BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
-----oOo------
NGUYỄN THỊ NGỌC NHI
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA NGUỒN THU VÀ SỞ HỮU
NHÀ NƯỚC ĐẾN LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 09 năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
-----oOo------
NGUYỄN THỊ NGỌC NHI
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐA DẠNG HÓA NGUỒN THU VÀ SỞ HỮU
NHÀ NƯỚC ĐẾN LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.2
Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................3
1.3
Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................4
1.4
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ................................................................4
1.5
Phương pháp nghiên cứu: ..............................................................................4
1.6
Ý nghĩa đề tài .................................................................................................5
1.7
Kết cấu của bài ..............................................................................................5
Kết luận chương 1 ....................................................................................................... 6
Chương 2: Cơ sở lý luận về thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, đa dạng hóa nguồn
thu và sở hữu nhà nước tác động đến lợi nhuận và rủi ro ngân hàng. ........................ 7
2.1 Thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, các hình thức sở hữu, đa dạng hoá
nguồn thu và sở hữu nhà nước tác động đến rủi ro và lợi nhuận ngân hàng. ..........7
Thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi .......................................................................... 7
Phương pháp ước lượng tác động cố định:......................................................... 27
Phương pháp ước lượng tác động ngẫu nhiên .................................................... 27
Kiểm định Hausman ........................................................................................... 28
3.3
Biến nghiên cứu ...........................................................................................28
Biến đo lường lợi nhuận ngân hàng: .................................................................. 28
Biến đo lường rủi ro ngân hàng:......................................................................... 29
Biến đo lường đa dạng hóa nguồn thu ngân hàng: ............................................. 29
Biến đo lường ảnh hưởng nhà nước (OWN): ..................................................... 30
Các biến kiểm soát: ............................................................................................ 30
3.4
Mô hình nghiên cứu:....................................................................................31
Kết luận chương 3 ..................................................................................................... 33
Chương 4: Kết quả nghiên cứu ................................................................................. 34
4.1
Sở hữu nhà nước tại các NHTM ..................................................................34
4.2
Đa dạng hóa nguồn thu ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng ...............35
4.3
Thống kê mô tả ............................................................................................37
Chữ viết tắt
ATM
Máy rút tiền tự động
GMM
Phương pháp hồi quy tổng quát
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHNN
Ngân hàng nhà nước
OLS
Phương pháp ước lượng bình phương bé nhất
ROA
Tỷ suất sinh lợi trên tài sản
ROE
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
CB
Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Xây dựng Việt Nam
EAB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Á
GPBank
Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Dầu khí toàn cầu
MBB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội
Oceanbank
Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại dương
STB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín
VCB
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Việc mở cửa và hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng hiện nay cho phép các ngân
hàng thương mại trong và ngoài nước được hoạt động kinh doanh, cạnh tranh và lớn
mạnh trong một sân chơi công bằng và bình đẳng đồng thời tạo điều kiện thuận lợi
cho các ngân hàng thương mại trong nước thâm nhập thị trường quốc tế và mở rộng
hoạt động kinh doanh. Hội nhập đem lại cho ngành ngân hàng Việt Nam những cơ
hội trao đổi, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hoạch định chính sách tài chính, tiền tệ,
quản lý ngoại hối, thanh tra, giám sát phòng ngừa rủi ro và thanh toán, từ đó nâng
cao vị thế và uy tín của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong các
giao dịch tài chính ngân hàng quốc tế. “Đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ chính là
hướng đi tất yếu giúp các NHTM nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội
nhập” (Hạ Thị Hải Lý, 2016). Từ những năm gần đây, ngoài nguồn thu từ hoạt động
kinh doanh cho vay thuần, nguồn thu ngoài lãi đóng góp một phần không nhỏ vào
lợi nhuận của các ngân hàng.
Đối với hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam, nguồn thu từ lãi của các
NHTM chiếm 70 – 85% nguồn thu và với điều kiện khó khăn như hiện nay thì các
NHTM đang đẩy mạnh tìm nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ (Thùy Vinh, 2012).
