Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
Giải thích từ ngữ
GPMB: giải phóng mặt bằng
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
SD§: Sử dụng đất
KT: Kinh tế
SX-KD: Sản xuất - doanh
UBND: Ủy ban nhân dân
NN: Nhà nước
BT: Bồi thường
QH, KHSD§: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
HT: Hỗ trợ
L§§: Luật đất đai
T§C: Tái định cư
BQL: Ban quản lý
HTX: Hợp tác xã
GCNQSD§: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
HT&T§C: Hỗ trợ và tái định cư
CNH: Công nghiệp hóa
H§H: Hiện đại hóa
TN,MT&N§: Tài nguyên, môi trường, nhà đất
HTKT: Hỗ trợ kinh tế
MỤC LỤC
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................................................3
NỘI DUNG.....................................................................................................................................6
Chương 1...........................................................................................................................................6
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT...........................................................................................................6
2.4.3. Bồi thường, hỗ trợ di chuyển mồ mả, công trình văn hoá, di tích lịch sử, nhà thờ, đền, chùa, am
miếu............................................................................................................................................................45
2.4.4. Về bồi thường, hỗ trợ đối với cây trồng, vật nuôi............................................................................46
2.5. Về các chính sách hỗ trợ di chuyển, ổn định đời sống, ổn định SX, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc
làm cho người bị thu hồi đất...........................................................................................................................49
2.5.1. Hỗ trợ di chuyển, ổn định đời sống, ổn định SX.............................................................................49
2.5.2. Hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm...........................................................................................50
2.6. Pháp luật về TĐC cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở..........................................................51
2.6.1. Các nguyên tắc bố trí TĐC cho người bị thu hồi đất.......................................................................51
2.6.2. Thực tế áp dụng các quy định về TĐC cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở trên địa bàn
TP Hà Nội..................................................................................................................................................53
Chương 3...........................................................................................................................................1
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TẠI HÀ
NỘI....................................................................................................................................................1
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên cơ sở
đánh giá thực trạng áp dụng tại Hà Nội............................................................................................................1
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên cơ sở
đánh giá thực trạng áp dụng tại Hà Nội............................................................................................................2
3.2.1. Xác định và giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và người
hưởng lợi từ việc thu hồi đất trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.............2
3.2.2. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định về khung giá đất cho phù hợp với thực tế, theo đúng cơ chế
thị trường......................................................................................................................................................3
3.2.3. Xác lập cơ chế pháp lý cho doanh nghiệp dịch vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng hoạt động.......4
LỜI KẾT.........................................................................................................................................5
PHỤ LỤC.......................................................................................................................................6
Bảng tổng hợp tình hình thực hiện các dự án có liên quan đến giải phóng mặt bằng từ năm
2005 đến năm 2009...........................................................................................................................7
thành thủ đô văn minh, giàu đẹp đáp ứng với lòng tin yêu của đồng bào cả nước và
ban bè quốc tế. Với những lý do trên, em lựa chọn đề tài “Thực trạng áp dụng
pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn
thành phố Hà Nội” làm khóa luận tốt nghiệp Đại học Luật.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm đạt được những mục đích cơ bản sau đây:
- Tập hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng các quy
định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (sau đây gọi là các
quy định về bồi thường, GPMB);
- Tìm hiểu những đặc điểm và nội dung cơ bản của mảng pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất trong điều kiện, hoàn cảnh đặc thù của thủ đô Hà Nội;
- Chỉ ra những thành công và những tồn tại, khiếm khuyết và nguyên nhân
của những hạn chế của việc áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; cũng như đưa ra những kiến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả công tác thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội;
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đây là một đề tài có nội dung nghiên cứu rộng, phức tạp và giải quyết nhiều
