VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHUẤT QUANG HÀ
QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quyền con người
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Phạm Hữu Nghị
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
KHUẤT QUANG HÀ
BT
Bồi thường
HT
Hỗ trợ
TĐC
Tái định cư
GPMB
Giải phóng mặt bằng
SDĐ
Sử dụng đất
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC BỒI
THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT ...................8
1.1. Tổng quan về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất...........8
1.2. Quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất:
như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Ý thức được điều đó, Đảng và Nhà
nước ta luôn nhất quán đường lối, chính sách là tôn trọng và bảo đảm quyền con
người, quyền công dân, lấy con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển.
Sau ba mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới, để đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ
trương, chính sách, pháp luật để cải thiện cuộc sống, thu hút vốn đầu tư từ các
thành phần kinh tế. Đất đai đã được coi là một trong những nguồn vốn quan
trọng, được đưa vào tham gia vốn liên doanh với một bên là doanh nghiệp Nhà
nước và bên kia là đối tác tham gia vốn lưu động, thiết bị, khoa học công nghệ,
tiêu thụ sản phẩm…
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt không có gì thay thế được, là thành phần quan trọng của môi trường sống và là
địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh
quốc phòng. Trong những năm qua, đất đai đã đóng góp đáng kể trong quá trình
hội nhập và xây dựng phát triển kinh tế xã hội đất nước.
Chính sách, pháp luật đất đai đã góp phần khai thác và phát huy có hiệu
quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi
trường... Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường; các
quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm; thị
trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất đã được hình thành và phát
triển nhanh.
Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất ở thì Hà Nội với tư cách là thủ đô,
là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của cả nước. Vì vậy, nhu cầu thu hồi
đất phục vụ cho mục đích quốc phòng, quốc gia và lợi ích công cộng là rất lớn.
Để có được mặt bằng phục vụ các dự án nêu trên thì Công tác bồi thường giải
1
2
Phạm Thu Thủy, Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp ở Việt Nam, Luận văn tiến sĩ (2014); Nguyễn Minh Tuấn, Thu hồi đất vì
mục đích kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ (2013); Đỗ Quang Dương,
Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
giải phóng mặt bằng ở quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ
(2013); Nguyễn Thị Phương Thảo, Pháp luật về bồi thường về đất khi thực hiện các
dự án kinh tế và thực tiễn áp dụng tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc
sĩ (2012); Đinh Thị Huê, Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất ở tỉnh Hà Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ (2011); Hoàng
Thị Nga, Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam
hiện nay, Luận văn thạc sĩ (2011);…
Dưới góc độ nghiên cứu về quyền con người nói chung và quyền con
người của người sử dụng đất trong lĩnh vực đất đai nói riêng đang có khá nhiều
công trình công bố về vấn đề này như: GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên như:
Quyền con người, tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội, 2009; Quyền con người, tiếp cận đa ngành và liên ngành
luật học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2011; Quyền con người, Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội, 2011; Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền dân sự
và chính trị, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2011; Võ Khánh Vinh chủ biên
(2011), Quyền con người tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học, tập 1, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011; Quyền con người tiếp cận đa ngành, liên ngành
luật học, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011; Võ Khánh Vinh, Lê Mai
Thanh chủ biên (2014), Pháp luật quốc tế về quyền con người, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội; Võ Khánh Vinh, Lê Mai Thanh chủ biên (2014), Cơ chế quốc tế và
khu vực về quyền con người, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội…..
Các công trình nghiên cứu về quyền của người bị thu hồi đất do GPMB đã
được BT, HT, TĐC tại thành phố Hà Nội;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp bảo đảm quyền của người được
BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng, ở
nước ta nói chung trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quyền của người được BT, HT,
TĐC khi Nhà nước THĐ trên địa bàn thành phố Hà Nội và những yếu tố tác
động đến quyền của đối tượng này tại địa phương.
4
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian, gắn với tiêu đề, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực
trạng bảo đảm quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ trên địa
bàn thành phố Hà Nội.
Về mặt thời gian, đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong giai đoạn từ năm
2014 (01/7/2014, ngày Luật Đất đai 2013 có hiệu lực thi hành) đến nay.
Về mặt nội dung, đề tài chỉ tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến
quyền được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và các quyền khác liên quan đến việc thu
hồi đất của Nhà nước đối với người bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, quan điểm của cộng đồng quốc tế về
quyền về tài sản, quyền về chỗ ở và các quyền về nhân thân khác; đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo đảm thực hiện quyền quyền
của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tôi còn sử dụng một số phương
pháp sau:
của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ.
Thêm vào đó, với tư cách là một cán bộ làm việc tại một cơ quan có vai trò
tham mưu, xây dựng chính sách về lĩnh vực GPMB cho UBND thành phố Hà Nội,
tác giả còn sử dụng phương pháp khảo sát thực tế để thực hiện luận văn này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là luận điểm chứng minh thêm cho khía cạnh quyền sở hữu tài sản,
quyền về chỗ ở và quyền về tiếp cận thông tin thuộc về quyền con người; giới
thiệu những quy định của pháp luật về quyền của người được BT, HT, TĐC khi
Nhà nước THĐ; giúp người đọc có cái nhìn toàn diện, chính xác về thực trạng và
các yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền này ở thành phố Hà Nội nói riêng, ở
nước ta nói chung.
Với những đóng góp mới như trên, luận văn có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước hữu quan, đặc biệt là các cơ quan, ban
ngành tại thành phố Hà Nội liên quan đến BT, HT, TĐC khi thực hiện công tác
GPMB, trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và cơ chế tổ chức bảo đảm
quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Bên cạnh đó, luận văn còn có thể được sử dụng như là một nguồn học liệu cho
6
việc giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành quyền con người ở Học viện Khoa học
Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và các cơ sở đào tạo
khác ở nước ta.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần Mục lục, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục các tài
liệu tham khảo, Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền của người được bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền và thực hiện pháp luật về quyền
Nhà nước và xã hội. Thực tế thì thu hồi đất là giai đoạn kết thúc việc sử dụng đất
của chủ thể này nhưng là bước kế tiếp của việc sử dụng đất của một chủ thể mới.
Trong các văn bản pháp lý của Việt Nam về vấn đề này có thể thấy khái
niệm thu hồi đất đã được luật hóa, theo đó thu hồi đất là việc Nhà nước thu hồi
đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà
nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm
pháp luật về đất đai.
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát thu hồi đất là việc Nhà nước ra
quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất đã giao cho các chủ thể sử
dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
8
Từ các định nghĩa trên, có thể thấy thu hồi đất có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, thu hồi đất là một biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ
pháp luật đất đai được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về giao
đất, cho thuê đất. Đây là sự thực thi một trong những nội dung của quyền lực của
Nhà nước về quản lý đất đai. Vì vậy, thẩm quyền thu hồi đất phải tuân thủ theo
quy định của Luật Đất đai. Một quyết định thu hồi đất không đúng thẩm quyền
hoặc trái thẩm quyền sẽ không làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai, ví dụ
như quyết định thu hồi đất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với đất
giao cho tổ chức sử dụng đất.
Thứ hai, thu hồi đất mang tính hành chính mệnh lệnh, bắt buộc. Đây là
quan hệ giữa một bên là người sử dụng đất với một bên là Nhà nước, hai chủ thể
này không có sự bình đẳng về mặt pháp lý. Tuy nhiên, bên cạnh phương pháp
mệnh lệnh hành chính là phương pháp giáo dục, thuyết phục, đặc biệt là trong
thu hồi đất để phục vụ mục tiêu an ninh quốc phòng, lợi ích công cộng.
Thứ ba, việc thu hồi đất phải xuất phát từ nhu cầu Nhà nước và xã hội
hoặc là biện pháp chế tài nhằm xử lý các vi phạm pháp luật đất đai của người sử
đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất” [23].
Tóm lại, bồi thường khi Nhà nước THĐ chỉ diễn ra khi Nhà nước thu hồi
một diện tích đất nào đó để chuyển sang một mục đích sử dụng khác vì lợi ích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế.