Năm 2015 và đầu năm 2016, tăng trưởng tín dụng tiếp tục khó khăn với các NHTM.
Trước tình hình này, các NHTM tìm cách đẩy mạnh hoạt động dịch vụ, gia tăng
nguồn thu như dịch vụ phát hành thẻ (ATM, trả trước, tín dụng), phát triển dịch vụ
ngân hàng trực tuyến, liên kết công ty bảo hiểm để bán chéo sản phẩm bảo hiểm
(bancassurance). Cuối năm 2016, theo quyết định số 2545/QĐ – TTg trong phê
duyệt đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016
- 2020 tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán ở mức thấp hơn 10% đến
cuối năm 2020. Và cũng theo đề án này, 100% siêu thị, trung tâm mua sắm và cơ sở
phân phối hiện đại có thiết bị chấp nhận thẻ và cho phép người tiêu dùng thanh toán
không dùng tiền mặt khi mua hàng; 70% các đơn vị cung cấp dịch vụ điện, nước,
viễn thông và truyền thông chấp nhận thanh toán hóa đơn của các cá nhân, hộ gia
cũng rất được quan tâm và được nhiều tác giả nghiên cứu và có một số kết luận
3
khác nhau khi sử dụng phương pháp hồi quy để xem xét tuy nhiên vẫn chưa xem xét
đến ảnh hưởng của sở hữu nhà nước đến kết quả nghiên cứu.
Có thể thấy, việc đa dạng hóa nguồn thu đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng
nhưng cũng đi kèm nhiều rủi ro và chi phí cho ngân hàng như phải cải cách công
nghệ, rủi ro đầu tư vào bất động sản và chứng khoán (DeYoung, 2004) và câu hỏi
đặt ra là liệu rằng với các tiêu chí đề ra trong việc đa dạng hóa nguồn thu từ các
hoạt động kinh doanh khác ngoài cho vay, liệu các NHTM cổ phần có tỷ lệ sở hữu
nhà nước có đem lại nhiều lợi nhuận hay gặp nhiều rủi ro hơn khi đa dạng nguồn
thu nhập của mình so với các NHTM cổ phần khác hay không? Nghiên cứu của tác
giả với mục đích dựa trên số liệu thực tiễn để xem xét, đánh giá ảnh hưởng của đa
dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước đến lợi nhuận và rủi ro các ngân hàng tại
Việt Nam như thế nào? Bên cạnh đó, bài nghiên cứu sẽ cho thấy xu hướng cơ cấu
nguồn thu nhập của các NHTM tại Việt Nam tăng thu nhập ngoài lãi và tác động
làm giảm thiểu rủi ro phá sản để từ đó, các nhà quản lý đưa các chính sách phù hợp
để gia tăng hiệu quả cho ngân hàng một cách tốt nhất.
1.2
Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung giải quyết những câu hỏi sau đây:
1. Xu hướng cơ cấu các nguồn thu nhập của các NHTM Việt Nam là gì?
2. Tình hình sở hữu nhà nước tại các NHTM Việt Nam những năm gần đây ra
sao?
3. Đa dạng hóa nguồn thu ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi ro của các NHTM
Việt Nam như thế nào?
4. Sở hữu nhà nước tại các NHTM Việt Nam ảnh hưởng như thề nào đến rủi ro
nhuận và rủi ro của các NHTM Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1.4
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện với các NHTM Việt Nam với
tỷ lệ sở hữu nhà nước khác nhau. Hai nhóm NHTM được lựa chọn nghiên cứu
(nhóm NHTM có vốn Nhà nước trên 50% và nhóm NHTM có vốn sở hữu Nhà
nước dưới 50%). Nghiên cứu cũng tập trung xác định về việc đa dạng hóa nguồn
thu của các NHTM lựa chọn và tác động của đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà
nước đến lợi nhuận và rủi ro các ngân hàng tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Ảnh hưởng của đa dạng hóa nguồn thu và hình thức sở hữu
ngân hàng đến lợi nhuận và rủi ro của 29 NHTM cổ phần tại Việt Nam giai đoạn từ
năm 2006 đến năm 2016 (phạm vi nghiên cứu trong 11 năm).
