BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LÊ TẤN VINH
XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
CÀ MAU: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS, TS Võ Trí Hảo
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Lê Tấn Vinh – mã số học viên: 7701251129A, là học viên lớp Cao
học luật Khóa 25, chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế
TP. Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Xử lý vi phạm
pháp luật về môi trường đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau: Thực
trạng và giải pháp” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”).
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết
quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn
khoa học. Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học
của một số tác giả. Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và
có thể kiểm chứng. Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn
khách quan và trung thực.
Chương 2: Quy trình phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật về môi trường đối với doanh
nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam ......................................................................23
2.1. Phát hiện, xử lý VPPL về MT của DN theo quy định hành chính .......................... 23
2.1.1. Quy định của pháp luật................................................................................................ 23
2.1.1.1. Quy trình thanh, kiểm tra theo kế hoạch ..................................................................... 23
2.1.1.2. Quy trình thanh, kiểm tra đột xuất: ............................................................................... 25
2.1.2 Thực tiễn tại Cà Mau ..................................................................................................... 28
2.1.2.1. Đối với lực lượng Thanh tra chuyên ngành môi trường tỉnh ............................... 28
2.1.2.2. Đối với lực lượng Cảnh sát môi trường Công an trong tỉnh ................................. 28
2.1.2.3. Kết quả thực hiện ................................................................................................................. 29
2.1.3. Những bất cập và giải pháp ....................................................................................... 31
2.1.3.1. Những bất cập ....................................................................................................................... 31
2.1.3.2. Những giải pháp ................................................................................................................... 32
2.2. Phát hiện, xử lý VPPL về MT của DN theo quy định hình sự ................................. 34
2.2.1. Quy định của pháp luật................................................................................................ 34
2.2.1.1. Trước ngày 01/7/2016 ...................................................................................................... 34
2.2.1.2. Sau ngày 01/7/2016 ........................................................................................................... 38
2.2.1.3. Mối quan hệ giữa Luật Thanh tra với Luật Hình sự ................................................ 41
2.2.2. Thực tiễn tại Cà Mau .................................................................................................... 42
2.2.3. Những bất cập và giải pháp ....................................................................................... 42
2.2.3.1. Những bất cập ....................................................................................................................... 42
2.2.3.2. Những giải pháp ................................................................................................................... 43
Chương 3: Chế tài áp dụng đối với vi phạm pháp luật về môi trường đối với doanh
nghiệp.........................................................................................................................................45
3.1. Các biện pháp XLHC đối với hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT ...........................45
3.1.1. Quy định của pháp luật ................................................................................................ 45
3.1.1.1. Đối tượng bị xử phạt VPHC ............................................................................................... 45
3.1.1.2. Các hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT ....................................................................... 45
địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016.
Phụ lục 6: Thống kê số vụ VPPL về môi trường của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh,
giai đoạn 2011 – 2016.
Phụ lục 7: Thống kê nguồn tin tiếp nhận số vụ VPPL về môi trường của DN trên
địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016.
Phụ lục 8: Thống kê hành vi VPPL về MT bị xử phạt VPHC phổ biến của DN trên
địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016.
Phụ lục 9: Thống kê 18 hồ sơ xử phạt VPHC về môi trường của doanh nghiệp trên
địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016.
Phụ lục 10: Công tác điều tra, xử lý các vụ VPPL về môi trường trên toàn quốc của
lực lượng CS PCTP môi trường, giai đoạn 2011 – 2016.
Phụ lục 11: Thống kê nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016.
Phụ lục 12: Thống kê lĩnh vực kinh doanh gây ô nhiễm môi trường bị phát hiện
VPHC trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 – 2016.
