Mô hình nội trú dân nuôi trong giáo dục phổ thông ở huyện yên minh, tỉnh hà giang ( Luận văn thạc sĩ) - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THANH TÙNG

MÔ HÌNH NỘI TRÚ DÂN NUÔI
TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Ở HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THANH TÙNG

MÔ HÌNH NỘI TRÚ DÂN NUÔI
TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Ở HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
Ngành/chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số:

8 31 03 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC


hội Việt Nam đã giúp đỡ tôi về chuyên môn trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu khoa học.
Tôi xin gửi tới các cán bộ công tác ở Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện
Yên Minh, cán bộ chính quyền, tập thể giáo viên, lãnh đạo trường phổ thông
cơ sở tại các xã Sủng Thài, Sủng Cháng, Lao Và Chải, Na Khê, Phú Lũng,
Đường Thượng..., cùng cộng đồng người dân tộc thiểu số nơi tôi đến nghiên
cứu điền dã đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp thông tin, tư liệu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắc đến
thầy giáo Mua Thiên Sính, Nguyên Hiệu trưởng trường nội trú dân nuôi Sủng
Thài, một trong bốn cá nhân có công khởi xướng mô hình nội trú dân nuôi ở
Yên Minh nói riêng và tỉnh Hà Giang nói chung hơn 30 năm về trước. Sự gặp
gỡ, tiếp xúc với “nhân chứng sống” này là một trong những điều kiện tiên
quyết giúp Luận văn được hoàn thành với chất lượng tốt nhất.

Hà Nội, ngày tháng

năm 2018

Học viên cao học

Nguyễn Thanh Tùng

ii


MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC

1.2.2. Đặc điểm dân cư, xã hội

23

1.3. Quá trình hình thành và phát triển của mô hình NTDN ở Yên Minh

24

Tiểu kết chương 1

29

CHƢƠNG 2: Thực trạng và hiệu quả hoạt động của mô hình nội trú dân nuôi 30
2.1. Thực trạng hoạt động của mô hình NTDN ở Yên Minh

30

2.1.1. Quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường

30

2.1.2. Xây dựng, củng cố cơ sở vật chất cho nhà trường

32

2.1.3. Công tác đảm bảo đời sống sinh hoạt cho học sinh

34

2.1.4. Chế độ học tập, sinh hoạt của học sinh


2.3. Yếu tố cơ bản tác động tới hoạt động và hiệu quả của mô hình
2.3.1. Đời sống kinh tế của cộng đồng địa phương

iii

51
51


2.3.2. Văn hóa địa phương và tâm lý tộc người

55

2.3.3. Vai trò của nhà trường và hệ thống chính trị cơ sở

59

2.3.4. Trợ cấp giáo dục từ Nhà nước và các đối tượng ngoài Nhà nước

62

Tiểu kết chương 2

64

CHƢƠNG 3: Bài học kinh nghiệm từ mô hình nội trú dân nuôi và
một số vấn đề đặt ra hiện nay cho trƣờng học cấp xã có nội trú

65


3.2.1. Thực hiện phân cấp trong tuyển sinh căn cứ vào mạng lưới
trường, lớp sẵn có

71

3.2.2. Thực hiện công bằng trong công tác tuyển sinh

72

3.2.3. Xây dựng chế độ nội trú một cách hệ thống và chặt chẽ

73

3.2.4. Tận dụng nguồn nhân lực địa phương trong bộ máy quản lý nội trú

73

3.2.5. Giáo viên cần chú ý đến hoàn cảnh của từng học sinh

74

3.2.6. Giáo dục nếp sống tiến bộ phải nằm trong chương trình giảng dạy

74

3.2.7. Lồng ghép văn hóa truyền thống tộc người vào chương trình nội trú

75


DTTS

Dân tộc thiểu số

ĐBKK

Điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

GD&ĐT

Giáo dục và Đào tạo

HĐND

Hội đồng nhân dân

Mô hình NTDN

Mô hình trường có nội trú dân nuôi

NTDN

Nội trú dân nuôi

Nxb

Nhà xuất bản

PCGD


THPT

Trung học phổ thông

tr

Trang

Trường NTDN

Trường có nội trú dân nuôi

Ủy ban nhân dân

UBND

XHHGD

Xã hội hóa giáo dục

v


DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Stt
Bảng 2.1

Tên bảng, sơ đồ
Kết quả học lực của học sinh NTDN và học sinh trường

chung ấy, sự nghiệp giáo dục đối với vùng miền núi, vùng DTTS cũng ngày càng
được đẩy mạnh, nhằm nhanh chóng đưa đồng bào nơi đây thoát khỏi nghèo nàn, lạc
hậu, từng bước rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, tiến tới công
bằng và hạn chế sự phân hóa trong giáo dục. Hàng loạt chủ trương, chính sách
GD&ĐT nhằm xây dựng đội ngũ lao động, tri thức là người DTTS miền núi đã
được thi hành, qua đó đóng góp trực tiếp vào việc nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của đồng bào các DTTS, góp phần quan trọng cho xây dựng và củng cố
khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Song song với những thành tựu to lớn, việc phát triển giáo dục ở các vùng
DTTS và miền núi ở nước ta còn tồn tại nhiều vấn đề hết sức nan giải, mà một trong
số đó là ảnh hưởng của đặc điểm địa lý - dân cư đối với nhiệm vụ PCGD cho trẻ em
trong độ tuổi đến trường. Địa hình hiểm trở, phức tạp ở miền núi làm cho dân cư
phân bố không tập trung, đặc biệt là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Dân cư sống rải
rác ở khe suối, lưng đèo và đỉnh núi... đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc mở trường,
mở lớp. Đại đa số học sinh phải đi học xa nhà đến 5 - 10km đường rừng núi hoặc
hơn. Nhiều em đến lớp phải vượt đèo, lội suối rất gian nan, chưa kể nguy hiểm
trong mùa mưa lũ. Cùng với rào cản về kinh tế gia đình và sự hạn chế của cơ sở hạ
tầng giao thông, đây là khó khăn lớn cho việc vận động con em đồng bào các DTTS
đi học, mà hệ quả tất yếu là tỷ lệ học sinh bỏ học ở các cấp vẫn còn phổ biến, tỷ lệ
học sinh DTTS được tiếp xúc với giáo dục bậc cao còn rất thấp.
1


Để vượt qua những khó khăn kể trên, đồng bào các DTTS cùng cán bộ, giáo
viên ở nhiều vùng sâu, vùng xa đã sáng tạo ra nhiều cách làm hay, những kinh
nghiệm quý báu. Một trong những sáng tạo đó là việc xây dựng trường nội trú cấp
xã bằng mô hình NTDN. Thành công điển hình của trường phổ thông cấp II Đạo
Viện (Yên Sơn, Tuyên Quang) những năm 1964 - 1969, trường Sủng Thài (Yên
Minh, Hà Giang) những năm 1990 - 1995 đã giúp mô hình lan rộng ra nhiều địa
phương trên cả nước, bước đầu mang lại hiệu quả giáo dục, phục vụ cho nhiệm vụ

2.1. Nghiên cứu về giáo dục phổ thông vùng DTTS và miền núi
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục phổ
thông ở vùng DTTS, trong đó luận bàn ở nhiều bình diện và góc độ khác nhau. Hầu
hết các công trình thiên về hướng khái quát các lý luận liên quan đến vai trò của
giáo dục dân tộc, ít phân tích có tính phê phán thực trạng và chính sách giáo dục của
Nhà nước. Tuy nhiên, ở một chừng mực nào đó, các tài liệu này có giá trị tham
khảo giúp có được cái nhìn sâu hơn vào thực tế.
Đề cập về tình hình giáo dục và thực hiện chính sách giáo dục ở vùng DTTS
từ sau năm 1945 đến nay, những công trình, bài viết như: “Vài nét về sự phát triển
văn hóa giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc” của La Công Ý [130], “Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay” của Bế Viết Đẳng và
cộng sự [25], “Những biến đổi về kinh tế - văn hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc”
của Viện Dân tộc học [125], “Những đặc điểm kinh tế xã hội các dân tộc miền núi
phía Bắc” do Khổng Diễn chủ biên [20], “Khảo sát việc thực hiện chính sách giáo
dục, y tế đối với trẻ em và phụ nữ dân tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn thuộc
Chương trình 135” của Nguyễn Ngọc Thanh và cộng sự [93], “Một số vấn đề về
chính sách giáo dục ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam” do Nguyễn Ngọc
Thanh chủ biên [96]… đã chỉ rõ khoảng cách chênh lệch giữa các tộc người, nhóm
xã hội, giới, độ tuổi... trong việc hưởng dụng chính sách giáo dục. Những tiến bộ
chung được thừa nhận song hành với các biểu hiện sa sút về chất lượng giáo dục, tỷ
lệ huy động trẻ đến trường, sự xuống cấp của cơ sở vật chất trường học và bất bình
đẳng trong việc tiếp cận nền giáo dục quốc dân, bao gồm cả vấn đề dạy, học tiếng
Việt và ngôn ngữ DTTS. Các kết luận được đưa ra cũng cơ bản phù hợp với số liệu
từ những cuộc tổng điều tra quy mô lớn cho thấy nền giáo dục dân tộc vẫn còn gặp
3


rất nhiều thách thức ngay cả trong nhiệm vụ cơ bản nhất là nâng cao tỷ lệ trẻ em
đến trường [7] [58] [59] [64] [127] .
Trong những năm gần đây, một số nghiên cứu trường hợp của các nhà Nhân

Từ những năm 2000 trở đi, mô hình NTDN ở vùng DTTS và miền núi mới
thu hút được nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong nước, trước hết là các
ngành Khoa học giáo dục, Quản lý giáo dục. Các bài viết, bài báo khoa học của của
Trương Xuân Cừ [19], Đoàn Văn Ninh 65], Trần Thanh Phúc [74], Lê Nguyên
Quang [77] [78], Lê Nguyên Quang và Tôn Thị Tâm [79], Ngô Quang Sơn 86],
Tôn Thị Tâm [91], Trần Thị Thành [97]... chủ yếu tập trung vào những vấn đề định
danh, vị trí, vai trò, hạn chế, phương pháp quản lý, phát triển và mở rộng mạng lưới
trường, lớp. Các tác giả đã phân tích sơ bộ đặc thù của vùng DTTS với các điều
kiện địa lý, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hoạt động của trường NTDN.
Bên cạnh những bài viết có ý nghĩa giới thiệu, phân tích lý luận, một số công
trình mang tính chất điều tra, khảo sát về trường NTDN đã được thực hiện trong
cùng thời điểm, với địa bàn nghiên cứu giới hạn ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Tư
liệu thực địa của nhóm tác giả Ngô Văn Doanh được trình bày trong công trình
“Nghiên cứu xây dựng mô hình trường nội trú dân nuôi ở vùng cao” 22] đã cung
cấp một số thông tin về lịch sử hình thành và phát triển của trường NTDN ở 4 tỉnh
Lào Cai, Hà Giang, Sơn La và Yên Bái. Công trình “Nghiên cứu các loại hình
trường, lớp vùng dân tộc từ năm 1991 đến nay” do Vi Văn Điểu làm chủ nhiệm cho
thấy sự phát triển nhanh chóng về quy mô của trường, lớp NTDN trên cả nước trong
những năm đầu của thế kỷ XX [27]. Trong cuốn “Một số vấn đề về chính sách giáo
dục ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam” do Nguyễn Ngọc Thanh chủ biên
[96], các tác giả cũng đề cập nhiều thông tin về hiện trạng cơ sở vật chất, sự khác
biệt trong phương thức huy động XHHGD liên quan đến trường NTDN ở các địa
phương vùng cao ĐBKK.
Các luận văn chuyên ngành Quản lý giáo dục của Hoàng Văn Khánh 49], Lê
Mã Lương 56], Hoàng Đức Quế [82], Ngô Tiến Sỹ [90] và đặc biệt là công trình
“Mô hình quản lý trường phổ thông dân tộc bán trú ở các xã đặc biệt khó khăn của
tỉnh Hà Giang” của Phạm Huy Trà [113] đã trình bày cụ thể hơn về thực trạng công
tác quản lý các trường NTDN. Dựa trên phương pháp tiếp cận Sư phạm học, tác giả
5


6


Như vậy, có một khoảng trống lớn trong nghiên cứu về vấn đề trường
NTDN. Việc tìm hiểu, phân tích những yếu tố làm nên sự thành công (hoặc chưa
được thành công) của nó cũng chưa được quan tâm đúng mức. Đây chính là hạn chế
lớn về mặt khoa học cho việc định hướng nhân rộng, hoàn thiện loại hình trường
nội trú cấp xã tại các địa bàn miền núi vùng sâu, vùng xa trên cả nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Từ các nguồn tư liệu thành văn và điền dã Dân tộc học, Luận văn bước đầu
đánh giá một số mặt hoạt động của mô hình NTDN ở huyện Yên Minh, tỉnh Hà
Giang.
- Luận văn đóng góp thêm cơ sở khoa học, góp phần nâng cao chất lượng
của mô hình NTDN nói riêng và công tác XHHGD nói chung ở tỉnh Hà Giang.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát, làm rõ bối cảnh ra đời và phát triển của mô hình NTDN trong
giáo dục phổ thông ở huyện Yên Minh.
- Khảo sát thực trạng và đánh giá hiệu quả, yếu tố tác động đối với hoạt động
của mô hình NTDN ở một số trường phổ thông trên địa bàn huyện.
- Đề xuất một số giải pháp và bài học kinh nghiệm có giá trị ứng dụng ở các
địa bàn miền núi vùng sâu, vùng xa khác.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là mô hình NTDN trong giáo dục phổ
thông ở huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: giới hạn không gian nghiên cứu trong địa bàn huyện Yên
Minh, tỉnh Hà Giang, trong đó tập trung vào 6 xã điển hình từng áp dụng mô hình
NTDN là: Sủng Thài, Sủng Cháng, Lao Và Chải, Na Khê, Phú Lũng, Đường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status