Thực hiện Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam hiện nay (LV thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN TRÍ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ,
TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÚI THÀNH,
TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN TRÍ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ,
TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÚI THÀNH,
TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM THỊ THÚY NGA


Tác giả luận văn

Trần Trí


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI
THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT .........7
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất ................................................................................7
1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất ......................................................................................13
1.3. Nội dung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại
huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ..........................................................................17
1.4. Các bước tổ chức thực hiện chính sách bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ..........................................25
1.5. Kinh nghiệm thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất tại một số địa phương ..............................................................................30
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI HUYỆN NÚI
THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM .............................................................................33
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ...33
2.2. Hệ thống thể chế thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ..........................................35
2.3. Thực trạng năng lực tổ chức thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam .......................37
2.4. Thành tựu trong thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam ..........................................40


kết luận huyện ủy

NĐ-CP:

nghị định chính phủ

NQ/HU:

nghị quyết huyện ủy

QĐ-UBND:

quyết định ủy ban nhân dân

QĐ-TTg:

quyết định Thủ tưởng chính phủ

QĐ-BGTVT:

quyết định Bộ giao thông vận tải

TB/TW:

thông báo trung ương

TT-BTNMT:

thông tư Bộ Tài nguyên và Môi trường

đã ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dành cho những người dân
bị Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo ổn định đời sống và sản xuất cho người dân
có đất bị thu hồi, người dân có điều kiện sinh sống, sản xuất kinh doanh bằng hoặc
tốt hơn trước; đó là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.
Quảng Nam là nơi được Bộ Chính trị cho chủ trương xây dựng Khu kinh tế
mở Chu Lai đầu tiên trên cả nước theo kết luận tại Thông báo số 232-TB/TW ngày
10/7/1999, Thông báo số số 79-TB/TW ngày 27/9/2002 với mục tiêu là thí điểm áp
dụng các cơ chế chính sách ưu đãi đặc biệt, có môi trường đầu tư thuận lợi, thông
thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
108/2003/QĐ-TTg ngày 05/6/2003 về việc thành lập Khu kinh tế mở Chu Lai. Đây
là khu kinh tế ven biển đầu tiên của Việt Nam - khu kinh tế tổng hợp, có quy mô
lớn với tổng diện tích khoảng 32.400 ha được “mở” với việc áp dụng các cơ chế
chính sách mới, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, phù hợp
theo thông lệ quốc tế mọi loại hình kinh doanh của các tổ chức kinh tế trong và
ngoài nước.
Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam có lợi thế về đường bộ, đường sắt,
đường hàng không, cảng biển và là huyện trọng điểm của Khu kinh tế mở Chu Lai.
Đây là nơi thực hiện những cuộc sắp xếp dân cư lớn để nhường chổ cho các nhà
máy, xí nghiệp, khu đô thị đáp ứng với yêu cầu, quy mô phát triển của Khu kinh tế
mở Chu Lai. Hiện nay, trên địa bàn huyện Núi Thành có các khu công nghiệp lớn
như: Khu công nghiệp Bắc Chu Lai, Khu Công nghiệp Tam Hiệp, Khu công nghiệp
Việt Hàn và đặc biệt là Khu công nghiệp cơ khí ôtô Chu Lai Trường Hải với diện

1


tích lên đến 600 ha; có 04 cụm công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp nên công tác thu
hồi đất để phát triển kinh tế là việc rất bức thiết.
Để hạ tầng giao thông đáp ứng tương xứng với sự phát triển kinh tế chính
quyền huyện Núi Thành đã huy động mọi nguồn lực từ địa phương đến trung ương