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
BVMT
Bảo vệ môi trường
CSMT
Cảnh sát môi trường
CQĐT
CKMT
Cơ quan điều tra
XLHC
XPHC
Xử lý hành chính
Xử phạt hành chính
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
(1) Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người,
sinh vật; đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc và
toàn nhân loại. Giữ cho MT trong lành luôn là mối quan tâm toàn cầu. Vì MT có
trong sạch, lành mạnh thì con người mới có điều kiện sống tốt, mới đảm bảo được
sự phát triển của xã hội. Thế nhưng, sự tác động ngày càng nhiều của con người đã
gây ra những tác động xấu đến MT. Trong đó, ô nhiễm MT là vấn đề nóng, đang
ngày càng diễn tiến theo chiều hướng xấu làm nảy sinh những nguy cơ hủy hoại nghiêm
trọng MT.
Ở nước ta, trong những năm qua, vấn đề ô nhiễm MT và VPPL về BVMT có
xu hướng tăng nhanh và diễn biến phức tạp. Rừng tiếp tục bị tàn phá nặng nề,
khoáng sản bị khai thác bừa bãi; đất đai bị xói mòn và thoái hóa; đa dạng sinh học
trên đất liền và dưới biển đều bị suy giảm; nguồn nước mặt bị ô nhiễm; nhiều đô thị
và khu công nghiệp bị ô nhiễm do nước thải, khí thải, chất thải rắn; các sự cố môi
trường ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất nghiêm trọng... gây biến đổi khí
hậu, các thảm họa hạn hán, bão lụt, động đất, sạt lỡ, lũ quét… đe dọa trực tiếp đến
phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển bền vững của đất nước, ảnh hưởng trực tiếp
đến tính mạng, sức khỏe và chất lượng cuộc sống của con người, tại một số địa
phương trở thành mầm móng mất an ninh trật tự.
Cà Mau là một trong 4 tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm khu vực đồng
Môi trường là vấn đề sống còn của một đất nước, của toàn nhân loại. BVMT
bằng pháp luật là định hướng cơ bản của mỗi quốc gia. Xử lý VPPL về MT là công
cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về MT nhằm duy trì trật tự kỷ
cương pháp chế, góp phần phát triển bền vững đất nước.
Trước sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường, những năm qua, Đảng và
Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về BVMT, như:
Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật
của BLHS đã được Quốc hội thông qua ngày 28/12/1989, 12/8/1991, 22/12/1992,
10/5/1997, 19/6/2009; BLHS năm 2015; Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII và Nghị quyết số 41-NQ/TW
ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của
Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị; Luật
BVMT năm 2005, 2014; Luật Xử lý VPHC năm 2012; Nghị định số 117/2009/NĐCP ngày 31/12/2009 của Chính phủ quy định về xử lý VPPL trong lĩnh vực BVMT,
1
: Xả bẩn gây ô nhiễm;
Mau: Điêu đứng vì nhà máy xả thải trực
tiếp;
Mau:
Khu công nghiệp bốc mùi hôi thối;
nước Cà Mau
đang “giãy chết”
3
Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 và nay là Nghị định số
155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong
Đông Điền (huyện Nhà Bè - TP. Hồ Chí Minh) của Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương; các công ty nhập chất thải phế
liệu về cảng Hải Phòng, Sài Gòn và Đà Nẵng... đều không bị xử lý hình sự. Các biện pháp xử phạt hành chính đối với các
vụ sai phạm này đã bộc lộ những bất cập của chính sách hình sự hóa vi phạm môi trường. Trong số 11 tội danh về tội
phạm môi trường trong BLHS, đến nay ở Việt Nam mới chỉ có 2 tội danh bị khởi tố điều tra và đưa ra xét xử là tội hủy
hoại rừng (Điều 189) và vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm (Điều 190).
4
(1) Nguyên nhân để tình hình VPPL về MT của DN ngày càng nghiêm trọng là
do quy trình phát hiện, xử lý hành chính, hình sự còn nhiều bất cập, gây khó khăn
trong thực tiễn xử lý các hành vi VPPL trong lĩnh vực MT.
(2) Nếu chế tài đủ mạnh thì sẽ hạn chế tình trạng VPPL về MT.
2.2. Câu hỏi nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn và các giả thuyết trên, học viên xác định
luận văn cần trả lời 03 câu hỏi sau:
(1) Nguyên nhân của tình trạng VPPL về MT là do đâu?
