Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ PHÚ LƯỢNG

PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ PHÚ LƯỢNG

PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số : 838.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Chương 3. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH
CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ THI HÀNH TẠI TỈNH THỪA
THIÊN HUẾ .............................................................................................................68
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
...................................................................................................................................68
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất ..............................................................................................................................70
3.3. Kiến nghị thi hành pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại
tỉnh Thừa Thiên Huế .................................................................................................74
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ

:

Ban chỉ đạo

BT, HT & TĐC :

Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

CNH, HĐH

:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa


NSDĐ

:

Người sử dụng đất

QPPL

:

Quy phạm pháp luật

TĐC

:

Tái định cư

THĐ

:

Thu hồi đất

UBND

:

Ủy ban nhân dân



58

năm 2017
1.2.

1.3.

Số liệu diện tích đất thu hồi tỉnh Thừa Thiên Huế từ
năm 2012-2017
Số liệu tổ chức, hộ gia đình bị thu hồi đất (hộ, tổ
chức) tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2012-2017

59

60


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế quốc tế như vũ bảo hiện nay,
Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đổi mới, nỗ lực nhằm xây dựng và hoàn thiện
hệ thống Pháp luật thống nhất, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện đại và
Pháp luật quốc tế. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay để đáp ứng ngày càng lớn yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước,
hội nhập vào kinh tế, quốc tế thì nhu cầu sử dụng đất đai càng nhiều. Việc đầu tư
các công trình công cộng, mở rộng đô thị, phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư xây dựng
cơ bản là kết quả tất yếu. Việc chuyển mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang
phi nông nghiệp là yêu cầu thực tế khách quan. Tuy nhiên, Pháp luật liên quan đến
đất đai là một vấn đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, trong đó liên quan đến công tác

huy những mặt phù hợp, khắc phục những điểm tồn tại, hạn chế trong quá trình triển
khai, thực hiện phù hợp, đồng bộ hơn trong thực tiễn. Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề
tài:“Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Thừa
Thiên Huế” làm luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một chế định của pháp luật đất
đai. Là một trong những khâu quan trọng trong việc triển khai các dự án, công trình
phục vụ cho quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng do đó thu hút
được sự quan tâm của nhiều người, trong đó có giới nghiên cứu và cả các cơ quan
lập pháp, hành pháp. Đến nay vấn đề về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều phương diện
khác nhau. Có thể đề cập một số công trình, bài báo sau đây:
Luận văn thạc sĩ Luật học của của Huỳnh Tấn Tài "Pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn quận 11 Thành Phố Hồ Chí Minh" năm 2017;
Luận văn thạc sỹ Luật học của của Trần Lê Trường Sơn "Pháp Luật vềhỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam" năm 2017;
Luận văn Thạc sĩ Luật học, chuyên ngành Luật Kinh tế, đề tài: Pháp luật về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn Thị xã An Khê,
tỉnh Gia Lai của Nguyễn Thị Châu - Học viện Khoa học Xã hội – 2016.

2


Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công
tác bồi thường, hỗ trợ đối với các khu vực thu hồi đất để phát triển công nghiệp trên
địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần
hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi, ThS. Nguyễn
Văn Chiến - Viện Nghiên cứu quản lý đất đai năm 2009;
Ngân hàng thế giới (2010), báo cáo nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết
khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam.

nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế là cần thiết về lý luận và thực
tiễn, không trùng lắp với các công trình đã công bố, góp phần thiết thực phù hợp với
nhu cầu thực tiễn hiện nay ở địa phương.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế; từ đó đề xuất một số giải
pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên
cơ sở hệ thống hóa lý thuyết của chính sách, pháp luật về hỗ trợ, tái định cư.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Mặt dù công trình nghiên cứu chưa phải là hoàn toàn mới so với tình hình
nghiên cứu đã được công bố nhưng luận văn hướng đến mục tiêu giải quyết một số
nội dung sau:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất;
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất của nước ta hiện nay;
- Phân tích, đánh giá thực hiện Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất từ thực tiễn Tỉnh Thừa Thiên Huế;
- Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về hỗ
trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà

4


nước THĐ, cụ thể:



thẩm quyền phê duyệt. Bên cạnh, tác giả nghiên cứu và sử dụng các tư liệu
nghiên cứu trước đây về lĩnh vực hỗ trợ và tái định cư thông qua các đề tài,
công trình nghiên cứu, bài viết… ở các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội
tương đồng, của các tác giả có uy tín.
Phương pháp thu thập thông tin, số liệu và xử lý các thông tin, phân tích số liệu
thu thập được. Phương pháp này thể hiện bởi hoạt động khảo sát, thu thập thông tin, số
liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; số liệu về hiện trạng sử dụng đất; số liệu về
thu hồi đất, hỗ trợ và tái định cư trong phạm vi nghiên cứu đã đề ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của Pháp luật về
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Bằng kết quả khảo sát thực tế, kết hợp những kinh nghiệm rút ra được qua
thực tế công tác, những kiến thức được trang bị trong quá trình học chương trình
Cao học Luật Kinh tế, học viên tập trung phân tích, nghiên cứu tìm ra những
nguyên nhân của những hạn chế trong công tác hỗ trợ, tái định cư. Từ đó, đề ra các
giải pháp khắc phục cụ thể, kiến nghị những nội dung cần quan tâm khi xây dựng,
bổ sung, chỉnh sửa cơ chế chính sách khi Nhà nước thu hồi đất. Do đó, tôi hy vọng
đề tài là một tài liệu có giá trị tham khảo, ứng dụng trên thực tế đối với hoạt động
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất, nhất là những nơi có nhiều
dự án đầu tư đang được triển khai.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là nguồn tài liệu tham khảo cần
thiết và đáng tin cậy đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động
ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về đất đai liên quan tới lĩnh
vực hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, góp phần giúp nhân dân nhận thức
đầy đủ hơn về quy định của pháp luật qua hệ thống hóa ở phần lý luận.
7. Cơ cấu của luận văn

tài sản khác trong doanh nghiệp… Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và
quyền thừa kế của công dân” (Điều 58). Hơn nữa, Hiến pháp năm 1992 còn ghi
nhận: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa. Trong trường
hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước
trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời
giá thị trường…” (Điều 23)[28].
Như vậy, quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức đã
được Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ. Khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì toàn bộ tài sản hợp
pháp gắn liền với đất bị thu hồi do người sử dụng đất tạo ra được xác định là tài sản
hợp pháp của cá nhân và phải được bồi thường theo giá thị trường. Đối với trường
hợp người sử dụng đất bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở, Nhà nước thực hiện
chính sách tái định cư cho các đối tượng này.
Thứ hai, xét về bản chất, Nhà nước ta do nhân dân lao động thiết lập nên, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Nhà nước theo đuổi sứ mạng

8


cao cả và mang đầy tính nhân văn là phục vụ và chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh
của nhân dân. Đặt trong ý nghĩa đó, khi Nhà nước thu hồi đất ở của người dân để sử
dụng bất kì vào mục đích gì (cho dù sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế) mà họ phải di chuyển chỗ ở thì
Nhà nước phải có bổn phận và nghĩa vụ bồi thường và thực hiện việc tái định cư
nhằm làm cho người sử dụng đất sớm ổn định cuộc sống.
Thứ ba, xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người sử dụng đất
là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Hơn nữa
trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, mọi chủ thể trong xã hội bao gồm Nhà nước,
công dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội… đều bình đẳng với nhau trước
pháp luật. Nước ta đang từng bước xây dựng một xã hội văn minh và hiện đại nơi

dụng đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai được chủ sở hữu đất đai chuyển giao
cho người sử dụng đất thực hiện và trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở
hữu của người sử dụng đất” hay nói cách khác “Quyền sở hữu đất đai thuộc về
toàn dân do Nhà nước đại diện, còn quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của
người sử dụng đất”.
Chính nhờ việc tìm ra cách thức giao quyền sử dụng đất cho người lao động
trên cơ sở vẫn giữ nguyên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nhằm duy trì sự ổn
định về chính trị - xã hội tạo tiền đề cho việc phát triển kinh tế mà Việt Nam và
Trung Quốc “gặp nhau” ở điểm chung này và hai nước đã thực hiện thành công
cuộc cải cách kinh tế mà không gặp thất bại như Liên xô (cũ) và các nước
XHCN Đông Âu trước đây. Đánh giá về vấn đề này, PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa
cho rằng: “Sáng tạo ra khái niệm “quyền sử dụng đất” cả người Việt Nam và
người Trung Quốc dường như đã tạo ra một khái niệm sở hữu kép, một khái
niệm sở hữu đa tầng: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, song quyền sử dụng lại
thuộc về cá nhân hay tổ chức”. Cùng chung quan điểm này, GS.TSKH. Đặng
Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận xét: “Chế độ
sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính thuật ngữ… Quyền lợi và
nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa
vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước”.
Như vậy, bằng việc pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền của người sử dụng đất
thì dường như người sử dụng đất ở nước ta là người “sở hữu” một loại quyền về tài

10


sản đó là “quyền sử dụng đất”. Bởi lẽ, người sử dụng đất được pháp luật trao cho
các quyền năng liên quan đến quyền sử dụng đất: quyền chuyển nhượng, quyền
chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất; quyền thế
chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Một khi pháp luật đã thừa nhận
quyền sử dụng đất là một loại quyền về tài sản của người sử dụng đất, thì khi Nhà


lý luận về quản lý nhà nước đối với đất đai, làm rõ những đặc điểm của quản lý nhà
nước đối với đất đai hiện nay. Nhà nước ta sẽ không tư nhân hóa đất đai, nhưng các
quyền của Nhà nước trao cho NSDĐ sẽ ngày càng mở rộng, tuy các quyền đó chỉ
tiệm cận đến QSH.
Từ khi Luật đất đai thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại tài sản dân sự đặc
biệt (1993) thì quyền sở hữu đất đai thực chất cũng là quyền sở hữu một loại tài sản
dân sự đặc biệt. Vì vậy khi nghiên cứu về quan hệ đất đai, ta thấy có các quyền
năng của sở hữu nhà nước về đất đai bao gồm: quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử
dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai. Các quyền năng này được Nhà nước thực
hiện trực tiếp bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất đai.
Nhà nước không trực tiếp thực hiện các quyền năng này mà thông qua hệ thống các
cơ quan nhà nước do Nhà nước thành lập ra và thông qua các tổ chức, cá nhân sử
dụng đất theo những quy định và theo sự giám sát của Nhà nước[22].
Hoạt động trên thực tế của các cơ quan nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiện
quyền sở hữu nhà nước về đất đai rất phong phú và đa dạng, bao gồm 9 nội dung
quản lý nhà nước về đất đaiđã quy định ởĐiều 22, Luật Đất đai 2013 như sau:
1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chứcthực hiện văn bản đó;
2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính;
3. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất;
4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất;
6. Quản lý việc bồi thường,hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất;
7. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
8. Thống kê, kiểm kê đất đai;
9. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai;

của các ngành, các cơ quan, tổ chức cũng khác nhau. Nhà nước với vai trò chủ quản
lý đất đai thực hiện phân phối đất đai cho các chủ sử dụng; theo quá trình phát triển
của xã hội, Nhà nước còn thực hiện phân phối lại quỹ đất đai cho phù hợp với từng

14


giai đoạn lịch sử cụ thể. Để thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai, Nhà
nước đã thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng đất giữa các chủ thể khác nhau,
thực hiện việc điều chỉnh giữa các loại đất, giữa các vùng kinh tế. Hơn nữa, Nhà
nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất,
cho phép chuyển quyền sử dụng đất và thu hồi đất[41].Vì vậy, Nhà nước quy hoạch
và kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai. Đồng thời, Nhà nước còn quản lý việc giao
đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; quản lý việc
chuyển quyền sử dụng đất; quản lý việc lập quy hoạch, kế hoạch và thực hiện quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Ba là,nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử dụng
đất đai. Hoạt động phân phối và sử dụng đất do các cơ quan nhà nước và do
người sử dụng cụ thể thực hiện. Để việc phân phối và sử dụng được phù hợp với
yêu cầu và lợi ích của Nhà nước, Nhà nước tiến hành kiểm tra giám sát quá trình
phân phối và sử dụng đất. Trong khi kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện các vi
phạm và bất cập trong phân phối và sử dụng, Nhà nước sẽ xử lý và giải quyết các
vi phạm, bất cập đó.
Bốn là,nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. Hoạt động
này được thực hiện thông qua các chính sách tài chính về đất đai như: thu tiền sử
dụng đất (có thể dưới dạng tiền giao đất khi Nhà nước giao đất có thu tiềnsử dụng
đất, có thể dưới dạng tiền thuê đất, có thể dưới dạng tiền chuyển mục đích sử dụng
đất), thu các loại thuế liên quan đến việc sử dụng đất (như thuế sử dụng đất, thuế
chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập cao có được từ việc chuyển quyền sử dụng
đất...) nhằm điều tiết các nguồn lợi hoặc phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do