hóa, hiện đại hóa thì công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giải phóng mặt bằng là
một vấn đề rất nóng, ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của từng cá nhân cụ thể nên
thường xuyên thu hút được sự quan tâm của các giai tầng trong xã hội. Bởi vậy, vấn
đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư giải phóng mặt bằng đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu, nhiều bài viết đề cập vấn đề này. Trong đó, phải kể đến các công trình
nghiên cứu như: Luận văn Thạc sỹ Chính sách công của Trần Thị Mỹ Hạnh “Chính
sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn Tp. Đà
Nẵng” năm 2015 tại Học viện Khoa học xã hội; Luận văn Thạc sỹ Chính sách công
của Nguyễn Anh Dũng “Thực hiện chính sách bồi thường, hổ trợ và tái định cư khi
nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi” năm
2016 tại Học viện Khoa học xã hội; Luận văn Thạc sỹ Luật học của Lê Duy Du
“Quyền khiếu nại hành chính của công dân về đất đai từ thực tiễn tại Thành phố
Đà Nẵng” năm 2013 tại Học viện Khoa học xã hội; Luận văn Thạc sỹ Luật học của
Nguyễn Thị Cẩm Vân “Giải quyết khiếu nại quyết định hành chính về bồi thường,
hổ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn Tp. Đà Nẵng” năm 2014
tại Học viện Khoa học xã hội; Luận văn Thạc sỹ Luật học của Lê Văn Hải “Giải
quyết khiếu nại quyết định hành chính về bồi thường, hổ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Bình Định” năm 2016 tại Học viện Khoa học xã
hội; … Bên cạnh đó, có nhiều bài viết về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được
đăng trên các tạp chí uy tín như: Bảo đảm quyền con người trong các quyết định
hành chính về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Cao Vũ
Minh đăng trên tạp chí Luật học năm 2013, Số 01/2013, tr. 41 - 51; Bất cập trong
giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền Chủ tịch UBND cấp huyện khi Nhà
nước thu hồi đất - từ góc nhìn thực tiễn ở địa phương của Trần Vang Phủ và Đặng
Văn Liệt đăng trên tạp chí Thanh tra năm 2018, Số 9/2018, tr. 33-36; Chính sách
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thu hồi đất: Vấn đề và giải pháp của TS. Đỗ
Phú Hải đăng trên Tạp chí Cộng sản số 89 tháng 5/2014, …

3



4


Thành, tỉnh Quảng Nam hiện nay.
- Đưa ra những quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thu hồi đất từ kinh
nghiệm huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư đối với người dân mất đất và việc thực hiện trên địa bàn huyện Núi Thành,
tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người dân
bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Cụ thể là dự án
Đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi qua địa bàn huyện Núi Thành tại các xã
Tam Xuân 1, Tam Xuân 2, Tam Anh Bắc, Tam Anh Nam, Tam Hiệp, Tam Mỹ
Đông, Tam Mỹ Tây và xã Tam Nghĩa.
Luận văn tập trung đánh giá thực trạng thực thi chính sách bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư từ năm 2013 đến 2018.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thực hiện chính
sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu qua văn bản và phân tích văn bản,

định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
đối với người dân bị Nhà nước thu hồi đất tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư đối với người dân bị Nhà nước thu hồi đất và các giải pháp tổ chức thực
hiện từ thực tiễn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

6


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện chính sách bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1. Khái niệm thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất
Thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người
được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi
phạm pháp luật về đất đai [29,tr.2]. Trước đây, để người dân yên tâm đầu tư sản
xuất phát triển kinh tế gia đình Nhà nước đã trao quyền sử dụng đất cho người sử
dụng đất và đến khi vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, của đất
nước thì Nhà nước thu hồi lại quyền sử dụng đất đã cấp và trả lại cho người có đất
một khoản tiền gọi là bồi thường về quyền sử dụng đất.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất [29, tr.2]. Như vậy, khi
thu hồi đất Nhà nước bồi thường lại giá trị quyền sử dụng đất cho người dân để
người dân tìm kiếm sinh kế mới ổn định cuộc sống.
Việc Nhà nước bồi thường lại quyền sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất
thực hiện bằng hai phương thức; một là đó là giao lại đất có cùng mục đích sử dụng;

năng sinh kế mới cho những người bị thu hồi đất và có điều kiện sống mới bằng
hoặc tốt hơn ở nơi ở cũ, góp phần đảm bảo cho xã hội phát triển, quốc phòng an
ninh được bảo đảm.
Thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất
là quá trình thực thi các quyết định, chương trình của nhà nước khi nhà nước thu hồi
đất để xây dựng các công trình, dự án theo định hướng phát triển kinh tế xã hội của
địa phương và là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành hiện thực đối với người bị Nhà nước thu hồi
đất nhằm đạt được mục đích theo định hướng.
Để tổ chức điều hành có hiện quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
nhà nước thu hồi đất cần tuân thủ các bước cơ bản sau đây:

8


Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư. Đây là công việc rất quan trọng, nó quyết định đến việc thực thi chính sách có
thành công hay không. Ở bước này chúng ta xây dựng các kế hoạch như: nội qui,
qui chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nhiệm vụ, và quyền hạn của cán bộ
và các cơ quan nhà nước tham gia; tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp
khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực thi chính sách, v.v.
Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là
việc thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách để mọi người dân tham gia thực
thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách
trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách... để họ tự
giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước.
Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư. Muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả phải tiến hành phân công,
phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu
tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu

Nhà nước thu hồi đất
Thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, Thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là phải đảm bảo
được tính công bằng và công tâm. Công bằng ở đây được hiểu là công bằng về chế độ
chính sách, về đơn giá bồi thường, về mức hỗ trợ, về cơ chế tái định cư, về đối tượng
thụ hưởng, … công bằng không có nghĩa là cào bằng bình quân. Để việc thực hiện
chính sách công bằng phải hoạch định việc thực hiện chính sách phù hợp với thực tế,
điều kiện cụ thể của từng vùng miền, xem xét lợi ích một cách phân minh.
Ngoài công bằng về chính sách thì cán bộ thực thi công tác bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư phải công tâm trong việc thực hiện chính sách. Nếu việc thực hiện chính
sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư công bằng thì những người bị thu hồi đất sẽ tự
nguyện chấp hành và tạo được sự đồng thuận trong nhân dân. Ngược lại, thực hiện
chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không công bằng họ sẽ phản ứng bằng
nhiều hình thức khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp, trong đó đặc biệt là các khiếu
kiện đông người hoặc tạo điểm nóng chính trị như một số địa phương trong nước.
Bên cạnh đó, việc hoạch định chính sách cũng như thực hiện chính sách bồi

10


thường, hỗ trợ, tái định cư phải theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, tập thể
bàn bạc cân nhắc kỹ trước khi quyết định.
Thứ hai, Thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước
thu hồi đất phải công khai. Trước khi thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư các địa phương đều tổ chức triển khai chủ trương đến các đối tượng
trong vùng dự án biết và có kế hoạch tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân
hiểu và chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về thu
hồi đất. Tính minh bạch còn được thể hiện ở việc mời người đại diện người có đất
bị thu hồi đất trong vùng dự án tham gia vào tổ công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định

Quyền sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta là quyền sở hữu về mặt pháp lý.
Quyền sử dụng đất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau với quyền sở hữu tài sản trên
đất. Khi các tổ chức, hộ gia đình cá nhân được nhà nước trao quyền sử dụng đất thì
phải có nghĩa vụ với nhà nước và khi nhà nước thu hồi lại quyền sử dụng đất thì
phải có trách nhiệm bồi thường lại giá trị quyền sử dụng đất đã trao.
Như vậy, đất đai thuộc sử hữu của toàn dân nhưng khi sử dụng phải có sự
định hướng của nhà nước và phục vụ định phướng phát triển kinh tế xã hội, quốc
phòng an ninh. Vì thế đất đai phải được sử dụng theo quy hoạch và kế hoạch chung
của nhà nước để sở đất đai trên toàn quốc gia phải được phát huy sử dụng tốt.
Hiện nay, việc hào hòa lợi ích giữ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội với lợi
ích của người bị thu hồi đất là rất khó khăn và phức tạp. Bên canh đó, thực hiện
chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà
nước và người sử dụng đất. Để thực hiện được điều này chính sách bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư phải đáp ứng các yêu cầu người bị thu hồi đất có cuộc sống bằng
hoặc tốt hơn trước khi bị thu hồi đất và bảo đảm phát triển sinh kế bền vững.
Thứ hai, ổn định cuộc sống và sinh kế cho người bị thu hồi đất:
Hiện nay, công tác thu hồi đất của nhà nước không hoàn toàn mang tính thỏa
thuận theo giá thị trường nên việc quan tâm đến cuộc sống, sinh kế của người bị thu
hồi đất là một mục tiêu hết sức quan trọng. Để ổn định cho cuộc sống và tạo sinh kế
bền vững cho người bị thu hồi đất nhà nước cần xây dựng khu tái định cư đồng bộ,
có hạ tầng giao thông, thiết chế văn hóa không được thấp hơn nơi ở cũ,…
Ở nước ta, mục tiêu này thường khó hoàn thành do kinh phí Nhà nước còn
khó khăn và việc tổ chức thực hiện thiếu chặt chẽ, thiếu kiểm tra và nhất là kiểm tra

12


sinh kế của người dân sau khi di dời đến nơi ở mới. Vì vậy, ở nhiều nơi chính sách
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chỉ có chính sách nhất thời, trong một giai đoạn nhất
định chưa tạo được sinh kế bền vững lâu dài cho người dân. Thực tế tại huyện Núi