(2) Quy trình phát hiện, xử lý VPPL về MT theo quy định của pháp luật Việt
Nam hiện nay như thế nào? Có gì bất cập?
(3) Chế tài áp dụng khi có hành vi VPPL về MT theo quy định của pháp luật Việt
Nam hiện nay. Như thế nào? Có gì bất cập?
3. Tình hình nghiên cứu
3.1. Tình hình nghiên cứu xung quanh câu hỏi nghiên cứu thứ nhất
Nghiên cứu Bộ quy tắc ROCCIPI3 (của Seidman) để tìm hiểu các quy định
của pháp luật Việt Nam; nguyên nhân của tình trạng VPPL về MT của các DN trên
địa bàn tỉnh Cà Mau.
3.2. Tình hình nghiên cứu xung quanh câu hỏi nghiên cứu thứ hai
Nghiên cứu nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về quy trình phát
hiện, xử lý các hành vi VPPL về MT của DN; đối chiếu thực tiễn để phát hiện
những sai sót, bất cập, khó khăn. Trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp.
đó tìm giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý hành chính, xử lý hình sự đối
với các hành vi VPPL về MT đối với DN trong thời gian tới là hết sức cần thiết.
Ngoài ra, học viên còn nghiên cứu một số bài báo, tạp chí trên lĩnh vực này
nhưng tiếp cận ở góc độ khác hoặc phạm vi khảo sát tại địa phương khác để làm cơ
sở nghiên cứu đề tài này.
4. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đi sâu tìm hiểu nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về
BVMT; tìm hiểu thực trạng xử lý VPPL về lĩnh vực MT của DN từ năm 2011 đến
năm 2016 trên địa bàn tỉnh Cà Mau và nguyên nhân; những hạn chế, bất cập về quy
trình phát hiện, chế tài xử lý các hành vi VPPL về MT đối với các DN. Trên cơ sở
đó, đề ra một số giải pháp thiết thực góp phần hoàn thiện một số quy định pháp luật,
cũng như nâng cao hiệu quả công tác xử lý các hành vi VPPL về MT của DN trên
địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ cơ bản sau:
(1) Phân tích ROCCIPI để tìm hiểu các quy định của pháp luật, nguyên nhân của
tình trạng VPPL về MT là do đâu?
(2) Quy trình phát hiện, xử lý VPPL về MT theo quy định của pháp luật Việt
Nam hiện nay như thế nào? Có gì bất cập?
6
(3) Chế tài áp dụng khi có hành vi VPPL về MT theo quy định của pháp luật Việt
Nam hiện nay ra sao? Có gì bất cập?
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Xử lý VPPLvề MT của DN trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2016
- Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Tỉnh Cà Mau.
2.2.1.Quy định của pháp luật
2.2.2. Thực tiễn tại Cà Mau
2.2.3. Những bất cập và giải pháp
Tiểu kết chương 2
Chương 3: Chế tài áp dụng đối với VPPL về môi trường của DN
3.1. Các biện pháp xử lý hành chính
3.1.1. Quy định của pháp luật
3.1.2. Thực tiễn tại Cà Mau
3.1.3. Những bất cập và giải pháp
3.2. Các biện pháp xử lý hành sự
3.2.1. Quy định của pháp luật
3.2.2. Thực tiễn tại Cà Mau
3.2.3. Những bất cập và giải pháp
Tiểu kết chương 3
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
- Những kết quả đạt được của đề tài sẽ làm sáng tỏ các quy định của pháp
luật về BVMT, đồng thời, góp phần bổ sung, hoàn thiện các quy định về quy trình
phát hiện, xử lý và chế tài xử lý đối với các DN có hành vi VPPL về MT.
- Ðề tài còn giúp lãnh đạo và cán bộ các cơ quan chuyên môn trực tiếp làm công
tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực MT, cán bộ, chiến sĩ làm công tác phòng, chống tội
phạm về MT thuộc lực lượng Công an tỉnh Cà Mau nghiên cứu, tham khảo và vận dụng
thực hiện nhiệm vụ này tại địa phương.