yêu cầu trên các khía cạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm lý, tập quán
truyền thống v.v. Tuy nhiên trong khuôn khổ của một bản khóa luận tốt nghiệp cử
nhân luật, tác giả giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở những nội dung cụ
thể sau đây:
- Nghiên cứu các quy định hiện hành về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất được đề cập trong Luật đất đai năm 2003 và các văn bản
hướng dẫn thi hành;
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội;
5. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa
luận kết cấu gồm các chương sau:
- Chương 1. Một số vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất ;
- Chương 2. Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất và thực trạng áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội;
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
- Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn
thành phố Hà Nội;
NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI
ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT
VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT
1.1. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất
1.1.1. Quan niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
1.1.1.1. Khái niệm về bồi thường
Trong đời sống hàng ngày, “ bồi thường” là thuật ngữ được sử dụng trong
trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách
nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra;
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường” là “Đền bù những tổn hại
gây ra”;
Theo Khoản 6 Điều 4 Luật đất đai 2003: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu
hồi cho người bị thu hồi đất”. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có một số đặc
trưng cơ bản sau đây:
- Bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bù đắp tổn thất về
quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất do hành vi thu hồi đất của Nhà
nước gây ra. Trách nhiệm này được quy định trong Luật đất đai;
- Bồi thường là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất của
Nhà nước gây ra. Điều này có nghĩa là chỉ phát sinh sau khi có quyết định hành
chính về thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Bồi thường được thực hiện trong mối quan hệ song phương giữa
một bên là Nhà nước (chủ thể có hành vi thu hồi đất) với bên kia là người chịu tổn
hại về quyền và lợi ích hợp pháp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra;
- Căn cứ để xác định bồi thường là diện tích thực tế bị thu hồi; thiệt
hại thực tế về tài sản, cây cối, hoa màu trên đất và khung giá đất do Nhà nước quy
định tại thời điểm thu hồi đất;
- Người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu hồi đất muốn được bồi
thường về đất phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định;
- Người bị Nhà nước thu hồi đất không chỉ được bồi thường về đất mà
còn được bồi thường thiệt hại về tài sản trên đất và được hưởng các chính sách hỗ
trợ, tái định cư của Nhà nước nhằm nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất;
1.1.1.2. Khái niệm hỗ trợ, tái định cư
Bên cạnh thuật ngữ bồi thường, trong các văn bản pháp luật hiện hành còn
đề cập đến khái niệm hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Hỗ trợ, tái định
cư thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước và biểu hiện bản chất “của dân, do
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
dân và vì dân” của Nhà nước ta nhằm hỗ trợ, chia sẻ khó khăn với người bị thu hồi
đất và giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống. Vậy hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước là gì?;
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất sẽ mang lại ý nghĩa to lớn
trên nhiều phương diện;
1.2.1.1. Về phương diện chính trị
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
Là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề đất
đai ở Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và nhạy cảm. Các chính sách, pháp
luật về đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định về chính trị. Điều này có nghĩa
là nếu chủ trương, chính sách pháp luật đất đai đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và
được thực thi nghiêm túc sẽ góp phần vào việc duy trì và củng cố sự ổn định chính
trị. Ngược lại, sẽ làm phát sinh những điểm nóng tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định
về chính trị. Một trong các chính sách, pháp luật về đất đai được xã hội đặc biệt
quan tâm đó là chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất; bởi lẽ mảng chính sách, pháp luật này ảnh hưởng trực tiếp đến
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất. Trong trường hợp bị thu hồi đất
nói chung và thu hồi đất ở nói riêng, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
đất trực tiếp bị xâm hại. Họ không chỉ mất quyền sử dụng đất mà còn buộc phải di
chuyển chỗ ở. Hậu quả là cuộc sống thường nhật của họ bị đảo lộn. Với quan niệm
truyền thống của người Việt Nam “có an cư mới lạc nghiệp” thì việc bị mất đất đai,
nhà cửa thực sự là một “cú sốc” đối với người bị thu hồi đất. Do vậy, họ phản ứng
rất gay gắt, quyết liệt thông qua việc khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp,
kéo dài nếu không được bồi thường, tái định cư thỏa đáng. Các khiếu kiện về đất
đai nói chung và khiếu kiện về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất nói riêng tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị và dễ phát sinh thành các
“điểm nóng”; cho nên việc giải quyết tốt vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là
thực hiện tốt chính sách an dân để phát triển kinh tế xã hội góp phần vào việc duy
trì, củng cố sự ổn định về chính trị.
