt.
2. Hệ số sử dụng chất có ích trong nguyên vật liệu ( H
2
):
H
2
=
Trọng lợng chất có ích thu đợc
Trọng lợng chất có ích trong nguyên vật liệu

Hệ số này càng lớn càng tốt.
3. Hệ số thành phẩm (H
3
):
Hệ số thành phẩm thu đợc từ một lợng nguyên vật liệu đa vào chế biến.
Với đặc tính khác nhau của mỗi loại nguyên liệu đa vào chế biến, sẽ có phơng
pháp tính toán khác nhau, chẳng hạn:
- Đối với ngành công nghiệp chế biến đờng từ cây mía, hệ số thành
phẩm đợc tính theo công thức :
H
3
= H
1 *
H
2
- Đối với ngành sử dụng năng lợng, hệ số thành phẩm xác định bằng

nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ. Ngời ta so sánh chỉ tiêu này với các định mức
kinh tế kỹ thuật hiện hành hoặc đối chiếu mức hao hụt kỳ trớc để đa ra các quyết
định thích hợp nhằm sử dụng nguyên vật liệu tiết kiệm, đúng mức phù hợp với
thực tế sản xuất và có hiệu quả.
V. Phơng hớng và biện pháp sử dụng hợp lý và tiết kiệm
nguyên vật liệu:
1. ý nghĩa của việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu:
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố của qúa trình sản xuất và là yếu tố
cấu thành nên thực thế của sản phẩm, chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành. Do đó,
việc phấn đấu sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu là một yêu cầu thờng
xuyên phải thực hiện trong các doanh nghiệp.
Nói chung, viêc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu trớc hết đòi
hỏi phải sử dụng đúng công dụng và mục đích của nguyên vật liệu, sử dụng theo
đúng định mức và phấn đấu hạ thấp định mức tiêu hao. Trong sản xuất chỉ có sản
xuất ra sản phẩm có chất lợng tốt, hạn chế và đi đến xoá bỏ việc sản xuất ra sản
phẩm hỏng, kém phẩm chât. Trong khâu bảo quản, hạn chế và xoá bỏ mọi tổn
thất do mất mát, h hỏng và hao hụt.
Sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu là một chính sách của Đảng,
đồng chí Lê Duẩn đã chỉ rõ:Tận dụng mọi vật t hiện có, tăng cờng thu nhặt, thu
mua vật t cũ. Cải tiến và tăng cờng sử dụng vật t đúng phơng hớng, đúng mục
đích, phấn đấu hạ thấp định mức tiêu hao vật t, hết sức khuyến khích tiết kiệm
vật t, đồng thời có kỷ luật nghiêm khắc đối với những hành động sử dụng vật t
không đúng kế hoạch, tiêu hao vật t bừa bãi, để vật t mất mát h hỏng.
Sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu là một biện pháp cơ bản để
tăng số lợng sản xuất, tăng chất lợng sản phâm, góp phần vào viêc giảm nhu cầu
về vốn dự trữ nguyên liệu, vốn nhập khẩu nguyên liệu, tiết kiệm ngoại tệ. Trong
cơ cấu gía thành sản phẩm, chi phí về nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn (khoảng
từ 60-80%) cho nên sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu là phơng hớng
chủ yếu để hạ giá thành sản phẩm.
19

Để khắc phục nhợc điểm nó, việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã tạo điều kiện
hiện thực cho vấn đề này.
Ta có thể thấy đợc vấn đề sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu đợc
đặt ra trong cơ chế quản lý vĩ mô và quản lý vi mô. Với Nhà nớc thì sử dụng hợp
lý và tiết kiệm nguyên vật liệu nhằm tăng hiệu quả của việc sử dụng các tiềm
20

năng đặc biệt là những nguồn khả năng khai thác chỉ có hạn. Đối với doanh
nghiệp, đẩy mạnh việc giảm giá thành đơn vị sản phẩm là biện pháp chủ yếu mà
doanh nghiệp cần phấn đấu.
Trong bất kỳ doanh nghiệp nào, việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên
vật liệu đều phải dựa trên cơ sở phân tích một cách khoa học tình hình sử dụng
nguyên vật liệu để đa ra phơng hớng và giải pháp cụ thể phù hợp với đặc điểm
kinh tế kỹ thuật của từng doanh nghiệp. Sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật
liệu vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mỗi doanh nghiệp và thờng đợc thực
hiện theo những phơng hớng và biện pháp sau:
a. Không ngừng giảm bớt phế liệu, hạ thấp định mức tiêu dùng nguyên
vật liệu:
Giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm là yếu tố
quan trọng để tiết kiệm nguyên vật liệu trong qúa trình sản xuất song muốn khai
thác triệt để yếu tố này phải phân tích cho đợc các nguyên nhân làm tăng, giảm
mức tiêu hao nguyên vật liệu từ đó đề ra các biện pháp cụ thể nhằm tiết kiệm đợc
nhiều nguyên vật liệu trong sản xuất. Muốn vậy, các doanh nghiệp tập trung cần
giải quyết các vấn đề sau:
- Tăng cờng cải tiến kỹ thuật, ứng dụng kỹ thuật - công nghệ mới vào sản
xuất nâng cao trình độ lành nghề cho cán bộ công nhân viên.
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống định mức tiêu dùng nguyên vật
liệu,xây dựng chế độ bảo quản, sử dụng và sửa chữa máy móc thiết bị coi trọng
công tác hạch toán nguyên vật liệu.
- áp dụng chế độ khuyến khích vật chất trong việc sử dụng hay lãng phí