Thực chất, đây chính là việc giải quyết mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với
người bị THĐ và Nhà đầu tư. Do đó, việc bồi thường khi Nhà nước THĐ phải
thực hiện theo quy định của Nhà nước về giá đất; về điều kiện được BT, HT và
TĐC; về trình tự, thủ tục BT, HT và TĐC; về nguyên tắc thực hiện BT, HT và
TĐC...Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, việc bồi thường khi Nhà nước THĐ
không giống với việc bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực pháp luật dân sự, hình
sự, lao động. Bởi lẽ, nó không những phải đảm bảo lợi ích của người bị THĐ,
mà còn phải đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của người nhận lại
quyền SDĐ đã thu hồi.
1.1.1.3. Khái niệm về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất theo Từ điển Tiếng Việt thông
dụng: "Hỗ trợ: Giúp thêm, góp thêm vào"
Luật Đất đai năm 2013 quan niệm: "Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là
việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và
phát triển"(khoản 14 Điều 3) [23]. Định nghĩa này tuy có liệt kê các trường hợp
10
hỗ trợ, nhưng không đầy đủ. Hỗ trợ là chính sách “mềm” nên ngoài các trường
hợp hỗ trợ vừa nêu, còn có những trường hợp hỗ trợ khác do Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh quyết định. Chính vì vậy, Dự thảo đã rút gọn khái niệm như
sau: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có
đất bị thu hồi.”
Sự khác nhau căn bản giữa bồi thường và hỗ trợ là: bồi thường là khái
niệm xuất phát từ ngành luật dân sự mang tính tương xứng với các nguyên tắc:
Điều 85 quy định: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách
nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất. Khu tái định
cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn
xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền. Việc
thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ
tầng của khu tái định cư. Chính phủ quy định chi tiết điều này” [23].
Theo luật thực định của Việt Nam hiện nay thì khái niệm hỗ trợ tái định
cư được đề cập một cách gián tiếp gồm: Người có đất bị thu hồi được bố trí tái
định cư tại chỗ nếu khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố
trí tái định cư...”
Theo các văn bản khác quy định về việc lập và thực hiện dự án tái định cư
quy định tại Điều 85 của Luật Đất đai như sau: Dự án tái định cư được lập và
phê duyệt độc lập với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhưng phải đảm
bảo có đất ở, nhà ở tái dịnh cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định thu hồi đất ... Khu tái định cư được lập cho một hoặc nhiều dự án; nhà ở,
đất ở trong khu tái định cư được bố trí theo nhiều cấp nhà, nhiều mức diện tích
khác nhau phù hợp với các mức bồi thường và khả năng chi trả của người được
tái định cư ...
Từ quy định trên của pháp luật đất đai hiện hành, chúng ta có thể đưa ra
quan niệm về tái định cư như sau: Tái định cư là một trong các trách nhiệm của
Nhà nước bố trí nơi ở mới cho người bị Nhà nước thu hồi đất và phải di chuyển
chỗ ở bằng một trong các hình thức: bồi thường bằng nhà ở mới hoặc bồi thường
bằng việc giao đất ở hoặc hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở mới. Mục đích và yêu
cầu của việc này là giúp người bị thu hồi đất ở, phải di chuyển chỗ ở nhanh
chóng ổn định cuộc sống.
1.1.2. Sự cần thiết khách quan của việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi nhà nước thu hồi đất
Trong xu thế mở cửa hội nhập hiện nay và quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước thì nhu cầu cần có một diện tích đất lớn để đầu tư xây
cá nhân như sau....Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh
doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.
Quy định tiếp theo trong Hiến pháp được thể hiện “... Tổ chức, cá nhân
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người sử
13
dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo
quy định của luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ. ... Nhà nước thu
hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật
định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc
gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường
theo quy định của pháp luật”.