1.2.1.2. Về phương diện kinh tế - xã hội
Thực tiễn cho thấy bồi thường, giải phóng mặt bằng luôn là công việc khó
khăn, phức tạp. Các dự án chậm triển khai thực hiện theo tiến độ đề ra có nguyên
tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992: “Công dân có quyền sở hữu về thu
nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và
các tài sản khác trong doanh nghiệp… Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và
quyền thừa kế của công dân” ( Điều 58) [5, tr1]. Hơn nữa, Hiến pháp năm 1992 còn
ghi nhận: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa. Trong
trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà
nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức
theo thời giá thị trường…” (Điều 23); [5, tr1]
Như vậy quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức đã
được Hiến pháp ghi nhận và bảo hộ. Khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì toàn bộ tài sản hợp
pháp gắn liền với đất bị thu hồi do người sử dụng đất tạo ra được xác định là tài sản
hợp pháp của cá nhân và phải được bồi thường theo giá thị trường. Đối với trường
hợp người sử dụng đất bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở, Nhà nước thực hiện
chính sách tái định cư cho các đối tượng này;
Thứ hai, xét về bản chất, Nhà nước ta do nhân dân lao động thiết lập nên, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Nhà nước theo đuổi sứ mạng
cao cả và mang đầy tính nhân văn là phục vụ và chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh
của nhân dân. Đặt trong ý nghĩa đó, khi Nhà nước thu hồi đất ở của người dân để
sử dụng bất kì vào mục đích gì (cho dù sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế) mà họ phải di chuyển chỗ ở
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
thì Nhà nước phải có bổn phận và nghĩa vụ bồi thường và thực hiện việc tái định cư
nhằm làm cho người sử dụng đất sớm ổn định cuộc sống;
Thứ ba, xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người sử dụng
đất là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Hơn
nữa trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, mọi chủ thể trong xã hội bao gồm Nhà
nước, công dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội… đều bình đẳng với
nhau trước pháp luật. Nước ta đang từng bước xây dựng một xã hội văn minh và
đất thuộc quyền sở hữu của người sử dụng đất”. Chính nhờ việc tìm ra cách thức
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
giao quyền sử dụng đất cho người lao động trên cơ sở vẫn giữ nguyên chế độ sở
hữu toàn dân về đất đai nhằm duy trì sự ổn định về chính trị - xã hội tạo tiền đề cho
việc phát triển kinh tế mà Việt Nam và Trung Quốc “gặp nhau” ở điểm chung này
và hai nước đã thực hiện thành công cuộc cải cách kinh tế mà không gặp thất bại
như Liên xô (cũ) và các nước XHCN Đông Âu trước đây. Đánh giá về vấn đề này,
PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa cho rằng: “Sáng tạo ra khái niệm “quyền sử dụng đất”
cả người Việt Nam và người Trung Quốc dường như đã tạo ra một khái niệm sở
hữu kép, một khái niệm sở hữu đa tầng: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, song quyền
sử dụng lại thuộc về cá nhân hay tổ chức”. Cùng chung quan điểm này, GS.TSKH.
Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận xét: “Chế
độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính thuật ngữ… Quyền lợi và
nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa vụ
của chủ sở hữu đất đai ở các nước”; [14, tr2]
Như vậy, bằng việc pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền của người sử dụng
đất thì dường như người sử dụng đất ở nước ta là người “sở hữu” một loại quyền về
tài sản đó là “quyền sử dụng đất”. Bởi lẽ, người sử dụng đất được pháp luật trao
cho các quyền năng liên quan đến quyền sử dụng đất: quyền chuyển nhượng, quyền
chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất; quyền thế
chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Một khi pháp luật đã thừa nhận
quyền sử dụng đất là một loại quyền về tài sản của người sử dụng đất, thì khi Nhà
nước thu hồi đất nói chung (có nghĩa là người sử dụng đất bị mất quyền sử dụng
đất do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra) và thu hồi đất ở nói riêng, Nhà
nước phải bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người sử dụng đất;
1.3. Khái quát lịch sử hình thành các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1993
Trước năm 1987, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, ở nước ta
hợp cần thiết Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng
vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị
thu hồi đất được đền bù thiệt hại” (Điều 27); “Trước khi thu hồi phải thông báo cho
người đang sử dụng đất biết về lý do thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương
án đền bù thiệt hại” (Điều 28). Tuy nhiên vẫn còn thiếu các quy định về việc giải
quyết vấn đề tái định cư, vấn đề đào tạo chuyển đổi ngành, nghề, tìm kiếm việc làm
mới cho người có đất bị thu hồi. Cụ thể hóa các quy định này, ngày 17/08/1994,
Chính phủ ban hành Nghị định số 90/CP quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng. Thực tiễn triển khai thực hiện Nghị định này cho thấy còn tồn tại
nhiều bất cập mà hạn chế lớn nhất là quy định về giá đất bồi thường quá thấp nên
người bị thu hồi đất không đồng thuận với phương án bồi thường, phát sinh tranh
chấp, khiếu kiện kéo dài. Để khắc phục những tồn tại này, ngày 24/04/1998, Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 22/1998/NĐ- CP thay thế Nghị định số 90/CP. Tiếp
đó, Bộ Tài chính ra Thông tư số 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 hướng dẫn thi
hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP. Các văn bản này đã có những sửa đổi, bổ sung
chủ yếu sau đây:
- Quy định rõ tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
có trách nhiệm đền bù thiệt hại ( Điều 2 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP);
- Giá đất để tính đền bù thiệt hại được xác định trên cơ sở giá đất do
UBND cấp tỉnh ban hành theo khung giá của Chính phủ nhân với hệ số K nhằm
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
đảm bảo giá đền bù phù hợp với khả năng sinh lợi và không quá thấp so với giá
chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường (Điều 8 Nghị Định số
22/1998/NĐ-CP);
- Ngoài việc được đền bù, người bị thu hồi đất còn được trợ cấp nhằm
ổn định đời sống trong trường hợp phải di chuyển chỗ ở, di chuyển địa điểm sản
xuất - kinh doanh; trả chi phí chuyển đổi nghề nghiệp, được chuyển đến khu tái
định cư nếu họ có nhu cầu… (Điều 25, Điều 28 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP);
- Quy định chính sách hỗ trợ, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí
việc làm mới cho người bị thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất để bồi thường
cho việc tiếp tục sản xuất …;
Tiếp đó, để xử lý những vấn để mới nảy sinh trong quá trình thu hồi đất,
GPMB, ngày 25/05/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2007NĐ-CP quy
định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện
quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Mặc dù thường xuyên được sửa đổi, bổ
sung song những quy định trên đây cũng chỉ giải quyết một số vấn đề bức xúc nảy
sinh từ công tác bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất. Do đây là công việc
liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân nếu các quy định
được xây dựng không hợp lý và thường xuyên được sửa đổi, bổ sung thì sẽ tiềm ẩn
nguy cơ phát sinh tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, gây mất ổn định về chính trị.
Nhận thức được vấn đề này, ngày 13/08/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất,
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư... Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày
01/10/2009, gồm 3 chương, 41 điều quy định cụ thể về quy hoạch sử dụng đất; giá
đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất và cho thuê
đất; phát triển quỹ đất, cấp GCNQSDĐ, sử dụng đất công trình ngầm và gia hạn sử
dụng đất. Ngày 01/10/2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số
14/2009/TT-BTNMT quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự,
thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất nhằm xử lý các tình huống mới nảy sinh
trong quá trình thu hồi đất, GPMB thời gian vừa qua.;
Tóm lại: Song hành với sự phát triển của pháp luật đất đai, các quy định về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất luôn được xây dựng, sửa
đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm xử lý hài hòa mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa
Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ đầu tư. Ở một chừng mực nhất định, các quy
định này đã đạt được mục đích nêu trên và tạo ra quỹ đất sạch đáp ứng nhu cầu sử
dụng của xã hội và góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước ở từng thời kỳ lịch sử.