2003 được ban hành, thu hồi đất mới được định nghĩa chính thức. Theo khoản 5
Điều 4 của Luật này thì: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để
thu lại quyền sử dụng đất (QSDĐ) hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban
nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”. Sau
đó, Luật Đất đai 2013 có quy định: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết
định thu lại QSDĐ của người được Nhà nước trao QSDĐ hoặc thu lại đất của
NSDĐ vi phạm pháp luật về đất đai” (khoản 11 Điều 3).
Như vậy, thu hồi đất được hiểu là một hành vi hành chính để Nhà nước thực
hiện quyền quản lý của mình, khởi nguồn cho hoạt động hỗ trợ, tái định cư mà đề
tài đang tập trung nghiên cứu.
16


Mặc dù có những khác biệt nhất định trong định nghĩa của các Luật Đất đai
nhưng thu hồi đất có một điểm chung là dẫn đến hậu quả pháp lý chấm dứt QSDĐ
của NSDĐ hoặc quyền quản lý đất đai của các chủ thể được Nhà nước giao đất để
quản lý (không phải là NSDĐ).
Xét trong mối quan hệ giữa Nhà nước và NSDĐ, thu hồi đất là một quá trình
“ngược” so với hoạt động giao đất, cho thuê đất. Khi bị thu hồi đất, NSDĐ không
còn QSDĐ với đất bị thu hồi và đương nhiên không còn quyền “chiếm hữu”, tác
động vào diện tích đất đó nữa. Do đó, việc thu hồi đất trước hết có tác dụng bảo vệ
quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai vì nó sẽ làm chấm dứt hành vi xâm hại đất
đai của những chủ thể vi phạm pháp luật đất đai. Thu hồi đất là một “khâu” quan
trọng của quá trình điều phối đất đai[39]. Là một quốc gia đang phát triển, việc
“luân chuyển” đất đai từ chủ thể này sang chủ thể khác, từ mục đích này sang mục
đích khác rất thường xuyên xảy ra. Do đó, thu hồi đất là hoạt động hỗ trợ đắc lực
nhất cho Nhà nước để thực hiện quá trình quản lý đất đai.
Bản chất của thu hồi đất:
a) Thu hồi đất là sự chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai sơ cấp giữa Nhà nước
và người sử dụng đất

nhận chuyển quyền sử dụng đất với bên thứ ba.
Thu hồi đất không chỉ làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai sơ cấp mà còn
nghiễm nhiên chấm dứt khả năng phát sinh các giao dịch của thị trường đất đai thứ
cấp giữa người sử dụng đất và các chủ thể dân sự khác. Kể từ thời điểm có quyết
định thu hồi đất, người sử dụng đất không có quyền chuyển nhượng dù là toàn bộ
hay một phần quyền của mình cho người khác. Những chủ thể không phải người sử
dụng đất nhưng có quyền và nghĩa vụ liên quan tới thửa đất bị thu hồi cũng sẽ chấm
dứt hoàn toàn mối quan hệ với đất bị thu hồi[39]. Ví dụ: đất bị thu hồi đang được
người sử dụng đất cho thuê làm nhà ở. Khi có quyết định thu hồi đất, quan hệ giữa
người cho thuê và người thuê sẽ chấm dứt. Hay đối với đất bị thu hồi đang được sử
dụng làm cơ sở sản xuất kinh doanh, việc thu hồi đất có thể dẫn đến chấm dứt sự
tồn tại của cơ sở này, đồng thời chấm dứt quan hệ đang tồn tại giữa người sử dụng
lao động và người lao động tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh.
Những phân tích về bản chất thu hồi đất như trên cho ta thấy tính hệ trọng của
sự kiện này. Nó có thể ảnh hưởng đến nhiều đối tượng chứ không chỉ riêng người
nắm giữ quyền sử dụng đất. Đất đai và bất động sản là sản nghiệp quan trọng đối
18


với người dân vì có giá trị cao, đồng thời là cơ sở để tiến hành hàng loạt các hoạt
động kinh doanh, sản xuất khác. Do vậy, ngoại trừ các trường hợp vi phạm quy định
về sử dụng đất thì việc thu hồi đất chỉ nên thực hiện trong những trường hợp hạn
hữu thật cần thiết. Bởi ngay cả khi Nhà nước quan tâm, chú trọng đến công tác bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư, người dân bị thu hồi đất thì việc ổn định lại cuộc sống
và khôi phục sinh kế cho người dân như trước là không hề đơn giản.
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm vai trò và ý nghĩa của pháp luật về hỗ trợ, tái
định cư
* Khái niệm pháp luật về hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Người Việt Nam chúng ta luôn tự hào với truyền thống “lá lành đùm lá rách”.
Vì thế, khi một người nào đó trong xã hội gặp những khó khăn thì các thành viên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status