8
Chương 1: Phân tích ROCCIPI tìm nguyên nhân vi phạm pháp
luật về môi trường của doanh nghiệp
1.1. Quy tắc (R – Rule; quy định của pháp luật)
“Giới thiệu Luật Bảo vệ môi trường năm 2005”, Nguồn: cập
nhập: 10 giờ ngày 15 tháng 09 năm 2015.
9
quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam
kết BVMT, Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về xử lý VPPL trong
lĩnh vực BVMT…
1.1.3. Giai đoạn 2012 đến nay
Qua thực tiễn thực hiện, Luật BVMT 2005 đã bộc lộ nhiều hạn chế và bất
cập do một số quy định chưa sát thực tế, thiếu cụ thể, chậm đi vào cuộc sống, không
theo kịp yêu cầu phát triển của xã hội; cơ chế, chính sách BVMT chậm đổi mới,
chưa đồng bộ...5.
Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, ngày 23 tháng 6 năm 2014, tại kỳ
họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật BVMT năm 2014. Luật BVMT
năm 2014 kế thừa những nội dung và cấu trúc cơ bản của Luật BVMT năm 2005;
khắc phục hạn chế của những điều khoản thiếu tính thực thi; luật hóa những chủ
trương, chính sách mới về BVMT; mở rộng và cụ thể hóa một số nội dung về
BVMT; xử lý những trùng lặp và mâu thuẫn với các luật khác để bảo đảm tính
thống nhất trong hệ thống pháp luật; tạo tiền đề pháp lý để xây dựng các Nghị định,
Thông tư hướng dẫn xử lý các hành vi VPPL về MT.
Trên cơ sở Luật BVMT năm 2014; Luật Xử lý VPHC năm 2012 (có hiệu lực
thi hành ngày 01/7/2013) và những bất cập, tồn tại của Nghị định số 117/2009/NĐCP ngày 31/12/2009 của Chính phủ quy định về xử lý VPPL trong lĩnh vực BVMT
(hành vi vi phạm còn chung chung và thiếu, mức phạt đối với một số hành vi chưa
hợp lý, mức phạt đối với những hành vi có tính nguy hại cao còn thấp,...), ngày
14/01/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 179/2013/NĐ-CP quy định về xử
phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT.
Mặc dù, các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, đánh dấu một bước phát
10
bất hợp lý, gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong thực thi pháp luật và ảnh
hưởng đến hiệu quả của việc xử lý các hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT (trước
khi Nghị định 155/2016/NĐ-CP có hiệu lực); đồng thời, việc lùi thời gian thi hành
BLHS năm 2015 càng làm cho việc xử lý các hành vi gây ô nhiễm MT hiện nay
theo BLHS năm 1999 còn gặp nhiều khó khăn, bất cập.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy
định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT, có hiệu lực từ ngày 01/02/2017 (thay
thế Nghị định 179), theo hướng tăng mức xử phạt VPHC đối với một số hành vi vi
phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT.
Từ năm 2012 đến nay, thực hiện các văn bản của Đảng, Nhà nước về
BVMT, UBND tỉnh Cà Mau đã ban hành nhiều văn bản để triển khai, chỉ đạo thực
hiện có hiệu quả công tác BVMT trên địa bàn tỉnh, cụ thể một số văn bản như:
Quyết định số 1552/QĐ-UBND ngày 30/10/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau
về việc ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày
17/5/2012 của BCH Đảng bộ tỉnh về BVMT, thích ứng với biến đổi khí hậu và
nước biển dâng tỉnh Cà Mau đến năm 2015, định hướng đến năm 2020; Quyết định
số 1597/QĐ-UBND ngày 31/10/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau về việc
phân công nhiệm vụ triển khai thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013
của Chính phủ trên địa bàn tỉnh Cà Mau; Quyết định số 885/QĐ-UBND ngày
23/5/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau về việc thành lập Ban chỉ đạo xử lý
ONMT và Tổ kiểm tra liên ngành về BVMT (thay thế Quyết định số 26/QĐ-UBND
ngày 10/01/2014, Quyết định số 1704/QĐ-UBND ngày 30/11/2012 của Chủ tịch
UBND tỉnh); Chỉ thị số 09/CT-UBND ngày 10/8/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Cà
Mau về việc tăng cường công tác BVMT trên địa bàn tỉnh Cà Mau; kế hoạch
BVMT từ năm 2011 đến năm 2016; kế hoạch, công văn triển khai thực hiện Nghị
định số 179/2013/NĐ-CP, 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt VPHC trong
lĩnh vực BVMT...
Có thể nói, UBND tỉnh Cà Mau đã chủ động, kịp thời ban hành các văn bản
định kỳ, qua đó, phải phê bình, kiểm điểm nghiêm túc những địa phương làm chưa
đạt chỉ tiêu, hiệu quả kém để rút kinh nghiệm chung; thực hiện kiểm điểm trách
nhiệm người đứng đầu địa phương phải thực sự nghiêm túc, nếu không việc “đánh
trống, bỏ dùi” sẽ tiếp tục diễn ra không chỉ trong lĩnh vực BVMT mà còn nhiều lĩnh
vực khác trong đời sống xã hội.
* So sánh với chính sách của Chính phủ Nhật Bản
Trong thập niên 1960, với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh đã làm cho Nhật
Bản phải chịu những áp lực lớn về vấn đề BVMT. Tình trạng ô nhiễm MT không
khí, MT nước ngày càng gia tăng. Trước thực trạng này, Chính phủ Nhật Bản đã
tiến hành các giải pháp về cải thiện hệ thống pháp luật và thiết lập cơ quan quản lý
nhà nước về môi trường, để giải quyết ngay 3 vấn đề: Giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ
môi trường; Giảm được chi phí kiểm soát ô nhiễm và chi phí về sức khỏe của cộng
đồng; Giảm giá thành sản xuất và giảm chi phí năng lượng. Đây là tư duy mới về
12
quản lý sản xuất, tức là: "Không phải chỉ lo xử lý chất thải ở công đoạn cuối của sản
phẩm, mà phải tính toán ngay từ đầu làm sao để sản xuất hợp lý nhất, phát thải ít
nhất"7.
Chính tư duy kiểm soát phát thải ít nhất ngay từ đầu vào, Chính phủ Nhật
Bản đã ban hành những quy định của pháp luật về tiêu chuẩn phát thải chất thải,
kiểm soát ô nhiễm nước, không khí và giám sát ô nhiễm chất độc hại rất nghiêm
ngặt. Hệ thống Luật Môi trường cơ bản được ban hành vào năm 1993, đã đưa ra Hệ
thống kiểm soát ô nhiễm; trong đó, quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí (có
Luật Kiểm soát ô nhiễm không khí); Luật Kiểm soát ô nhiễm nước chính thức được
thông qua vào năm 1970, tập trung vào 3 vấn đề: Tiêu chuẩn chất lượng môi trường
nước; tiêu chuẩn và quy định phát thải; kiểm soát tổng lượng chất ô nhiễm; Luật
Ngăn ngừa ô nhiễm đất tại vùng đất nông nghiệp...
Chính những thành tựu trên đã tạo cho Nhật Bản phát triển bền vững như
đó, cần nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra
về BVMT, tăng cường chia sẻ, trao đổi thông tin với các đơn vị chức năng có liên
quan, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để phục vụ tốt hơn công tác
quản lý nhà nước về BVMT.
1.2.2. Giám sát phi nhà nước
Giám sát việc thực thi pháp luật về môi trường không chỉ là trách nhiệm của
các cấp chính quyền mà còn là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân và toàn xã hội.
Luật BVMT 2014 quy định: “Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân tham gia hoạt động BVMT; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt
động BVMT theo quy định của pháp luật” (Điều 5). Đặc biệt, Điều 83 Luật BVMT
2014 đã xác lập quyền lập các tổ chức tự quản về BVMT của cộng đồng và người
dân, nêu rõ “Tổ chức tự quản về môi trường có nhiệm vụ tham gia giám sát việc
thực hiện pháp luật về BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa
bàn”.