Thứ hai, xét về bản chất Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao động
thiết lập lên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân; phục vụ và
chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh của người dân. Do đó, thì khi Nhà nước thu
hồi đất của người dân để sử dụng vào bất kể mục đích gì mà làm phương hại đến
quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì Nhà nước phải có bổn phận và nghĩa vụ
phải bồi thường;
Thứ ba, xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người SDĐ là
hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Vì vậy,
Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ;
Thứ tư, Nhà nước ta đã và đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới mục
tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh". Điều này
chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi
chính đáng của người dân;
Thứ năm, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xây dựng dựa
trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia
Vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và
phát triển kinh tế, Nhà nước phải tiến hành thu hồi đất, nhằm tạo ra quỹ đất để
phục vụ mục tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và phát triển kinh tế
nước nhà. Điều này sẽ không tránh khỏi việc gây ra những thiệt hại về vật chất
và tinh thần cũng như ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sinh hoạt của người bị
thu hồi đất. Bởi vậy khi tiến hành thu hồi đất, Nhà nước cần có những biện pháp
thỏa đáng để giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, người dân và nhà
đầu tư - những người được hưởng lợi từ việc bị thu hồi đất.
1.2. Quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất: Khái niệm, nội dung
1.2.1. Khái niệm quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất
Trước khi đi tìm hiểu về khái niệm quyền của người được BT, HT, TĐC
khi nhà nước THĐ ta cần phải tìm hiểu khái niệm quyền con người nói chung.
Bởi lẽ, quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ xuất phát từ
15
nhóm quyền con người cơ bản đã được quốc tế thừa nhận gồm quyền bảo vệ về
sở hữu, bảo vệ chỗ ở hợp pháp, bảo vệ các quyền dân sự chính trị và quyền kinh
tế, văn hóa, xã hội khác.
Khái niệm quyền con người nói chung đã được rất nhiều học giả khác
nhau nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, đây là một vấn đề rất
phức tạp bởi lẽ, liên quan đến khái niệm khoa học này còn chịu ảnh hưởng của
các học thuyết chính trị, pháp lý và chế độ chính trị của từng quốc gia khác nhau.
Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao quý nhất của nhân loại,
song cũng là vấn đề rộng lớn, phức tạp, được nhiều chuyên ngành khoa học
nghiên cứu. Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về quyền con người,
song quan điểm phổ biến cho rằng quyền con người là những đặc quyền bẩm
- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: Tất cả các quyền
con người có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là
tiền đề để thực hiện quyền kia. Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ
ảnh hưởng đến các quyền khác.
Áp khái niệm và thuộc tính về quyền con người nói chung ta đi xác định
khái niệm quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ.
Khi đưa ra khái niệm quyền của người BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ
chúng cần xác định được quyền sử dụng đất là gì, và ý nghĩa của quyền sử dụng
đất đối với con người.
Thứ nhất, về khái niệm quyền sử dụng đất. Nhìn từ phương diện lịch sử
thì khái niệm “quyền sử dụng đất” đã được đề cập trong nhiều văn bản quy
phạm pháp luật về đất đai, bắt đầu từ thập niên 70 của thế kỷ XX với tên gọi ban
đầu là “quyền quản lý và sử dụng ruộng đất”. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện
nay, pháp luật thực định của Việt Nam vẫn chưa có định nghĩa chính thức về nội
hàm của khái niệm quyền sử dụng đất. Theo Từ điển Luật học năm 1999
thì "quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng,
hưởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc
được chuyển giao từ chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng,
cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho...”[44, tr.341] Trong khi đó, Giáo trình
Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội thì cho rằng: "Quyền sử dụng đất
là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”[34, tr.128]. Mặc dù nghiên cứu ở giác
độ khác nhau, song nội hàm của các khái niệm về quyền sử dụng đất nêu trên có
các đặc điểm chủ yếu như: (i)Quyền sử dụng đất là quyền khai thác giá trị của
đất đai; (ii) Chủ thể thực hiện việc khai thác chính là người sử dụng đất (tổ chức,
17
hộ gia đình, cá nhân) và (iii) Quyền sử dụng đất không phải là quyền sở hữu đất
18
hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, đặc biệt là từ cách thức xử lý của pháp luật khi
quy định về các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản, trong
đó có quyền sử dụng đất và phương thức bảo vệ các quyền đối với tài sản của
người không phải là chủ sở hữu đó cũng được thực hiện như bảo vệ đối với chủ
sở hữu tài sản, chúng tôi cho rằng nhìn từ góc độ khoa học pháp lý thì quyền sử
dụng đất cần được định nghĩa như sau: Quyền sử dụng đất là quyền tài sản
thuộc sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phát sinh trên cơ sở quyết định
giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền hoặc từ các giao dịch nhận chuyển quyền sử dụng đất. Việc chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng đất phải tuân thủ các điều kiện, thủ tục
do pháp luật quy định.