Phương pháp nghiên cứu:
1.5
-
Nghiên cứu định lượng được sử dụng để xử lý bộ dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu
thứ cấp được thu thập từ Báo cáo tài chính hàng năm của 29 NHTM cổ phần tại
Việt Nam trong đó bao gồm 4 NHTM sở hữu Nhà nước trên 50% và 25 NHTM cổ
phần sở hữu Nhà nước dưới 50% được niêm yết công khai đã được kiểm toán cùng
với dữ liệu vĩ mô được khai thác từ nguồn IMF, bankscope...
-
Để xử lý dữ liệu, bài nghiên cứu sử dụng phần mềm Stata với phương pháp
ước lượng thông qua hồi quy dữ liệu bảng, sử dụng kiểm định Hausman test để lựa
bày chi tiết về bộ dữ liệu cùng phương pháp nghiên cứu và cuối cùng xây
dựng mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Ở chương này, tác giả trình bày kết quả hồi
quy mô hình nghiên cứu dựa trên bộ dữ liệu đã trình bày ở chương 3.
Chương 5: Kết luận và đóng góp của đề tài nghiên cứu.
6
Kết luận chương 1
Chương 1 đã trình bày lý do chọn đề tài cùng với mục đích nghiên cứu, đối
tượng và phạm vi nghiên cứu. Tiếp theo chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết về các
nguồn thu nhập của ngân hàng, các hình thức sở hữu ngân hàng và tổng kết lý
thuyết về tác động của đa dạng hoá thu nhập đến lợi nhuận, rủi ro ngân hàng.
7
Chương 2: Cơ sở lý luận về thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, đa dạng hóa
nguồn thu và sở hữu nhà nước tác động đến lợi nhuận và rủi ro ngân hàng.
Chương hai sẽ giới thiệu các khái niệm nghiên cứu về thu nhập từ lãi, thu
nhập ngoài lãi, đa dạng hoá nguồn thu, sở hữu nhà nước tác động đến lợi nhuận và
rủi ro ngân hàng. Đồng thời tổng kết lý thuyết về tác động của đa dạng hoá thu nhập
đến lợi nhuận, rủi ro ngân hàng. Các giả thuyết nghiên cứu cũng được xây dựng ở
chương này dựa vào cơ sở lý thuyết tổng kết được.
2.1
Thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, các hình thức sở hữu, đa dạng hoá
nguồn thu và sở hữu nhà nước tác động đến rủi ro và lợi nhuận ngân hàng.
của một ngân hàng vì thế đa dạng hóa nguồn thu không mang lại lợi nhuận đáng kể.
Với lý thuyết tài chính thì đa dạng hóa các nguồn thu nhập trong một ngân hàng
thường dẫn đến một mức độ rủi ro thấp hơn và hiệu suất của việc điều chỉnh rủi ro
cao hơn. Bên cạnh đó đa dạng hóa nguồn thu nhập tại ngân hàng làm cho ngân hàng
có thêm thu nhập và từ đó có thêm lợi nhuận cho ngân hàng. Động cơ của việc đa
dạng hóa nguồn thu ngân hàng trong các nghiên cứu có thể tóm lược như sau:
- Đa dạng hóa là cách phòng vệ để chống lại rủi ro vỡ nợ và giảm sự xuất hiện
của cuộc khủng hoảng (Froot và Stein, 1998).
- Đa dạng hóa là cơ chế để tăng lợi nhuận và hiệu quả hoạt động, nhất là quy
mô và phạm vi hoạt động gia tăng (Landskroner và các cộng sự, 2005).