đất phải trả cho người bị thu hồi các loại tiền sau đây: Tiền bồi thường đất đai; tiền
trợ cấp về tái định cư; tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất. Theo đó, cách tính
tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá trị tổng sản lượng
của đất đai những năm trước đây nhân với một hệ số do Nhà nước quy định. Đối
với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại
thời điểm thu hồi đất. Ví dụ: ở Bắc Kinh, khoản tiền bồi thường hoa màu này được
tính bằng 6 - 10 lần sản lượng trung bình của 3 năm trước đó. Tuy nhiên, tổng 2
khoản tiền này không được vượt quá 30 lần sản lượng trung bình của 3 năm trước
của thửa đất đó.
1.4.1.3. Về nguyên tắc bồi thường
Pháp luật Trung Quốc quy định khoản tiền bồi thường cho GPMB phải đảm
bảo cho người bị thu hồi đất ở có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ; Thực tế
ở Bắc Kinh cho thấy, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với
khoản tiền tiết kiệm, họ có thể mua được căn hộ mới. Còn đối với người dân thuộc
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
khu vực nông thôn có thể dùng khoản tiền đó mua được 2 căn hộ ở cùng một nơi.
Tuy nhiên, ở thành thị, cá biệt cũng có một số gia đình sau khi được đền bù cũng
không mua nổi một căn hộ để ở. Những đối tượng trong diện GPMB được hưởng
chính sách mua nhà ưu đãi của Nhà nước, song trên thực tế họ thường mua nhà bên
ngoài thị trường.
1.4.1.4. Về thời điểm bồi thường
Thời điểm xác định bồi thường cho người sử dụng đất bị thu hồi đất được
tính theo ngày cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
1.4.1.5. Cơ quan quản lý giải tỏa mặt bằng
Cục Quản lý tài nguyên đất đai tại các địa phương thực hiện việc quản lý
giải tỏa mặt bằng. Người nhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa
mặt bằng khu đất đó (thông thường là các đơn vị chịu trách nhiệm thi công công
trình trên khu đất giải tỏa).
1.4.1.6. Về đối tượng được đền bù khi giải tỏa mặt bằng
có quyết định thu hồi đất là chưa hợp lý và chưa phù hợp với thực tế. Để khắc phục
những bất cập này, nên sửa đổi quy định về thời điểm tính giá bồi thường và thực
hiện tái định cư cho người sử dụng đất khi bị Nhà nước thu hồi đất như sau:
- Quy định về tính giá bồi thường theo thời điểm trả tiền bồi thường tái định
cư trên thực tế;
- Ngoài việc bồi thường theo giá đất tại thời điểm thu hồi cần quy định một
tỷ lệ hỗ trợ để thưởng khuyến khích đối với những người bị thu hồi đất chấp hành
nghiêm chỉnh, nhanh chóng việc bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư, khoản hỗ trợ
này được trích từ khoản chênh lệch giữa giá đất bồi thường với giá đất sau khi thực
hiện việc thu hồi;
Thứ hai, về trách nhiệm thực hiện tái định cư. Cần quy định một cách rõ
ràng về chủ thể có trách nhiệm thực hiện công việc này khi tiến hành thu hồi đất.
Trách nhiệm đó nên được giao cho những cá nhân, tổ chức được Nhà nước giao sử
dụng đất thực hiện. Điều này nhằm đảm bảo việc thu hồi đất, GPMB và tái định cư
được tiến hành một cách thuận lợi, nhanh chóng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của người bị thu hồi đất;
Thứ ba, về cách thức thực hiện tái định cư. Pháp luật Việt Nam hiện nay
chưa có quy định về trợ cấp về giá cả khi thực hiện tái định cư, thường thì giá nhà
tái định cư sau khi thu hồi đất cao hơn rất nhiều so với giá nhà trước khi thu hồi.
Chính vì vậy, cần giải quyết vấn đề nhà ở cho dân sau khi giải tỏa mặt bằng thông
qua việc trả tiền bồi thường về nhà ở. Số tiền này được xác định bao gồm: Giá cả
xây dựng lại nhà ở, sự chênh lệch giữa giá xây lại nhà mới và nhà cũ; giá đất tiêu
chuẩn; trợ cấp về giá cả. [14, tr2]
Nguyễn Văn Chiến KT31H 025
Khóa luận tốt nghiệp Môn Luật đất đai
Chương 2
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi