VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ HOÀNG HẠNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ HOÀNG HẠNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 838.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ .... 7
1.1. Khái niệm khai sinh, khai tử và quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh,
khai tử ............................................................................................................... 7
1.2. Vai trò quản lý nhà nước về hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử. ....... 19
1.3. Các đặc điểm quản lý nhà nước về khai sinh, khai tử ở cấp xã ............... 22
1.4. Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động khai sinh, khai tử ........... 26
1.5. Các yếu tố bảo đảm quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh khai tử ở
cấp xã .............................................................................................................. 29
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
KHAI SINH, KHAI TỬ Ở CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG
NAM .............................................................................................................. 35
2.1. Những đặc điểm của tỉnh Quảng Nam liên quan đến quản lý nhà nước về
khai sinh, khai tử ở cấp xã .............................................................................. 35
2.2. Thực tiễn thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về hoạt động khai
sinh, khai tử ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng nam ....................................... 38
2.3. Đánh giá việc thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử
ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ............................................................ 49
CHƯƠNG 3. MỤC TIÊU YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI SINH KHAI TỬ Ở CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM ..................................................... 55
3.1. Mục tiêu, yêu cầu đối với quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai
tử ..................................................................................................................... 55
3.2. Giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở
cấp xã .............................................................................................................. 59
KẾT LUẬN ................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
: Đăng kí khai tử
UBND
: Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1.
2.2.
2.3.
Tên bảng
Thống kê số lượng công chức TPHT cấp xã năm
2017 trên địa bàn tinh Quảng Nam
Thống kê số liệu đăng ký khai sinh giai đoạn 20132017 của tỉnh Quảng Nam
Thống kê số liệu đăng ký khai tử giai đoạn 20132017 của tỉnh Quảng Nam
Trang
44
47
48
phủ quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch để bảo đảm các
nội dung của Luật được triển khai thực hiện có hiệu quả. Trong thời gian qua
các cấp chính quyền địa phương đã có nhiều biện pháp thực hiện tốt công tác
quản lý hoạt động khai sinh, khai tử. Vì vậy, quản lý hoạt động khai sinh, khai
tử dần đi vào nề nếp và đạt được những kết quả nhất định.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được quản lý nhà nước về hoạt
động khai sinh, khai tử cấp xã ở tỉnh Quảng Nam còn có nhiều hạn chế như:
thủ tục quản lý đăng kí khai sinh, khai tử chưa khoa học, chưa phù hợp thực
tế, trình độ, năng lực của đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch ở cấp xã chưa
đáp ứng được yêu cầu; việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hộ tịch chưa
được quan tâm đúng mức... Những hạn chế này đã làm giảm đi hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước về hộ tịch nói chung và hoạt động khai sinh, khai tử nói
riêng. Vì vậy, nghiên cứu về quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử
cấp xã ở tỉnh Quảng Nam nhằm làm rõ hơn nữa cơ sở lý luận, thực tiễn của
quản lý hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã, chỉ ra những nguyên nhân của
các hạn chế, trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị góp phần nâng cao hơn
nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử cấp
xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam là một điều cấp thiết hiện nay. Đây là lý do
để đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã từ thực
tiễn tỉnh Quảng Nam” được lựa chọn để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Quản lý hoạt động khai sinh, khai tử là hoạt động khó khăn và phức tạp
đòi hỏi nhà quản lý phải có tầm hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên môn, sự
thông thạo về đặc điểm dân cư, tập quán, truyền thống, văn hóa, trình độ phát
triển của địa phương. Có như vậy nhà quản lý mới có thể áp dụng một cách
linh hoạt pháp luật của nhà nước, từ đó đưa ra các quyết định quản lý phù
hợp, mang lại hiệu quả cao.
3
chưa rõ hoặc chưa đầy đủ, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào
đề cập đến việc quản lý nhà nước về lĩnh vực khai sinh, khai tử ở cấp xã từ
thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của quản lý nhà nước về hoạt động khai
sinh, khai tử ở cấp xã từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam. Từ đó, đề xuất các giải
pháp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về lĩnh vực
khai sinh, khai tử nói chung, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ hơn nữa cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về hoạt động khai
sinh, khai tử ở cấp xã; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động
khai sinh, khai tử ở cấp xã thông qua thực tiễn ở tỉnh Quảng Nam trong thời
gian qua nêu ra những kết quả đạt được và những mặt hạn chế còn tồn tại.
Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện góp phần nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã nói chung
và trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về hoạt động khai
sinh, khai tử ở cấp xã.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian được giới hạn ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam,
về mặt thời gian được giới hạn từ năm 2013 đến năm 2017
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm cơ sở để các cấp chính
5
quyền trong đó có chính quyền địa phương ở tỉnh Quảng Nam nghiên cứu,
vận dụng vào thực tế quản lý trong lĩnh vực khai sinh, khai tử; là cơ sở cho
việc hoàn thiện pháp luật.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn
được kết cấu thành 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quản lý nhà nước về
hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử
ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Mục tiêu yêu cầu và giải pháp bảo đảm quản lý Nhà nước về
hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI SINH,
KHAI TỬ Ở CẤP XÃ
1.1. Khái niệm khai sinh, khai tử và quản lý nhà nước về hoạt động khai
sinh, khai tử
1.1.1. Khái niệm về khai sinh, khai tử
Khai sinh là khai báo và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận
UBND cấp xã có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ
em sinh ra tại Việt Nam có: Cha và mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong
nước; Cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; Cha hoặc mẹ là
công dân Việt Nam cư trú ở trong nước, còn người kia là công dân
Việt Namđịnh cư ở nước ngoài; Cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người
không quốc tịch, cư trú ổn định, lâu dài tại Việt Nam; Cha hoặc mẹ là người
nước ngoài hoặc người không quốc tịch, cư trú ổn định, lâu dài tại Việt Nam,
còn người kia là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; Cha hoặc mẹ là
công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới, còn người kia là công dân
của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới
1.1.3. Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã
Theo giáo trình nhà nước và pháp luật, quản lý hành chính nhà nước của
học viện chính trị quốc gia thành phố Hồ Chí Minh thì “quản lý nhà nước
theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước,
nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các
phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà
nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao
động làm chủ. Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ
8
chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá
trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được
những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, các cơ quan
nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều
hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng
cố chế độ công tác nội bộ của mình.”
Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức
thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,công chức, ban
hành quy chế làm việc nội bộ... Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp này còn
chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước. Nói cách khác, quản lý hành
chính nhà nước là hoạt động chấp hành Hiến pháp, luật và tổ chức đời sống xã
hội theo Hiến pháp, luật của các chủ thể có thẩm quyền (mà phần lớn là do cơ
quan hành chính nhà nước thực hiện).
Quản lý hoạt động khai sinh, khai tử là một trong những hoạt động của
quản lý nhà nước, thông qua việc đăng ký khai sinh, khai tử, tập trung chủ
yếu vào các hoạt động: ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành
văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch; xây dựng và tổ chức thực hiện chính
sách, kế hoạch, định hướng về hoạt động khai sinh, khai tử ; phổ biến, giáo
dục pháp luật; quản lý hệ thống tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức
trong hoạt động khai sinh, khai tử; đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ
về đăng ký khai sinh, khai tử; kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm,
giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử; bảo
đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động đăng kí khai sinh,
khai tử; tổng kết hoạt động đăng kí khai sinh, khai tử; báo cáo cơ quan nhà
nước cấp trên về hoạt động đăng ký khai sinh, khai tử.
Từ thời phong kiến cho đến nay, quản lý hộ tịch nói chung và quản lý
khai sinh, khai tử nói riêng luôn được coi trọng như một công cụ của nhà
nước để bảo vệ quyền nhân thân và hoạch định các chính sách kinh tế - xã
10
hội, an ninh, quốc phòng; mặt khác, nó là hoạt động thể hiện tập trung, sinh
động mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.
Để quản lý dân cư, mỗi quốc gia có những phương thức quản lý khác
nhau nhưng đều hướng đến mục đích quản lý một cách đầy đủ, kịp thời, chính
xác các dữ liệu về đặc điểm nhân thân cơ bản của từng công dân. Ở Việt
Nam, quản lý hoạt động khai sinh, khai tử được xác định là khâu trung tâm
của toàn bộ hoạt động quản lý dân cư. Với những giá trị tiềm tàng như vậy,
tham gia với tư cách là một công dân một con người như quan hệ về hôn nhân
gia đình, thừa kế, hộ tịch, hộ khẩu, bảo hiểm xã hội...
Quản lý hoạt động khai sinh, khai tử còn bảo đảm trật tự xã hội như:
trong lĩnh vực hoạt động tư pháp khi cần đánh giá năng lực chủ thể của một
cá nhân các cơ quan tiến hành tố tụng luôn cần đến giấy khai sinh của cá nhân
đó. Giấy khai sinh chứa đựng các dữ liệu gốc của cá nhân như ngày, tháng,
năm sinh, nơi sinh, dân tộc, quốc tịch, họ tên cha mẹ…do đó khi được sử
dụng với tính cách là chứng cứ, các thông tin thể hiện trên giấy khai sinh có
thể giúp cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá nhiều vấn đề trong các vụ án hình
sự, dân sự, hành chính...
Hiện nay, theo quy định của Luật hộ tịch 2014 thì quản lý nhà nước về
hoạt động khai sinh, khai tử ở cấp xã là “một hình thức hoạt động
của nhà nước, do Uỷ ban nhân dân (gọi tắt là UBND) cấp xã mà trực tiếp
thực hiện là công chức Tư pháp – Hộ tịch phụ trách lĩnh vực khai sinh, khai
tử trên cơ sở những quy định của pháp luật về hộ tịch và các quy định khác
của pháp luật có liên quan về hộ, góp phần vào bảo đảm, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội”.
Quản lý hoạt động khai sinh, khai tử là công việc quan trọng, diễn ra
hàng ngày, hàng giờ ở mọi nơi mọi lúc. Là việc chính quyền cấp xã dựa trên
quyền lực công quản lý sự kiện pháp lý liên quan sự kiện sinh, sự kiện tử của
các công dân trên địa bàn mình quản lý.
12
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hộ tịch (tại điều 71 của luật Hộ tịch
2014), Ủy ban nhân dân cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thực hiện
đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật này; Căn cứ quy định của Ủy ban
nhân dân cấp trên, bố trí công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký
hộ tịch; Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch; Quản lý, sử dụng Sổ hộ
cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Như vậy quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh khai tử ở cấp xã là
việc UBND cấp xã thực hiện đăng ký khai sinh, đăng ký khai tử theo thẩm
quyền của cấp mình quản lý. Thẩm quyền đăng ký khai sinh, khai tử của cấp
xã được quy định cụ thể tại luật Hộ tịch 2014 có hiệu lực chính thức từ ngày
01/01/2016 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến lĩnh vực
khai sinh, khai tử. Cụ thể như:
Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân từ biết, đến hiểu, làm đúng
các quy định của pháp luật về đăng ký khai sinh, khai tử;
Quản lý, sử dụng sổ Đăng ký khai sinh, khai tử, biểu mẫu Đăng kí khai
sinh, phần mềm hộ tịch theo quy định của Bộ Tư pháp;
Thực hiện công tác lưu trữ và quản lý giấy tờ sổ sách, biểu mẫu, giữ liệu
hộ tịch điện tử liên quan tới công tác khai sinh, khai tử;
Cấp trích lục khai sinh, khai tử từ sổ đăng kí khai sinh hoặc từ giữ liệu
hộ tịch điện tử;
Căn cứ vào quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành cải
chính, bổ sung, thay đổi những nội dung liên quan tới giấy khai sinh: họ tên
đệm, ngày tháng năm sinh, dân tộc, địa điểm thường trú, cha, mẹ, nghề
nghiệp của công dân khi yêu cầu của họ là chính đáng và có căn cứ pháp luật.
Tổng hợp, thống kê số liệu về tình hình đăng kí khai sinh, khai tử ở địa
phương cho UBND huyện (trực tiếp là Phòng tư pháp ) theo định kỳ (6 tháng
một lần). Giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân theo đúng thẩm quyền, có
biện pháp xử lý nghiêm minh với những hành vi vi phạm.
14
1.1.3.1. Quản lý nhà nước về hoạt động khai sinh.
Hành vi đăng ký khai sinh của cơ quan đăng ký hộ tịch đánh dấu điểm
khởi đầu của hoạt động quản lý nhà nước đối với từng người dân, đồng thời
sinh.Việc xác định quốc tịch, dân tộc, họ của người được khai sinh được thực
hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch Việt Nam và pháp luật dân sự.
Nội dung đăng ký khai sinh là thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân, được
ghi vào Sổ hộ tịch, Giấy khai sinh, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử
và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Hồ sơ, giấy tờ của cá nhân liên quan đến
thông tin khai sinh phải phù hợp với nội dung đăng ký khai sinh của người
đó.Chính phủ quy định việc cấp Số định danh cá nhân cho người được đăng
ký khai sinh.
+ Trách nhiệm đăng ký khai sinh:
Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm
đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh
cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức
đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.
Công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc đăng
ký khai sinh cho trẻ em trên địa bàn trong thời hạn quy định; trường hợp cần
thiết thì thực hiện đăng ký khai sinh lưu động.
+ Thủ tục đăng ký khai sinh:
Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng
sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì
nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người
làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho
trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có
thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải
có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.
Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định trên, nếu thấy thông tin khai
16
sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai sinh
hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu.”
Quyền được khai sinh của trẻ cũng được quy định trong Luật trẻ em năm
2016 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/06/ 2017: “Trẻ em có quyền được khai
sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới
tính theo quy định của pháp luật” (điều 13).
Trình tự thủ tục đăng ký khai tử được quy định tại chương II mục 7 luật
Hộ tịch 2014 cụ thể:
+ Thẩm quyền đăng ký khai tử:
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện
việc đăng ký khai tử. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng
của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát
hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.
+ Thời hạn và trách nhiệm đăng ký khai tử:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc
con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi
đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện
của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử.
Công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc khai tử
cho người chết; trường hợp không xác định được người có trách nhiệm đi
khai tử thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký khai tử.
+ Thủ tục đăng ký khai tử:
Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và
Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
Ngay sau khi nhận giấy tờ theo quy định pháp luật, nếu thấy việc khai tử
đúng thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng
người đi khai tử ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử.
18