Điều 144, 145, 146 Luật BVMT 2014 còn quy định, người dân có quyền
được tiếp cận với mọi thông tin liên quan đến tình trạng vi phạm BVMT ở địa
phương. Quy định này là cơ sở pháp lý để người dân và tổ chức cộng đồng địa
phương thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát hiệu quả công tác BVMT.
Với tư cách là những cộng đồng tự quản ở địa phương mà lực lượng đều là
nhân dân, các tổ chức tự quản đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện, tố
giác những vi phạm về BVMT; đưa ra những đề xuất, kiến nghị cho việc xử lý và
giải quyết các vấn đề liên quan đến MT. Như vậy, vai trò của cộng đồng dân cư nói
chung, tổ chức tự quản về MT nói riêng trong việc kiểm tra, giám sát là hết sức quan
trọng.
Mặc dù đảm trách nhiều vai trò trong hoạt động giám sát BVMT, song cơ
chế giám sát việc thực thi pháp luật về BVMT của các tổ chức tự quản chưa được
xác lập rõ ràng và thống nhất. Hiện nay, cơ chế tham gia của các tổ chức tự quản
chủ yếu là cơ chế gián tiếp, tức thông qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường sẽ làm tăng chi phí của doanh
nghiệp, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN và sẽ làm tăng giá thành sản
phẩm, tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường không chỉ phụ thuộc năng lực kinh
tế, mà còn phụ thuộc năng lực công nghệ của từng DN trực tiếp sản xuất và DN
8
9
/> />
15
cung ứng nguyên liêu, năng lực chế biến, sử dụng các sản phẩm phụ của các DN
trên cùng địa bàn.
Đằng sau giá thành sản phẩm, sẽ liên quan năng lực kinh tế của người tiêu
dùng, liệu họ đã sẵn sàng mua sắm những sản phẩm có tiêu chuẩn môi trường cao
nhưng giá thành kèm theo cao tương ứng.
Trên địa bàn tỉnh Cà Mau, qui mô các DN, chủ yếu là DN chế biến thủy sản
xuất khẩu có qui mô tương đối lớn, các DN có nhiều bước đột phá về sản lượng
thông qua việc đầu tư trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến hiện đại, ngang
tầm với các nước trong khu vực, điển hình như Công ty cổ phần Tập đoàn thủy sản
Minh Phú, là DN đứng thứ 23 trong số 100 doanh nghiệp thủy sản lớn nhất thế giới
và là cánh chim đầu đàn của thủy sản Việt Nam. Nhiều DN phấn đấu thực hiện
quản trị chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế khác như SA 8000 (quản trị trách nhiệm
xã hội), OHSAS 18001 (tiêu chuẩn cho hệ thống quản lý sức khỏe và an toàn); đẩy
mạnh xây dựng thương hiệu, minh bạch hóa về chất lượng sản phẩm, tuân thủ
nghiêm quy định về BVMT, an toàn vệ sinh thực phẩm trong quá trình nuôi, góp
phần đưa ngành thủy sản Cà Mau thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và Vùng
đồng bằng sông Cửu Long.
Tuy nhiên, hiện chỉ có trên 40% sản phẩm thủy sản xuất khẩu của DN, công
đáng kể trong việc triển khai các quy định của pháp luật về MT. Họ tập trung vào
việc triển khai công nghệ tiên tiến nhằm tiết kiệm nhiên liệu, thân thiện môi trường,
phân loại rác thải, tái chế và sử dụng; áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn…
Đây là kết quả rất đáng trân trọng.