nhằm khuyến khích việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu. Đặc biệt
trong việc quản lý kho và bảo quản nguyên vật liệu trong kho là công việc rất
quan trọng quyết định chất lợng sản phẩm.
f. Nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân viên:
Cùng với việc nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ chế biến cũng nh tổ
chức sản xuất, tổ chức quản lý còn cần phải nâng cao năng lực làm chủ của đội
ngũ ngời lao động. Bởi vì chính họ là những chủ thể quyết định đến việc quản lý
nói chung và sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu nói riêng.
g. Xoá bỏ mọi hao hụt, mất mát, h hỏng nguyên vật liệu do nguyên
nhân chủ quan gây ra:
Để thực hiện tốt phơng hớng này cần nâng cao trách nhiệm trong công tác
thu mua, vận chuyển, bao gói, bốc dỡ, kiểm nghiệm, bảo quản nguyên vật liệu
trong kho và cấp phát nguyên vật liệu cho sản xuất. Doanh nghiệp cần có hệ
thống quy chế thởng phạt thích đáng, có chế độ trách nhiệm rõ ràng.
Sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu là một biện pháp có tính khách
quan của mọi nền kinh tế sản xuất nhng do đặc điểm của nền kinh tế nớc ta còn
phát triển chậm, cơ sở nguyên vật liệu cha đáp ứng đợc nhu cầu sản xuất, lợng
22

nguyên vật liệu nhập ngoại lớn nên là biện pháp quan trọng hàng đầu để nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh cuả các doanh nghiệp.
Những phơng hớng và biện pháp trên đợc xây dựng, lựa chọn áp dụng
trong tất cả các khâu vận động của nguyên vật liệu trong qúa trình sản xuất, từ
khâu thiết kế sản phẩm, lựa chọn và sơ chế nguyên vật liệu, tổng hợp sử dụng đến
việc tận thu, tận dụng phế liệu, phế phẩm cùng với việc nâng cao trình độ kỹ
thuật và công nghệ chế tạo, cũng nh hoàn thiện tổ chức sản xuất, tổ chức bộ máy
quản lý còn cần phải nâng cao năng lực làm chủ của đội ngũ ngời lao động về
mọi mặt.
23


triển nông nghiệp đồng thời phát triển công nghiệp nhẹ phục vụ nông nghiệp,
24

trên cơ sở đó từ ngày 11/1959, Tổng Công ty thổ sản Miền Bắc đã cho xây dựng
một cơ sở thực nghiệm nghiên cứu trân châu với 9 cán bộ công nhân của Công ty
gửi sang. Đầu năm 1960, thực hiện chủ trơng của Công ty đã đi sâu vào nghiên
cứu và sản xuất các mặt hàng miến(sản phẩm đầu tiên) từ nguyên liệu đậu xanh
để cung cấp cho nhu cầu của nhân dân. Đến 25/12/1960 xởng miến Hoàng Mai
ra đời và đi vào hoạt động với những máy móc thiết bị thô sơ - đánh dấu một bớc
ngoặt đầu tiên cho sự phát triển của nhà máy sau này.
Thời kỳ 1962 - 1967 xí nghiệp đã thử nghiệm thành công và đa vào
sản xuất các mặt hàng nh dầu và tinh bột ngô cung cấp cho nhà máy pinVăn
Điển. Năm 1966, Viện thực vật lấy đây là cơ sở vừa sản xuất vừa thử nghiệm các
đề tài thực phẩm từ đó phổ biến cho các địa phơng sản xuất nhằm giải quyết hậu
cần tại chỗ tránh đợc ảnh hởng của chiến tranh. Từ đó nhà máy đổi tên là Nhà
máy thực nghiệm thực phẩm Hải Hà, ngoài sản xuất tinh bột nhà máy còn sản
xuất viên đạm, trao tơng, nớc chấm lên men...
Năm 1968, nhà máy trực thuộc Bộ lơng thực thực phẩm quản lý và đến
tháng 6 /1970 thực hiện chỉ thị của Bộ lơng thực thực phẩm nhà máy đã tiếp nhận
phân xởng kẹo của Hải Châu bàn giao sang với công suất 900 tấn/năm và nhiệm
vụ chính là sản xuất kẹo, mạch nha, tinh bột... và đợc đổi tên là nhà máy thực
phẩm Hải Hà với tổng số cán bộ công nhân viên là 555 ngời, cũng trong thời gian
này đội ngũ cán bộ công nhân viên của nhà máy không ngừng đợc tăng lên và
luôn hoàn thành kế hoạch nhà nớc giao. Thực hiện kế hoạch 5 năm 1976-1980
nhà máy thực phẩm Hải Hà cùng cả nớc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong thời
gian đó nhà máy đã đầu t đổi mới cải tiến kỹ thuật, từng bớc mở rộng quy mô sản
xuất đến tháng 12/1976 đã phê chuẩn mở rộng thiết kế nhà máy với công suất
6000 tấn/năm và năm 1980 tổng diện tích mặt hàng sử dụng là 22.500 m
2
và 900


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status