- Đa dạng hóa nguồn thu củng cố vai trò của ngân hàng do các ngân hàng có
thể hạn chế thông tin bất cân xứng bằng cách sử dụng các thông tin cần thiết từ các
mối quan hệ ngân hàng cho vay và làm gia tăng các dịch vụ tài chính khác (Stiroh,
2004).
- Cũng theo Stiroh (2004) thu nhập ngoài lãi có thể giảm các biến động lợi
nhuận, ổn định doanh thu và gia tăng thu nhập.
Một số nghiên cứu của DeYoung và Roland (2001) cho rằng nguồn thu từ
hoạt động ngoài lãi như phí dịch vụ thường là ổn định hơn thu nhập từ lãi vay nên
rủi ro ngân hàng sẽ giảm xuống. Còn theo Lee và các cộng sự (2014) thì rủi ro ngân
hàng có thể được giảm thông qua sự đa dạng hóa nguồn thu.
9
Hình thức sở hữu ngân hàng
Theo luật các TCTD năm 2010 thì các NHTM Việt Nam có thể được tổ chức
dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty cổ phần.
Theo Phan Thị Thu Hà (2013), phân loại ngân hàng theo hình thức sở hữu bao gồm:
-
hay nhiều bên, thường là giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để
tận dụng lợi thế của nhau.
10
Hình 2.1 Mô hình các hình thức sở hữu ngân hàng tại Việt Nam
Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2016
Tính đến năm 2016, tổng số lượng ngân hàng tại Việt Nam là 51 ngân hàng,
trong đó có 31 NHTM cổ phần, 3 NHTM cổ phần nhà nước sở hữu trên 50% vốn
điều lệ, và 4 NHTM nhà nước sở hữu 100% vốn cổ phần. Số lượng các NHTM cổ
phần tăng trong giai đoạn từ năm 2006 – 2013, sau đó theo đề án “Cơ cấu lại các tổ
chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” với mục tiêu là xây dựng một hệ thống tổ
chức tín dụng vững mạnh số lượng các NHTM cổ phần giảm dần. Cụ thể là việc sáp
nhập của ba NHTM cổ phần Đệ Nhất, Tín Nghĩa và Sài Gòn vào tháng 12/2011 để
hình thành nên Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn, tiếp theo là NHTM cổ
phần phát triển nhà Hà Nội bị sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội
vào tháng 8/2012. Tháng 12/2013 NHTM cổ phần Đại Á đã sáp nhập với NHTM cổ
phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 5/2015, Ngân hàng phát triển nhà
đồng bằng sông Cửu Long sáp nhập vào NHTM cổ phần đầu tư và phát triển Việt
Nam (BIDV). Tháng 10/2015, NHTM cổ phần Phương Nam sáp nhập vào NHTM
cổ phần Sài gòn Thương tín. Bên cạnh đó, số lượng NHTM nhà nước cũng tăng lên
nguyên nhân là do việc NHTM cổ phần xây dựng Việt Nam bị chuyển đổi thành
ngân hàng TNHH MTV do nhà nước làm chủ sở hữu tháng 01/2015. Đến tháng
04/2015, NHTM cổ phần Đại Dương tiếp tục được nhà nước mua lại với giá 0 đồng.
11
Tháng 07/2015, NHTM cổ phần Dầu khí toàn cầu chính thức chuyển đổi mô hình
nhuận điều chỉnh rủi ro. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm tác động của đa
dạng hóa nguồn thu trong ngành ngân hàng không cho kết quả rõ ràng và đưa ra
bằng chứng cụ thể về tác động của đa dạng hóa nguồn thu có ảnh hưởng tích cực
đến lợi nhuận và giảm rủi ro đối với ngân hàng. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ
này đưa ra các kết luận rất khác nhau. Trong khi một số nghiên cứu chứng minh đa
dạng hoá nguồn thu cải thiện hiệu quả điều chỉnh rủi ro hoặc dẫn đến giảm rủi ro
ngân hàng, một số nghiên cứu khác không tìm thấy bất kỳ mối quan hệ quan trọng
hoặc tìm ra những ảnh hưởng tiêu cực của đa dạng hóa nguồn thu đối với hoạt động
của ngân hàng cũng như rủi ro. Ví dụ như Maudos (2017) phân tích xem xét tác
động của cơ cấu thu nhập đối với rủi ro và lợi nhuận của các ngân hàng châu Âu và
đưa ra kết luận rằng đa dạng hóa nguồn thu không ảnh hưởng tới thu nhập mà còn
tăng rủi ro đối với ngân hàng.
Bên cạnh đó, sở hữu nhà nước cũng rất được quan tâm trong việc chấp nhận
rủi ro của ngân hàng, đặc biệt trong hoạt động cho vay (P. Sapienza, 2002). Ảnh
hưởng đáng kể của sở hữu nhà nước đến rủi ro cho vay của các ngân hàng theo
nghiên cứu của P. Sapienza (2002) cho thấy trong cùng một điều kiện huy động vốn
giữa ngân hàng sở hữu nhà nước và ngân hàng tư nhân thì ngân hàng nhà nước cho
vay với lãi suất thấp hơn khu vực tư nhân đối với cùng một khách hàng. Mặt khác,
hoạt động tín dụng của ngân hàng nhà nước còn bị ảnh hưởng bởi hoạt động chính
trị quốc gia. Nghiên cứu của Nicolas và Loukoianova (2007) cho thấy tùy thuộc
13
vào điều kiện cụ thể mà rủi ro của các ngân hàng sở hữu nhà nước sẽ cao hơn các
ngân hàng sở hữu tư nhân.
2.2
Tổng kết lý thuyết về tác động của đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu
càng đóng góp nhiều hơn vào cấu phần tổng thu nhập. Thu nhập từ hoạt động kinh
doanh nói riêng lại có nhiều biến động. Hơn thế nữa mức tăng trưởng thu nhập từ
lãi và ngoài lãi ngày càng có tương quan nhiều hơn. Phí dịch vụ và các loại phí
chung có tương quan cao với thu nhập từ lãi, trong khi thu nhập từ kinh doanh và ủy
thác thì ít hơn. Về rủi ro và lợi nhuận, có mối tương quan âm rõ ràng giữa thu nhập
ngoài lãi trên mỗi cổ phần và lợi nhuận trên mỗi đơn vị rủi ro. Hoạt động kinh
doanh tác động lớn nhất trên thu nhập cho mỗi đơn vị rủi ro và việc mở rộng cuối
cùng có thể làm giảm lợi nhuận điều chỉnh rủi ro, trong khi thu nhập từ hoạt động
nhận ủy thác trên mỗi đơn vị rủi ro cao hơn và tăng trưởng thu nhập ổn định hơn.
Do vây, đa dạng hóa nguồn thu đến từ thu nhập ngoài lãi sẽ làm sẽ làm ồn định
doanh thu và gia tăng thu nhập cho ngân hàng.
Cùng nhận định trên, Lee và các cộng sự (2014) nghiên cứu tác động của sự
đa dạng hóa nguồn thu lên hoạt động của ngân hàng thông qua một loạt các cải cách
tài chính, bao gồm kiểm soát tín dụng, kiểm soát lãi suất, rào cản gia nhập, giám sát
ngân hàng, tư nhân hóa và hạn chế tài khoản tài chính. Điều này là bước đầu tiên để
tìm ra các cấu trúc tài chính (hệ thống ngân hàng hay thị trường) thay đổi sẽ ảnh
hưởng hiệu quả của việc đa dạng hóa trong hoạt động của từng ngân hàng. Bài
nghiên cứu sử dụng một mẫu dữ liệu bảng gồm 29 nước châu Á Thái Bình Dương
trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2009, tổng cộng 2,372 ngân hàng. Nghiên cứu
này khẳng định giả thuyết về hiệu quả đa dạng hóa danh mục đầu tư cho ngành
ngân hàng các nước Châu Á - Thái Bình Dương. Đối với các tập đoàn ngân hàng,
hiệu quả ngân hàng có thể được cải thiện thông qua việc đa dạng hóa, hỗ trợ cho giả
thuyết "ngân hàng dựa trên quan điểm"(bank – based view). Dưới các hệ thống tài
chính khác nhau, mối quan hệ giữa sự đa dạng hóa doanh thu, cải cách tài chính, và
hiệu quả ngân hàng có mối quan hệ nhiều chiều. Bài viết áp dụng cách tiếp cận dữ
liệu bảng được đề xuất bởi Arellano và Bover (1995), Blundell và Bond (2000) và
sử dụng phương pháp hồi quy tổng quát GMM (generalized method of moments).