Việc tuân thủ các quy định của pháp luật về MT của DN là điều kiện tiên
quyết để thực hiện hoạt động đầu tư các dự án cụ thể, góp phần giảm chi phí trong
hoạt động sản xuất kinh doanh. Chẳng hạn, từ việc tuân thủ các quy định về quản lý
chất thải, đặc biệt là nghĩa vụ giảm thiểu, phân loại tái chế, tái sử dụng chất thải, các
cơ sở kinh doanh có thể tiết kiệm được các chi phí đầu vào và thu được lợi ích kinh
tế từ chất thải có thể tái chế, tái sử dụng. Việc giảm thiểu chất thải, tái chế chất thải
để tái sử dụng đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu suất sử dụng nguyên nhiên vật
liệu trong quá trình sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất.
Việc tuân thủ một cách nghiêm túc các quy định của pháp luật về MT của
DN trong hoạt động kinh doanh sẽ giúp chủ DN tránh được việc áp dụng các trách
nhiệm pháp lý. Các trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với DN khi DN có hành vi
VPPL MT có thể làm ảnh hưởng tới kinh tế của các DN (tiền phạt, tiền bồi thường
thiệt hại), ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN (tạm thời đình chỉ
hoạt động, chấm dứt hoạt động) hoặc ảnh hưởng tới việc tiêu thụ sản phẩm do gặp
phải sự phản ứng của người tiêu dùng (do bị tẩy chay hàng hóa khi có hành vi gây
ONMT), ảnh hưởng tới uy tín, hình ảnh, thương hiệu của chủ thể kinh doanh.
Tuy nhiên, nhiều DN trên địa bàn tỉnh Cà Mau vẫn chưa nhận thức đúng đắn
về công tác BVMT cũng như tuân thủ các quy định của pháp luật về BVMT nên
tình trạng gây ô nhiễm MT và vi phạm các quy định của pháp luật về BVMT vẫn
còn diễn ra phổ biến. Ý thức của DN trong BVMT chưa tốt, trách nhiệm với xã hội,
cộng đồng chưa cao, chỉ vì mục tiêu tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận, tăng lợi ích
17
nên các DN tìm mọi cách, bất chấp sức khỏe và những lợi ích của cộng đồng bằng
10
Bài nói chuyện tại Khoa Luật, UEH: "Kiểm soát bội tín kinh doanh: Nên đặt ở đâu? của PGS.TS. Võ Trí Hảo – Phó
Trưởng Khoa luật - ĐH KT TPHCM.
18
Công thức trên cho thấy, nếu một DN có hành vi vi phạm xả thải vượt tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật ra môi trường, giả sử bị cơ quan chức năng phát hiện và
chế tài xử phạt doanh nghiệp nộp tiền phạt chỉ bằng hoặc ít hơn giá trị do hành vi
mà doanh nghiệp vi phạm thì quy định pháp luật đó sẽ vô hình trung khuyến khích
DN tiếp tục vi phạm.
Một khía cạnh khác, nếu xác suất phát hiện, xử lý của cơ quan chức năng
càng ít đi, lúc này lợi nhuận (C) gần như bằng chế tài (S), thì DN chỉ được hưởng
lợi. Tư duy này xem ra chưa ổn, bởi chế tài chưa đủ sức răn đe.
Trên địa bàn tỉnh Cà Mau, VPPL về BVMT của các DN còn diễn biến phức
tạp, một trong các nguyên nhân được các cơ quan quản lý nhà nước về BVMT xác
định là do các DN chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà chưa chú trọng đến công tác
BVMT, chưa đầu tư hệ thống xử lý nước thải hoặc đầu tư nhưng không vận hành
thường xuyên để bớt gánh nặng về kinh tế, tăng lợi nhuận nhưng đã làm hủy hoại
môi trường sinh thái ngày càng nghiêm trọng.
1.6. Quy trình (thủ tục - P)
Nhà nước ban hành luật BVMT cùng những quy định, thủ tục đi kèm để bảo
vệ, cải tạo môi trường nhằm tránh những tác động, hậu quả xấu có thể xảy ra, bảo
vệ cho cuộc sống, sức khỏe của chính chúng ta hiện tại và trong tương lai. Đó là lý
do mà mỗi DN phải tuân thủ nghiêm các quy định về BVMT. Vậy, một DN cần
hoàn tất những thủ tục gì về MT?