cơ quan nên cần phải dựa trên cơ sở pháp lý đầy đủ, nhất quán thì có hiệu lực thực thi
cao. Cơ sở pháp lý để thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gồm:
Thứ nhất, Luật đất đai là căn cứ pháp lý nền tảng để tổ chức thực hiện chính
sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Trên cơ sở này mới xác định rõ nội dung bồi
thường, mức bồi thường, giá bồi thường và các biện pháp hỗ trợ di chuyển, chuyển
đổi nghề nghiệp và tạo việc làm, hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ tái định
cư cho người dân bị thu hồi đất và các chính sách hỗ trợ khác có liên quan.
Thứ hai, Các văn bản cụ thể dưới luật và các quy định cụ thể từng địa
phương. Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được hoạch định ở cấp có đủ
thông tin, thẩm quyền, giao cho cấp có năng lực thực hiện thì đạt được hiệu quả
cao, nhận được sự đồng thuận của người bị thu hồi đất và ngược lại. Nhất là khi
quan hệ thị trường luôn thay đổi, biến động nhưng quan hệ Nhà nước về chính sách
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì ít thay đổi.
Thứ ba, Các văn bản về quản lý tài chính công. Chính sách bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư là tổng hợp của nhiều chính sách trong đó có liên quan đến nguồn
vốn để bồi thường, hỗ trợ. Các địa phương luôn có những chính sách hỗ trợ riêng
cho người bị thu hồi đất với mục tiêu hỗ trợ thêm cho các trường hợp thu hồi đất
mang tính đặc thù, cá biệt để ổn định cuộc sống nhưng không trái với quy định pháp
luật được địa phương quan tâm giải quyết.
1.2.2. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nhà nước thống nhất quản lý đất đai thông qua quy hoạch, kế hoạc sử dụng
đất, các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương đều gắng với quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất để quản lý thực hiện. Chính vì thế công tác quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất có liên quan rất lớn đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
nhà nước thu hồi đất. Nhà nước thực hiện chủ trương phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội, bảo vệ môi trường, điều chỉnh việc sử dụng đất, xây dựng, ngăn chặn những
tiêu cực trong sử dụng đất đai và trong xây dựng các bất động sản thông qua các
quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đã được phêt duyệt. Nếu việc quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất được tiến hành bài bản, nhất quán, được công khai cho


hỗ trợ và tái định cư.
Giá đất để tính tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước đây thực hiện theo

15


Luật Đất đai 2003 thì áp dụng theo giá đất UBND tỉnh công bố, có hiệu lực vào
ngày 01/01 hàng năm. Nhưng, nguyên tắc định giá đất theo Luật Đất đai 2003 còn
có những bất cập, đó là: chưa định lượng được thế nào là “sát” với giá chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường; chưa quy định cụ thể theo mục
đích sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất, cũng chưa bao hàm hết đối với những vị
trí, những loại đất không có giao dịch về quyền sử dụng đất.
Đến khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực mới khắc phục được tình trạng này, đó
là xác định giá đất cụ thể tại thời điểm thu hồi đất trên cơ sở giá chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường. Tuy nhiên, chính sách giá đất để thực hiện
bồi thường hiện nay còn nhiều mâu thuẫn do vừa quy định khung giá vừa quy định
phải sát với giá thị trường đã dẫn đến phức tạp hóa trong quá trình áp dụng, khi bồi
thường người bị thu hồi đất luôn khiếu nại nhà nước định giá thấp (đòi bồi thường giá
cao) nhưng khi nộp tiền sử dụng đất lại khiếu nại giá cao (đòi nộp ít). Tình trạng này
đã gây nhiều khó khăn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi tìm kiếm mặt
bằng chung để hài hòa lợi ích giữa người bị thu hồi đất với nhà nước.
1.2.6. Năng lực tổ chức thực hiện của cơ quan thực thi chính sách bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư
Một trong những điều kiện quyết định đến tiến độ, chất lượng của công tác
thực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là năng lực của cơ quan tổ chức thực hiện. Cơ
quan này phải có đội ngũ tinh nhuệ, có đủ quyền hạn, phối hợp đồng bộ và được
được sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên, liên tục của cấp ủy đảng, sự vào cuộc
quyết liệt của cả hệ thống chính trị thì công tác thực thi chính sách bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư sẽ đạt được những kết quả cao.
Bên cạnh đó, sự hợp tác từ phía người bị thu hồi đất là một nhân tố rất quan

nhiệm kỳ 2015-2020 đã thông qua Nghị quyết số 01-NQ/ĐH với các nội dung trọng
tâm như: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng phát triển công
nghiệp công nghệ cao, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Có
chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ cơ khí ô tô, dệt may, da giầy....”, “Đối với
vùng đồng bằng, ven biển: Tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực công
nghiệp, du lịch, dịch vụ, nhất là các khu vực trọng điểm, có tác động lan tỏa. Tập
trung đầu tư hạ tầng Khu kinh tế mở Chu Lai, các khu, cụm công nghiệp, các khu
đô thị mới, đô thị - dịch vụ tổng hợp ven biển theo hướng hiện đại. Chú trọng phát

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status