Thứ hai, vai trò của quyền sử dụng đất đối với con người. Quyền sử dụng
đất là một khái niệm bộ phận hình thành của khái niệm đất đai. Trên thực tế từ
ngàn đời nay, đất đai luôn là một loại tài sản cơ bản, quan trọng nhất của con
người. Đất đai chính là nguồn tư liệu sản xuất chủ yếu, là nơi mà toàn bộ hoạt
động sinh hoạt và sản xuất của con người diễn ra. Như Mác đã nói, suy cho đến
cùng nguồn gốc của mọi cuộc cách mạng là các mâu thuẫn từ sở hữu mà chủ yếu
là từ đất đai. Quyền sử dụng đất là khái niệm đặc trưng ở Việt Nam, nó có vai trò
quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân. Quyền sử dụng đất là sự thừa nhận,
sự thể hiện của pháp luật đối với các quyền cơ bản của người sử dụng đất như:
nhóm các quyền chiếm hữu, sử dụng, quyền chuyển nhượng, để lại thừa kế….
Một khi quyền sử dụng đất bị mất đi gắn liền với việc đất canh tác, nhà ở của
con người bị ảnh hướng. Về giác độ kinh tế, thì quyền sử dụng đất bị thu hồi sẽ
là một trong những thiệt hại lớn cho người sử dụng đất khi họ mất đi các quyền
có khả năng tạo ra lợi ích vật chất từ đất đai như: quyền chuyển nhượng, để lại
thừa kế, cho thuê, cho thuê lại… Về cuộc sống, người bị thu hồi đất, thực chất là
thu hồi quyền sử dụng đất sẽ bị đảo lộn về cuộc sống, đảo lộn sinh hoạt, mất đi
và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhà nước, của bản thân và người khác trong
quá trình thực hiện thu hồi đất và thực hiện BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ.
Như vậy có thể xác định khái niệm quyền của người được BT, HT, TĐC khi
Nhà nước THĐ như sau: Quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ là
tập hợp các quyền mà người bị THĐ được hưởng như quyền được bồi thường về đất
và tài sản trên đất ...; quyền được hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi
nghề và tạo việc làm ...; quyền được xem xét bố trí tái định cư cũng như quyền được
20
cung cấp thông tin về việc THĐ; quyền được khiếu nại tố cáo các hành vi sai phạm khi
THĐ và các quyền khác liên quan đến người bị Nhà nước THĐ theo các trường hợp
do pháp luật quy định.
1.2.2. Nội dung quyền của người được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất
Nội dung quyền của người được BT, HT, TĐC khi Nhà nước THĐ là một
trong những vấn đề quan trọng, điều này sẽ góp phần làm sáng tỏ những quyền
gì, giới hạn của nó như thế nào, và đối tượng quyền ra sao mà người đó được
hưởng. Theo các học giả ở Việt Nam hiện nay thừa nhận và thực tế thể hiện
trong các văn bản pháp luật Việt Nam thì nội dung của các quyền này được thể
hiện như sau:
1.2.2.1. Quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
* Quyền được bồi thường về đất và chi phí đầu tư về đất còn lại:
- Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi
thường theo quy định thì được bồi thường. Việc bồi thường được thực hiện dưới 2
dạng là: bồi thường bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi
hoặc bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi.
- Trường hợp đất không có đủ điều kiện bồi thường theo quy định thì sẽ
được xem xét để bồi thường chi phí đầu tư về đất còn lại