Hiệu quả của ngân hàng có thể được cải thiện thông qua một chiến lược đa dạng,
xác định giả thuyết về đa dạng hóa danh mục đầu tư là có ảnh hưởng đến lợi nhuận
nhập.
16
Tóm lại, qua các bài nghiên cứu các tác giả đều đưa ra kết luận thu nhập
ngoài lãi (đa dạng hóa nguồn thu ngoài lãi) có tác động làm tăng lợi nhuận và giảm
rủi ro của ngân hàng. Bên cạnh đó, đa dạng hóa nguồn thu còn làm giảm chi phí,
giảm nguy cơ phá sản và tăng lợi nhuận điều chỉnh rủi ro.
2.2.2 Đa dạng hóa nguồn thu làm giảm doanh thu và tăng rủi ro ở ngân hàng
R. DeYoung và P. Roland (2001) tiến hành kiểm tra với 472 ngân hàng ở Mỹ
giai đoạn năm 1988 – 1995 để tìm ra mức độ ảnh hưởng của đa dạng hóa nguồn thu
có tác động thế nào đến ngân hàng. Các ngân hàng thương mại thu được lợi nhuận
từ việc cung cấp các dịch vụ truyền thống như phát hành séc, thư tín dụng, bảo lãnh
và quản lý tiền mặt. Nhưng gần đây các ngân hàng đã tạo ra thu nhập từ một số
lượng lớn các dịch vụ mới. Thứ nhất, các ngân hàng đã mở rộng sang mức phí thu
dịch vụ truyền thống thấp hơn, và kèm thêm vào các dịch vụ như bảo hiểm và kinh
doanh quỹ tương hỗ. Thứ hai, các ngân hàng đang tính nhiều hơn các loại phí cho
các dịch vụ tài chính đã từng được cung cấp miễn phí. Khách hàng bán lẻ được
hưởng lãi suất cao hơn trong số dư tài khoản của họ được giữ tại ngân hàng, nhưng
đổi lại họ phải trả tiền cho các dịch vụ như séc du lịch và duy trì dịch vụ. Thứ ba, sự
tăng trưởng của chứng khoán hóa trong các khoản vay thế chấp, thẻ tín dụng và các
thị trường cho vay khác đem đến thu nhập cho ngân hàng. Và các ngân hàng tăng
cường mở rộng các hoạt động mang lại nguồn thu này. Kết quả cho thấy, sự gia
tăng biến động các thành phần thu nhập tạo nên doanh thu chủ yếu là từ các hoạt
động tạo phí. Cụ thể hơn, khi quan sát thấy trung bình mẫu các ngân hàng giảm thu
nhập lãi từ các hoạt động cho vay truyền thống, và thay thế bằng thu nhập tăng từ
hoạt động dịch vụ có phí (một số có liên quan đến tín dụng), thu nhập của ngân
hàng có thể sẽ biến động nhiều hơn và giảm đi. Bằng cách tăng lợi nhuận của ngân
hàng, ít nhất là một phần bù đắp ngân hàng cho bất kỳ rủi ro liên quan đến sự gia